Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Hít khói bụi nhiều dễ rối loạn nhịp tim

Tiếp xúc với không khí ô nhiễm làm gia tăng nguy cơ nhịp tim bất thường và hình thành cục máu đông trong phổi, đặc biệt ở những người cao tuổi.

Đây là kết quả vừa được một nhóm nghiên cứu của Trường Vệ sinh và Y học nhiệt đới London (Anh) công bố trên tập san Heart.
Ô nhiễm không khí ngắn hạn liên quan tới chứng loạn nhịp tim và hình thành cục máu đông trong phổi. Ảnh: theguardian
Ô nhiễm không khí ngắn hạn liên quan tới chứng loạn nhịp tim và hình thành cục máu đông trong phổi. Ảnh: theguardian.
Sau khi phân tích dữ liệu tại Anh và xứ Wales từ năm 2003 tới 2009, nhóm tìm kiếm mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí ngắn hạn với các vấn đề sức khỏe tim mạch. Theo đó, ô nhiễm không khí ngắn hạn liên quan tới chứng loạn nhịp tim (hay nhịp tim bất thường) và cục máu đông trong phổi. Ảnh hưởng rõ ràng nhất được tìm thấy ở những người trên 75 tuổi và phụ nữ.
Tiến sĩ Ali Milojevic, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, công trình đã phát hiện một số bằng chứng về tác động của không khí ô nhiễm tới chứng loạn nhịp tim. Tuy vậy, không có bằng chứng rõ ràng về ảnh hưởng của nó tới nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Trước đây đã có nhiều nghiên cứu cho thấy ô nhiễm không khí có thể khiến bệnh tim và các vấn đề tuần hoàn trầm trọng hơn ở những đối tượng dễ tổn thương. Phát hiện mới này một lần nữa củng cố thêm những bằng chứng trên, nhưng nó đi xa hơn ở chỗ chứng minh sự liên quan giữa nguy cơ hình thành cục máu đông trong phổi và loạn nhịp tim với ô nhiễm không khí.
Các chuyên gia khuyến nghị vẫn cần những nghiên cứu chi tiết hơn về vấn đề này, đặc biệt trong xác định các hạt gây ô nhiễm tác động như thế nào tới hệ tim mạch.
7 triệu là số người tử vong năm 2012 do ô nhiễm không khí theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO. Cũng theo báo cáo mà WHO đưa ra, ô nhiễm không khí liên quan tới những vấn đề sức khỏe như bệnh tim mạch, hô hấp và thậm chí cả ung thư. 

Theo Khánh Hà - VnExpress/ BBC

Dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim là bệnh lý nguy hiểm đe dọa đến con người bằng cái chết đến nhanh và đột ngột.

Người bệnh có thể bị rối loạn nhịp tim, ngừng tim, hôn mê sâu hay thậm chí là đột tử. Vì thế, nếu bỏ qua những dấu hiệu báo trước của bệnh, tính mạng bệnh nhân sẽ như “ngàn cân treo sợi tóc”.
Theo thống kê, tại Anh, khoảng 146.000 người nhồi máu cơ tim mỗi năm. Tại Mỹ, đất nước của thức ăn nhanh và bệnh béo phì, một năm có gần 1,5 triệu người xuất viện với chẩn đoán nhồi máu cơ tim, tiêu tốn 150 triệu USD mỗi năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ người bị nhồi máu cơ tim tăng vọt trong những năm gần đây, trung bình năm sau cao hơn năm trước 15 - 20%.
Đối với người trẻ, nhồi máu cơ tim ở nam cao gấp 3 lần nữ giới. Sau tuổi mãn kinh, do không còn sự bảo vệ từ hormone sinh dục nữ, tỷ lệ bệnh giữa nam và nữ cân bằng trở lại.
Biểu hiện điển hình thường gặp ở bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim là có cảm giác đau căng và thắt chặt ở giữa ngực, sau đó lan tỏa đến cánh tay, vai, cổ, răng, hàm, vùng bụng. Triệu chứng đi kèm là tim đập mạnh liên hồi, toát mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mặt tái nhợt, chóng mặt và bất tỉnh.
image001-2949-1401843998.jpg
Rối loạn mỡ máu là nguyên nhân phổ biến gây xơ vữa động mạch, dẫn đến nhồi máu cơ tim
Các dấu hiệu và triệu chứng nhồi máu cơ tim có thể thay đổi tùy theo tuổi, giới, vùng bị tổn thương và các bệnh đi kèm.
Nguy hiểm hơn, có những bệnh nhân gặp phải cơn nhồi máu cơ tim thầm lặng, không có triệu chứng rõ ràng và mệt mỏi không rõ nguyên nhân. Những trường hợp này xảy ra chủ yếu ở người già, phụ nữ hoặc người bị đái tháo đường.
Khi có các biểu hiện triệu chứng trên, nhất là ở người có các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm, người bệnh cần được đưa đi cấp cứu tại các bệnh viện có khoa/đơn vị can thiệp tim mạch để được chẩn đoán và điều trị nhanh nhất.
Nguyên nhân thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là do sự hình thành cục máu đông bên trong lòng mạch máu làm tắc mạch vành này. Với một lòng mạch bình thường, cục máu đông rất khó xuất hiện. Chỉ khi có các yếu tố như cholesterol và các thành phần mỡ máu khác lắng đọng, thành mạch vành mới hình thành các mảng vữa xơ. 
Các mảng vữa này được phủ bên ngoài bởi nội mạc mạch vành đã tổn thương. Khi lớp nội mạc bị bung ra, các thành phần của mảng xơ vữa sẽ tiếp xúc với máu và kích hoạt quá trình hình thành cục máu đông và làm tắc mạch vành. Như vậy, nguồn gốc của vấn đề chính là sự hình thành của các mảng xơ vữa.
Ngoài ra, một số các yếu tố nguy cơ làm tăng sự xuất hiện của mảng xơ vữa là hút thuốc lá, tăng huyết áp, thừa cân béo phì, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, tiền căn gia đình có người mắc các bệnh tim mạch sớm (nam dưới 55 tuổi, nữ dưới 65 tuổi).

Theo TS.BS Nguyễn Hoàng Định - ThS.BS Võ Tuấn Anh - VnExpress

Dấu hiệu sớm của cơn đau tim

Cơn đau tim là một dạng tai biến thường gặp ở người tuổi trung niên và người cao tuổi có một hay nhiều nguy cơ của bệnh tim mạch như: tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng cholesterol máu...

Đối với các bệnh nhân đau tim, thời gian thực sự là vàng. Càng phát hiện sớm các biểu hiện của cơn đau tim và điều trị kịp thời, hiệu quả sẽ càng cao và nguy cơ tử vong càng giảm.
Cơn đau tim xảy ra khi có một hoặc nhiều mạch máu đến nuôi tim bị tắc nghẽn đột ngột. Sự tắc nghẽn mạch máu này khiến việc nuôi dưỡng tế bào cơ tim bị sút giảm trầm trọng có thể dẫn đến chết tế bào cơ tim. Những tế bào cơ tim bị chết này không tham gia được việc dẫn truyền điện tim và co bóp của cơ tim. Tổn thương tế bào cơ tim với số lượng lớn hay tại một số vị trí đặc biệt có thể làm tim ngừng đập. 
Trong những trường hợp này, việc sơ cứu ban đầu là rất cần thiết để cứu sống người bệnh. Sự hiểu biết về những triệu chứng của cơn đau tim cũng như dấu hiệu tim ngừng đập là rất quan trọng có thể giúp đỡ được cho người thân và bạn bè.
Dấu hiệu sớm của cơn đau tim
Phát hiện sớm cơn đau tim sẽ giúp tăng hiệu quả điều trị. Ảnh: TL
Các dấu hiệu sớm của cơn đau tim
Cơn đau tim thường thể hiện một cách rất tinh tế, với biểu hiện đau hoặc khó chịu ở ngực. Triệu chứng đau ngực thường rất mơ hồ, mờ nhạt và được người bệnh mô tả như cảm giác nằng nặng, tưng tức hoặc co thắt ở ngực. Trong một số trường hợp, cảm giác đau hoặc khó chịu ở ngực có thể lan tới tận cổ, lưng, hàm, tay và vai.
Các cơn đau tim xuất hiện nhiều nhất vào khoảng 4 - 10 giờ sáng, thời điểm mà tuyến thượng thận giải phóng vào máu một lượng lớn adrenaline. Khoảng ¼ các cơn đau tim diễn ra một cách thầm lặng, không có biểu hiện đau ngực. Ở bệnh nhân đái tháo đường, tỷ lệ cơn đau tim thầm lặng có thể còn cao hơn nhiều.
Ngoài triệu chứng đau ngực, người bệnh có thể cảm thấy: đột nhiên bị tê hoặc yếu ở mặt, cánh tay hoặc chân, nhất là nếu chúng xuất hiện ở cùng một bên; đột nhiên bị lẫn, không nói được hoặc không hiểu điều người khác nói; nhìn mờ ở một hoặc cả 2 mắt; không bước đi được, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc mất khả năng thực hiện các động tác; đột nhiên bị đau đầu dữ dội, không rõ lý do; bị ợ, buồn nôn hoặc nôn, khó thở, đổ mồ hôi, mệt lả, thậm chí là ngất (những triệu chứng này có thể tồn tại dai dẳng hoặc lúc có lúc không).
Khi người thân hoặc những người bên cạnh mình có những dấu hiệu này, cần xử trí nhanh chóng, nhận biết rõ các triệu chứng và bình tĩnh kiểm soát tình huống.
- Đặt bệnh nhân ngồi hoặc nằm xuống ở tư thế thoải mái.
- Nới rộng quần áo và không cho phép bệnh nhân cử động.
Sau đó cần nhanh chóng gọi ngay số điện thoại trung tâm cấp cứu. Nếu bệnh nhân đã từng bị đau tim thì người này thường mang theo thuốc ngậm dưới lưỡi - một loại thuốc giúp làm giãn mạch máu nuôi tim, tăng cường cung máu cho tim. Bạn nên hỏi bệnh nhân có mang thuốc này theo hay không và lấy hộ thuốc cho bệnh nhân, không nên để bệnh nhân tự đi tìm thuốc. Giúp ổn định tâm lý bệnh nhân trong lúc chờ xe cứu thương đến.
Chuẩn bị sẵn sàng hô hấp nhân tạo xoa bóp tim ngoài lồng ngực.

Theo BS Đinh Văn Minh - Sức khỏe và Đời sống

10 dấu hiệu của huyết áp thấp

Nếu huyết áp của bạn rất thấp, cơ thể sẽ không nhận được lượng oxy dồi dào để thực hiện chức năng bình thường.

Khi dòng chảy của máu đến các cơ quan không đủ sẽ hình thành những dấu hiệu của huyết áp thấp. Huyết áp 90/60 hoặc thấp hơn thì được gọi là huyết áp thấp. Dưới đây là một số dấu hiệu của huyết áp thấp, bạn cần hiểu rõ:
Chóng mặt
Một trong những dấu hiệu của huyết áp thấp là khi bệnh nhân bắt đầu cảm thấy chóng mặt. Bạn bắt đầu nhìn thấy những vòng xoáy xung quanh một cách không kiểm soát được.
Ảnh: boldsky
Chóng quên
Hay quên là một dấu hiệu của huyết áp thấp. Bạn bắt đầu quên đi những điều vừa mới diễn ra chỉ một phút trước.

Đứng không vững
Tay chân của bạn bắt đầu bị tê cóng và một làn sóng lạnh đi qua cơ thể của bạn. Trong trường hợp như thế này, biện pháp khắc phục huyết áp thấp là uống nước ấm để tạo ra nhiệt trong cơ thể.

Nhìn mờ đột ngột
Đây có thể là một mối đe dọa thực sự nếu bạn đang di chuyển hoặc trên đường đi. Trong trường hợp như thế này, biện pháp khắc phục duy nhất cho huyết áp thấp là ngồi xuống và nghỉ ngơi, cho đến khi khỏe trở lại.

Ốm yếu
Một dấu hiệu của huyết áp thấp là cảm thấy ốm yếu. Bệnh nhân bị tình trạng này bắt đầu run rẩy.
Mệt mỏi
Mệt mỏi và không có khả năng di chuyển là một dấu hiệu của huyết áp thấp. Trong trường hợp này, ăn trái cây tươi sẽ giúp ổn định cơ thể của bạn.

Cảm giác buồn nôn
Cảm giác ghê cổ là một dấu hiệu của huyết áp thấp. Các biện pháp khắc phục duy nhất cho điều này là uống nước chanh để kiềm chế cảm giác buồn nôn.

Nổi da gà
Bạn bắt đầu cảm thấy lạnh và run lên. Lý do duy nhất cho điều này là cơ thể không nhận được lượng máu đủ.

Ngất xỉu
Ngất xỉu là một dấu hiệu của huyết áp thấp. Nó thường xảy ra sau khi chóng mặt và bất ổn trong cơ thể.

Da nhợt nhạt
Da của bạn bắt đầu nhợt nhạt và lạnh do dòng chảy bất thường của máu khắp cơ thể. Đây là một trong những dấu hiệu mới nhất và cấp bách của huyết áp thấp.
Theo Quỳnh Trang - VnExpress/boldsky

Phòng tụt huyết áp thể đứng ở người cao tuổi

Tụt huyết áp thể đứng ở người cao tuổi (NCT) là một bệnh hay gặp khi đứng lên từ tư thế ngồi hoặc nằm và rất nguy hiểm vì dễ làm bệnh nhân ngã bất thình lình.

Phòng tụt huyết áp thể đứng ở người cao tuổi
Khi bị tụt huyết áp gây nên những hậu quả xấu (ngất xỉu,gãy xương, đột quỵ, nhũn não). Tuy vậy, tụt huyết áp thể đứng có thể phòng ngừa được.
Nguyên nhân gây tụt huyết áp thể đứng
Huyết áp tức là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch (được gọi là huyết áp động mạch). Khi tim co bóp, máu sẽ được đẩy đi và ép vào thành của động mạch làm cho thành động mạch căng ra và được gọi huyết áp tâm thu (huyết áp cao nhất). 
Sau khi co bóp, tim sẽ giãn ra và khi đó thành động mạch sẽ co lại về trạng thái ban đầu, số đo ở thời điểm này là huyết áp tâm trương (huyết áp thấp nhất). Ở người bình thường chỉ số huyết áp mục tiêu là 120/80mmHg.
Khi huyết áp ≥ 140/90mmHg được gọi là tăng huyết áp, khi huyết áp dưới 100/80mmHg, được gọi là huyết áp thấp và khi huyết áp dưới 90/60mmHg được gọi là tụt huyết áp. Như vậy, huyết áp thấp khác với tụt huyết áp.
Có hai loại huyết áp thấp, sinh lý và bệnh lý (tụt huyết áp). Huyết áp thấp sinh lý thường gặp ở những người khỏe mạnh với đặc điểm huyết áp thấp duy trì trong suốt cuộc đời, có thể do thể trạng, do ở vùng núi cao (để thích nghi với sự thiếu oxy do loãng không khí trường diễn) hoặc do di truyền.
Vì vậy, huyết áp thấp sinh lý thường khó phát hiện được những biến đổi khác thường khi chẩn đoán lâm sàng cũng như xét nghiệm hoặc cận lâm sàng. Huyết áp thấp bệnh lý có 2 loại, tụt huyết áp thể đứng cấp tính và mãn tính.
Tụt huyết áp thể đứng cấp tính thường biểu hiện hoa mắt chóng mặt, vã mồ hôi, rất mệt, đánh trống ngực, đôi khi bị ngất xỉu và đôi khi chỉ thoáng qua. 
Tụt huyết áp thể đứng cấp tính có thể do xuất huyết (dưới da, niêm mạc, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục), do dùng thuốc hạ huyết áp quá liều, do hạ đường huyết (đường huyết dưới 2,5mmol/l), do chấn thương chảy máu nhiều, do mất nước (tiêu chảy, sốt).
Riêng với tụt huyết áp thể đứng mãn tính có thể là nguyên phát do giảm trương lực thần kinh - mạch máu, do thiếu máu, mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng huyết) hoặc nhiễm trùng mãn tính (viêm họng mãn, viêm loét dạ dày - tá tràng, viêm đường mật, sâu răng, viêm lợi...) hoặc do sau ngộ độc thức ăn, ngộ độc độc tố của vi khuẩn và các chất độc trong phân (NCT bị táo bón kéo dài). 
Ngoài ra, tụt huyết áp thể đứng ở NCT còn có thể do rối loạn chức năng tuyến thượng thận (bệnh Addison), bệnh tuyến yên hoặc bệnh tuyến giáp làm cho NCT thiếu hụt hóc - môn hoặc do giảm đường huyết (glucoza huyết).
Giảm đường huyết ở NCT có thể do ăn thiếu bữa, thiếu số lượng tinh bột (cơm, bánh mì), do suy dinh dưỡng, lười uống nước, ít ăn rau, quả hoặc dùng thuốc hạ đường huyết trong bệnh đái tháo đường. 
Bởi vì, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, ăn uống kém hoặc do ốm yếu nằm lâu ngày, ít vận động sẽ ảnh hưởng đến trương lực cơ tim, trương lực thành mạch, từ đó sẽ làm giảm lưu lượng máu đến nuôi dưỡng các cơ quan, đặc biệt là tim và não bộ gây nên hiện tượng tụt huyết áp khi đứng dậy từ ngồi hoặc nằm.
Tụt huyết áp thể đứng ở NCT cũng có thể do tác động của chấn thương tâm lý liên tục (stress), hoặc có thể do thiếu hụt hemoglobin (nếu thấp dưới 9g/dl sẽ làm cho lượng oxy vận chuyển tới não bộ và tim bị giảm). Một số NCT tụt huyết áp thể đứng do dùng một số thuốc ảnh hưởng đến huyết áp như là thuốc lợi tiểu, thuốc chữa cao huyết áp, thuốc chữa bệnh tim mạch, thuốc chữa bệnh Parkinson...
Nhận biết tụt huyết áp thể đứng
Muốn biết NCT có bị tụt huyết áp thể đứng hay không thì chỉ cần đo huyết áp. Để biết chính xác chỉ số huyết áp thì cần để bệnh nhân nằm nghỉ khoảng 20 phút rồi đo huyết áp ở tư thế nằm. Sau đó cho bệnh nhân đứng dậy.
Sau khi đứng từ 5 - 10 phút sẽ đo huyết áp ở tư thế này. Nếu thấy huyết áp tâm thu tụt xuống ≥ 20mmHg so với huyết áp khi nằm là có thể gọi tụt huyết áp thể đứng. Nên kiểm tra huyết áp vào những thời điểm huyết áp thường thấp nhất như buổi tối trước khi đi ngủ, buổi chiều tối hoặc sau khi vừa ăn xong.
Triệu chứng của tụt huyết áp thể đứng cấp tính thường có hoa mắt, chóng mặt trong vài giây, thậm chí ngất xỉu. 
Triệu chứng của tụt huyết áp mãn tính thường có đau đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tim mạch (đau ngực trái, rối loạn nhịp tim, điện tim biến đổi...), mệt mỏi, rất muốn nghỉ ngơi, lười hoạt động, lười suy nghĩ, thiếu tập trung tư tưởng, chóng quên. Đôi khi cảm giác buồn nôn, vã mồ hôi nhưng vẫn thấy lạnh. 
Ngoài ra, tụt huyết áp tư thế mạn tính ở NCT có thể làm giảm khả năng tình dục vốn dĩ đã suy giảm. Một số xuất hiện tình trạng rụng tóc. Để chẩn đoán tụt huyết áp thể đứng cần làm xét nghiệm máu, điện tim, siêu âm tim, kiểm tra sức khỏe tim, trong đó người bệnh sẽ được thực hiện các hoạt động như đi bộ trên máy, để làm sao cho tim hoạt động mạnh hơn.
LỜI KHUYÊN CỦA THẦY THUỐC
Để phòng tụt huyết áp thể đứng, NCT nên có chế độ ăn uống hợp lý, không nên bỏ bữa và uống đủ lượng nước hàng ngày. Nên ăn nhiều rau trong các bữa ăn chính. Ngoài ra nên ăn các loại quả để tăng vi chất cần thiết và bổ sung thêm lượng nước. 
Có thể uống cà phê và trà vào các buổi sáng. Nên vận động cơ thể, không nên ngồi lâu một chỗ. Hình thức vận động cơ thể tùy theo điều kiện và tùy theo sức khỏe của từng người. 
NCT bị tụt huyết áp thể đứng cần được khám bệnh để được điều trị, tư vấn của bác sĩ và thay đổi các loại thuốc đang dùng làm tụt huyết áp. Cần ngủ đủ thời gian cần thiết trong ngày (từ 7 - 8 giờ), đặc biệt chú ý đến chất lượng của giấc ngủ.


Theo PGS.TS. Bùi Khắc Hậu - Sức khỏe và Đời sống

Biết huyết áp của chính mình

Khoảng 1,8 tỉ người trên toàn cầu đang bị tăng huyết áp và 50% trong số đó không biết gì về tình trạng của mình, một số nếu có biết lại không điều trị.

Đo huyết áp là phương pháp đơn giản và duy nhất để phát hiện tăng huyết áp - Ảnh: T.T.D.

Hiện khoảng 11 triệu người Việt Nam cao huyết áp và hơn một nửa không biết mình mắc bệnh. Sau đây là một số vấn đề thường thức liên quan đến cao huyết áp mà mọi người nên biết:
1. Tăng huyết áp là gì?
Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) ≥ 90mmHg.
2. Huyết áp bao nhiêu là bình thường?
- Trị số huyết áp phụ thuộc vào áp lực bơm máu của tim, sức co giãn của thành mạch máu và lượng máu trong cơ thể.
- Trị số huyết áp bình thường dao động từ 90/50-139/89mmHg (là trị số huyết áp tâm thu/huyết áp tâm trương) và thay đổi thường xuyên tùy các trạng thái thời gian, hoạt động thể lực và cảm xúc.
3. Làm thế nào phát hiện bị tăng huyết áp?
Đo huyết áp là phương pháp đơn giản và duy nhất để phát hiện tăng huyết áp.
Huyết áp kế thủy ngân là loại huyết áp chính xác nhất, huyết áp kế đồng hồ và huyết áp kế điện tử sau quá trình sử dụng phải được định kỳ kiểm tra và hiệu chỉnh lại.
Trong các loại huyết áp kế điện tử dành cho người bệnh tự theo dõi ở nhà, có các máy đo cổ tay và đo cánh tay... Nên so sánh kết quả đo từ huyết áp kế điện tử với huyết áp kế đồng hồ hoặc huyết áp kế thủy ngân xem có tương đương không.
Trong thời gian sử dụng cũng phải kiểm tra pin định kỳ. Không làm máy rơi rớt hay va đập mạnh, không làm ướt máy. Nếu không dùng trong một thời gian dài phải tháo pin ra, cất máy nơi khô mát.
4. Làm gì trước khi đo huyết áp?
- Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5-10 phút trước khi đo huyết áp.
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đó hai giờ.
5. Tự theo dõi huyết áp ra sao?
Nên ghi lại ngày giờ và kết quả đo, gồm: huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa, thường là số đo đầu tiên); huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu, thường là số đo thứ hai) và nhịp tim (mạch, thường có biểu tượng trái tim trên máy).
Không nên đo quá nhiều lần trong ngày nếu không cần thiết. Có thể đo vào mỗi sáng hay tối; hoặc đo khi có triệu chứng bất thường như chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, mệt...
6. Tư thế đo huyết áp đúng?
- Tư thế đo chuẩn: người được đo huyết áp ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Ngoài ra, có thể đo ở các tư thế nằm, đứng. Người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường nên đo thêm huyết áp tư thế đứng nhằm xác định có hạ huyết áp tư thế hay không.
- Bề dài bao đo (nằm trong băng quấn) tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay. Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm.
- Lần đo đầu tiên cần đo huyết áp ở cả hai cánh tay, tay nào có con số huyết áp cao hơn sẽ dùng để theo dõi huyết áp về sau.
- Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút. Nếu số đo huyết áp giữa hai lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Giá trị huyết áp ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng.
- Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg.
7. Khi nào phải gặp bác sĩ ngay?
- Kết quả đo không phù hợp với triệu chứng hiện có. Chẳng hạn như bệnh nhân chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn... nhưng kết quả vẫn bình thường.
- Kết quả đo được quá cao hay quá thấp.
Với người đang có bệnh huyết áp, không nên tự đo rồi tự uống hay ngưng thuốc mà không đi tái khám trong thời gian dài, ngay cả khi kết quả cho thấy huyết áp ổn định.
8. Để có cuộc sống khỏe mạnh?
Theo khuyến cáo của châu Âu về phòng chống các bệnh tim mạch, trong đó có tăng huyết áp, người ta đưa ra con số nên nhớ là 035140530.
- 0: Không thuốc lá.
- 3: Đi bộ 3 km hoặc 30 phút đối với tất cả hoạt động vừa phải trong ngày.
- 5: Ăn 5 cữ rau và trái cây mỗi ngày.
- 140: Huyết áp tối đa duy trì dưới 140 mmHg.
- 5: Cholesterol máu toàn phần dưới 5mmol/L.
- 3: LDL-cholesterol máu dưới 3mmol/L.
- 0: Không bị thừa cân hoặc đái tháo đường.

Theo BS Lý Huy Khanh - Tuổi trẻ

Cholesterol cao, bạn đồng hành của ung thư

Cholesterol xấu chính là bạn đồng minh giúp cho tế bào ung thư tiến triển và di căn nhanh khối u trong cơ thể.

Từ lâu, y học đã khám phá nhiều bí mật của cholesterol, ở cả chiều tốt lẫn xấu mà người ta quen gọi là mỡ máu.
Mới đây, các chuyên gia ở ĐH Sydney Australia (UoS) còn phát hiện thấy cholesterol xấu chính là bạn đồng minh giúp cho tế bào ung thư tiến triển và di căn nhanh khối u trong cơ thể. Còn cholesterol tốt lại có cơ chế ngược lại, nghĩa là cầm chân tế bào ung thư không cho nó phát triển.
Vì vậy, những người có hàm lượng cholesterol xấu cao, nhất là nhóm người đã mắc bệnh thì mức độ di căn của tế bào ung thư tiến triển nhanh hơn, tác dụng của thuốc và các liệu pháp chữa trị sẽ bị giảm mạnh.
Theo GS Thomas Grewal, trưởng nhóm nghiên cứu, hầu hết các tế bào của cơ thể đều có mối quan hệ mật thiết với các tế bào xung quanh nhờ sự hỗ trợ của các phân tử Velcro trên bề mặt của chúng, được gọi là intergrins, nhưng chính các intergrins này lại cũng giúp các tế bào ung thư tách ra khỏi khối u và lang thang đi khắp cơ thể.
Trong trường hợp này cholesterol xấu cao, nó sẽ giúp cho các intergrins di chuyển nhanh, thậm chí chúng còn "buôn lậu" các intergrins này và cuối cùng làm cho bệnh tình thêm trầm trọng.
Ở chiều ngược lại, các cholesterol tốt lại có tác dụng giữ chân không cho các intergrins vượt rào, giữ nguyên trong trong tế bào ung thư nên khối u không thể di căn được.
Cholesterol là một trong những lipid quan trọng của cơ thể, rất cần để giám sát intergrins trên bề mặt tế bào ung thư. Tuy nhiên, cơ chế đích thực của cholesterol trong việc hạn chế lẫn giúp ung thư di căn, thậm chí cả nguồn gốc của nó đến nay khoa học vẫn chưa hiểu hết.
Với phát hiện nói trên, khoa học hiểu sâu thêm những mặt trái của cholestrol, vì vậy mọi người kể cả bệnh nhân ung thư cần kiểm soát chặt chẽ cholestrol toàn phần, nhất là cholesterol xấu để hạn chế nguy cơ tăng bệnh, nhất là di căn của khối u.

Theo Nông nghiệp Việt Nam

Lý giải nguyên nhân dầu olive có thể giúp hạ huyết áp

Các nhà khoa học mới đây đã công bố một công trình nghiên cứu khoa học trong đó đưa ra nhận định dầu olive, thường xuất hiện trong thực đơn vùng Địa Trung Hải, có thể giúp hạ huyết áp.

Trong công trình nghiên cứu đăng trên một tạp chí khoa học của Mỹ số ra ngày 19/5, các nhà khoa học cho rằng các loại chất béo chưa bão hòa có nhiều trong dầu olive khi kết hợp cùng với một số loại rau tươi có thể tạo ra một loại acid béo giúp hạ huyết áp.

Theo các nhà khoa học, các cuộc thử nghiệm trên chuột cho thấy các acid béo nitro sẽ được hình thành khi ăn cải bó xôi, cần tây và cà rốt chứa nhiều chất nitrate và nitrite, cùng với các loại thực phẩm giàu chất béo chưa bão hòa như quả bơ, quả hạch và dầu olive. Đây là loại acid có khả năng kiềm chế hydrolase enzyme hòa tan đóng vai trò quy định chỉ số huyết áp.

Một nhà khoa học cho rằng những phát hiện trên giúp giải thích tại sao thực đơn vùng Địa Trung Hải gồm nhiều rau, cá, ngũ cốc, rượu vang đỏ cùng với các loại thực phẩm giàu chất béo như quả hạch và dầu olive có thể giảm nguy cơ mắc các căn bệnh liên quan đến mạch máu như đột quỵ, suy tim và các cơn nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, trong giới khoa học vẫn chưa có nhiều ý kiến đồng tình với kết luận trên.

Trước đó, trong một thời gian dài đã có quan niệm cho rằng rượu vang đỏ là thực phẩm có khả năng giúp kéo dài tuổi thọ và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

Tuy nhiên, mới đây, một công trình nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ đã đảo ngược quan niệm trên khi nói rằng rượu vang đỏ không đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như mọi người thường nghĩ.

Theo Vietnamplus

Cách xử trí cơn tăng huyết áp cấp tính

ThS. Đỗ Kim Bảng (Viện Tim mạch Quốc gia) cho biết, tăng huyết áp là một bệnh rất thường gặp. Khi người bệnh bị tăng huyết áp cấp tính cần phải hạ huyết áp xuống tức thì để tránh tổn thương.


Cách xử trí cơn tăng huyết áp cấp tính
 

Nguyên tắc xử trí cơn tăng huyết áp là phải: Xử trí khẩn trương, theo dõi sát. Bệnh nhân phải được nhập viện và theo dõi tại bệnh viện có chuyên khoa tim mạch và cấp cứu; Dùng các thuốc hạ huyết áp đường truyền tĩnh mạch. Việc lựa chọn thuốc cụ thể tùy từng trường hợp có liên quan đến các bệnh kèm theo và các tổn thương cơ quan đích của bệnh nhân, theo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Mức độ hạ huyết áp tùy từng trường hợp cụ thể.

Trong các trường hợp tăng huyết áp cấp cứu, cần được điều trị giảm huyết áp nhanh chóng, nhưng không cần trở về bình thường ngay, nhất là ở những bệnh nhân bị tai biến mạch não kèm theo. Trường hợp bệnh nhân bị tách thành động mạch chủ cần đưa huyết áp xuống mức thấp nhất có thể. 

Sau khi qua cơn tăng huyết áp cấp cứu, bệnh nhân cần tiếp tục theo dõi và điều trị tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ, bệnh nhân cần được đánh giá lại tình trạng toàn thân, các tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ kèm theo để được theo dõi, tư vấn và điều trị lâu dài, tránh các biến chứng.

Theo ThS. Đỗ Kim Bảng, khi bị tăng huyết áp nếu không được theo dõi điều trị tốt có khá nhiều biến chứng làm ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe sau này của bệnh nhân.  Vì vậy, khi xảy ra cơn tăng huyết áp cấp tính, bệnh nhân cần được nhập viện cấp cứu và được theo dõi, điều trị tại bệnh khoa chuyên ngành tim mạch. Sau khi đã qua tình trạng cấp cứu bệnh nhân vẫn cần được theo dõi, điều trị lâu dài và cần được tư vấn, giáo dục để đề phòng các biến chứng sau này.
AloBacsi.vn
Theo VnMedia

Những điều phụ nữ cần chú ý về bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch rất nguy hiểm và phụ nữ thường bỏ qua những triệu chứng báo hiệu bệnh tim mạch vì nghĩ rằng đó là do mãn kinh hoặc căng thẳng.




Sau đây là một số vấn đề phụ nữ cần chú ý:

Các triệu chứng báo động thường xuất hiện vài tuần trước khi có cơn đau tim thật sự. Các triệu chứng nặng ngực hoặc đau thắt ngực cấp thường gặp trong cơn đau tim là dấu hiệu của một hoặc nhiều mạch máu nuôi tim bị tắc.

Tuy nhiên, khi so sánh với nam giới thì triệu chứng ở nữ giới lại thường không điển hình. Đôi khi chỉ là mệt, thở nhanh khi đi bộ hoặc leo cầu thang hay buồn nôn, khó tiêu và đau lưng.
Xác định nguyên nhân gây bệnh tim mạch dễ hơn bạn nghĩ. Thông thường, các nguyên nhân gây bệnh tim mạch là do tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, béo phì, tuổi trên 55, tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm, tiền sử bản thân đã mắc bệnh tim mạch hay mãn kinh...
Nhiễm trùng răng miệng có nguy cơ gây bệnh tim mạch. Đánh răng đều đặn và dùng chỉ nha khoa là việc nên có trong danh sách những việc cần làm trong ngày.
Theo Hiệp hội Nha chu Hoa Kỳ, những người lười đánh răng và có bệnh nha chu thì bệnh mạch vành tăng gấp đôi so với số còn lại. Vi khuẩn từ nhiễm trùng răng miệng đi vào máu và gắn vào các mảng xơ vữa trong tim, hình thành các khối sùi nhiễm trùng.
Mảng xơ vữa có thể được giảm đi. Khi giảm lượng LDL cholesterol xuống thấp có thể làm thoái triển mảng xơ vữa. LDL có thể được giảm 1 phần bằng chế độ ăn và tập luyện.
Ngoài ra, có thể kết hợp dùng thuốc ở người có bệnh tim hoặc người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao. Do đó, khi bước chân vào siêu thị nên tập trung vào các sản phẩm không chứa transfat (loại mỡ xấu có thể gây tắc mạch) và mạnh dạn nói không với các món heo quay, vịt quay, kem, khoai tây chiên, món trộn khoai tây, bánh ngọt...
Thế nào gọi là mức cholesterol lý tưởng? Theo hướng dẫn năm 2011 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, ở phụ nữ khỏe mạnh không bị bệnh tim, mức cholesterol lý tưởng là: LDL <100mg/dL, HDL >50mg/dL, Triglyceride <150 mg/dL và non-HDL cholesterol (cholesterol toàn phần trừ đi HDL) <130 mg/dL. Nếu có bệnh tim hoặc có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao, mức LDL có thể phải thấp <70 mg/dL và bác sĩ sẽ tư vấn phải thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc.
Ở phụ nữ tăng cholesterol hoặc Triglyceride trong máu thì có thể ăn cá hoặc dùng thuốc dạng viên Omega-3 (EPA 1.800mg/ngày) trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát bệnh tim mạch.
Chế độ ăn. Chỉ ăn vừa đủ, không quá no: Nhiều người trong chúng ta vẫn tiếp tục ăn khi đã thấy no, điều này dẫn đến thừa cân và béo phì. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh tim mạch lớn nhất vì nó thúc đẩy các nguy cơ khác như tăng huyết áp, tiểu đường và tăng LDL. Vì vậy, hãy ngừng ăn khi thấy no, điều này còn làm giảm đau khớp háng, vai và gối mà người béo phì thường mắc phải.
Hãy ăn cơm nhà thường hơn là ăn cơm tiệm: Đơn giản là khi ăn ở ngoài bạn sẽ không thể kiểm soát được lượng mỡ, bơ, đường và muối trong thức ăn. Và cho dù là ăn ở đâu thì bạn hãy luôn nhớ hạn chế thức ăn béo, đường và muối.
Ví dụ, thay vì trước kia dùng 3 muỗng đường vào tách cà phê buổi sáng thì giờ đây chỉ dùng 1 muỗng hoặc tăng phần canh, rau, salad trộn vào bữa ăn trưa và giảm ăn thịt, mỡ.
Chế độ ăn kiểu "Địa Trung Hải" sẽ tăng thêm tuổi thọ: Nếu thường xuyên ăn nhiều rau, trái cây, chất xơ, cá... là bạn đã tạo cho mình cơ hội giảm thấp tỷ lệ mắc các bệnh về tim mạch. Hãy ăn món cá hấp, cà chua, dưa leo hay salad trộn thường xuyên.
Hãy vận động và giảm cân mọi lúc mọi nơi. Phụ nữ được khuyên giảm cân và hạn chế năng lượng hấp thu vào cơ thể, giữ chỉ số chiều cao/cân nặng <25kg/m2.
Khi bạn ít vận động và không tập thể dục là bạn đã làm mất đi nhiều cơ hội làm cho cơ thể khỏe mạnh, nhất là tình trạng tim mạch, sự dẻo dai và kiểm soát cân nặng. Không vận động là một trong những thủ phạm chính làm tích tụ mỡ ở các cơ quan nội tạng và làm tổn thương tim.
Hãy vận động bất cứ khi nào có thể, như đi thang bộ thay vì thang máy, đậu xe ở xa và đi bộ vào nơi làm việc, đi bộ quanh nhà sau bữa tối hoặc có thể vừa đạp xe thể dục trong nhà vừa xem tin tức trên tivi vào buổi tối...
Thời gian phụ nữ được khuyên tập thể dục gắng sức trung bình là 150 phút/tuần, gắng sức nặng 75 phút/tuần, hoặc phối hợp cả hai. Tập thể dục nhịp điệu ít nhất 10 phút mỗi ngày.
Thuốc lá rất có hại cho động mạch. Thuốc lá làm gia tăng tình trạng viêm và oxy hóa, làm giảm mỡ tốt, tăng mỡ xấu nên làm động mạch yếu, đồng thời dễ tạo cục máu đông và tăng huyết áp.
Hãy xem xét những tác hại từ việc hút thuốc lá có thể gây ra cho gia đình và bạn bè. Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ: Hút thuốc lá thụ động gây ra 22.700 - 69.600 cái chết trẻ mỗi năm do bệnh tim và mạch máu.

Theo Doanh nhân Sài Gòn


Người huyết áp cao nên "kiêng" gì?

Bệnh cao huyết áp là một trong những bệnh phổ biến nhất trên thế giới. Tăng huyêt áp gây ra những chứng bệnh về tim, não, thận… tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân quan trọng dẫn đến bệnh tăng huyết áp chính là một số thói quen không tốt trong cuộc sống sinh hoạt của chúng ra, rất cần sự quan tâm của mọi người.

Dưới dây là một số điều kiêng kỵ trong ăn uống đối với người bị bệnh tăng huyết áp:

Không nên ăn mặn: Trong muối ăn có natri làm tiết ra nhiều dịch tế bào, dẫn đến tim đập nhanh và tăng huyết áp. Do vậy, ngươi bị bệnh tăng huyết áp nên kiêng ăn mặn.

Tránh thức ăn cay và thức ăn tinh: Thức ăn có vị cay hoặc thức ăn tinh bột (bột mỳ, các loại bánh ngọt…) đều làm cho việc đại tiện khó khăn, dẫn đến táo bón. Khi đại tiện khó khăn, huyết áp sẽ tăng, từ đó có nguy cơ xuất huyết não.

Không ăn phủ tạng động vật: Người bị bệnh tăng huyết áp không nên ăn các loại phủ tạng động vật (gan, tim, bầu dục, ruột non…) bởi các thức ăn này rất giàu cholesterol, làm tăng huyết áp. Mặt khác, trong quá trình trao đổi của cơ thể, các thức ăn này sẽ sản sinh ra một chất làm huyết áp bất ổn. Vì vậy, bữa ăn hàng ngày nên chọn các loại thức ăn như rau quả, cá và đậu phụ…

Hạn chế thức ăn nhiều năng lượngThức ăn chứa nhiều năng lượng như đường glucô, đương mía, chocolate…sẽ dẫn đến béo phì. Tỷ lệ người béo phì bị tăng huyết áp nhiều hơn so với người có huyết áp ở mức ổn định. Do đó, người cao huyết áp nên hạn chế ăn những thức ăn nhiều năng lượng.

Tránh ăn nhiều mỡ: Ăn nhiều thực phẩm chiên rán và thịt mỡ làm cho hàm lượng mỡ trong máu tăng cao, từ đó khiến động mạch xơ cứng, gây tăng huyết áp. Do đó, người bệnh nên tránh ăn thức ăn này.

Không nên ăn nhiều thịt gà: Thịt gà có thành phần dinh dưỡng cao, ăn nhiều sẽ khiến cho cholesterol và tăng huyết áp. Do đó, không nên cho rằng thịt gà là thứ bổ dưỡng cho mọi người bệnh, đặc biệt là người bị bệnh tăng huyết áp cần hạn chế sử dụng.

Không uống rượu: Uống rượu làm cho tim đập nhanh, mạch máu co lại, huyết áp tăng và làm cho muối canxi đọng lại ở thành mạch, gây xơ cứng động mạch. Uống rượu lâu ngày càng dễ dẫn đến xơ cứng động mạch và huyết áp tăng cao. Vì vậy, người bị bệnh tăng huyết áp nên tránh uống rượu.

Không nên uống trà đặc: Tăng huyết ap nên tránh uống trà đặc vì trong trà đặc chứa nhiều chất kiểm, có thể làm cho đại não hưng phấn, tinh thần bất an, mất ngủ, tim đập loạn nhịp và tăng huyết áp. Trái lại, uống chè xanh lại có lợi cho việc điều trị bệnh tăng huyết áp.

Hạn chế cà phê: Cà phê hoặc các sản phẩm từ cà phê có chứa chất kích thích. Caffeine có trong cà phên gây co mạch, tăng áp lực của dòng máu, khiến huyết áp tăng.

Thực phẩm đóng hộp: Muốn giảm huyết áp người bệnh cần phải giảm các loại đồ ăn đóng hộp.

Ảnh minh họa
Người tăng huyết áp không nên uống rượu bia. Ảnh minh họa.
Một số thực phẩm giúp giảm huyết áp tự nhiên 
Cần tây: Y học cổ truyền đã sử dụng cần tây trong điều trị tăng huyết áp từ xa xưa. dùng thứ càng tươi càng tốt, rửa thật sạch, giã nát rồi ép lấy nước (nếu có máy ép thì càng tốt), chế thêm một chút mật ong, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 40ml.  
Tỏi: Tỏi là một thứ thuốc diệu kỳ cho tim. Nó có tác dụng có lợi trên hệ tim mạch bao gồm huyết áp. Tỏi có công dụng hạ mỡ máu và hạ huyết áp. 
Hành tây: Trong thành phần không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng huyết áp của Catecholamine, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối Natri trong cơ thể nên làm giảm huyết áp. 

Đậu: 
Đậu Hà Lan và đậu xanh là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người tăng huyết áp. 
Bên cạnh đó, các loại quả như táo, lê, dưa chuột, nho, cà chua... là những loại quả rất tốt cho người người bị bệnh tăng huyết áp.
Rau gia vị: Gia vị như thì là, hạt thì là, kinh giới (họ bạc hà), tiêu đen, húng quế, gừng,... có chứa những hoạt chất có lợi cho huyết áp. Tùy món ăn, hãy chú ý lựa chọn loại thực phẩm và chế biến để vừa hợp khẩu vị lại vừa có lợi nhất cho sức khỏe tim mạch.
  
Ngoài ra, các chuyên gia khuyến cáo người bị huyết áp cao nên tập luyện thường xuyên, hạn chế cà phê, giảm stress, uống nhiều nước

Theo VnMedia

90% bệnh nhân cao huyết áp không phát hiện ra nguyên nhân

Tăng huyết áp đang trở thành vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh chóng trong cộng đồng.

Theo GS.TS  Nguyễn Lân Việt, nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch, Giám đốc Ban quản lý dự án phòng chống tăng huyết áp, thời gian gần đây, tăng huyết áp đang trở thành vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh chóng trong cộng đồng.

Theo điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Việt Nam tại 8 tỉnh-thành phố, tỷ lệ tăng huyết áp của người dân từ 25 tuổi trở lên đã chiếm 25,1%

Tuy nhiên, khoảng 90% các bệnh nhân bị tăng huyết áp hiện vẫn không 

Tại buổi khám, tư vấn miễn phí và giáo dục cộng đồng cho người dân về phòng, chống tăng huyết áp do Viện Tim mạch Việt Nam phối hợp với Ban chỉ đạo Dự án phòng chống Tăng huyết áp tổ chức sáng nay (16/5), tại Hà Nội, GS Việt khẳng định tất cả mọi độ tuổi đều có khả năng bị tăng huyết áp.

Thông thường, tăng huyết áp gây ra rất nhiều biến chứng khác nhau như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, xuất huyết não, suy thận, phình hoặc tách thành động mạch. Thậm chí, căn bệnh này còn làm cho người bệnh trở nên tàn phế, có thể tử vong.

“Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có khoảng 1,5 tỷ người trên thế giới bị tăng huyết áp và có tới 9,4 triệu người mỗi năm trên thế giới tử vong do nguyên nhân trực tiếp là tăng huyết áp,” GS Việt dẫn chứng.

Trước mối lo nêu trên, GS Việt khuyến nghị: “Để đảm bảo sức khỏe, chúng ta cần phải kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có nguy cơ về tim mạch. Việc điều trị tăng huyết áp cần phải được thực hiện một cách liên tục, lâu dài thậm chí là suốt đời.”

Là một trong những người đầu tiên được các bác sĩ khám và tư vấn, bác Mai Thanh, 56 tuổi ở Vĩnh Tuy (Hà Nội) chia sẻ: “Đây là buổi nói chuyện rất hữu ích giúp tôi biết được mức độ nguy hiểm của căn bệnh, để chữa trị một cách hiệu quả nhất.” 

Ngay sau buổi nói chuyện, các bác sĩ đã tổ chức đo huyết áp, tư vấn miễn phí về mối nguy của căn bệnh cho hàng trăm người dân đến tham dự.

Theo VietnamPlus

Hạt dẻ giúp tránh nguy cơ mắc bệnh động mạch vành

Đưa hạt dẻ vào khẩu phần ăn mỗi ngày sẽ có tác dụng giảm tới 19% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành (CAD) và 34% bệnh cao huyết áp.

Nhà dinh dưỡng Joy Bauer của Today Show chia sẻ: “Mọi người ít ăn các loại hạt vì họ sợ chất béo và calo cao, hoặc cho rằng các loại hạt thật nhàm chán. Nhưng bạn nên biết chỉ cần một số nhỏ hạt ăn hằng ngày có thể đảm bảo lượng protein, chất xơ, chất béo không bão hòa, các vitamin và khoáng chất quan trọng”.
Đây chính là kết quả tổng hợp dựa trên 23 nghiên cứu với sự tham gia của hàng trăm ngàn người và hơn 40.000 trường hợp mắc bệnh. Mức tiêu thụ các loại hạt dẻ cao có liên quan đến giảm nguy cơ mắc CAD và bệnh cao huyết áp. Tuy nhiên, việc ăn nhiều hạt dẻ lại không liên quan tới việc giảm nguy cơ đột quỵ hoặc bệnh tiểu đường typ 2.
Ngoài hạt dẻ, những loại hạt đáng để bạn cho vào thực đơn là: hạnh nhân, điều, macadamia, óc chó, hồ đào… Bạn có thể bảo quản thực phẩm này ở những nơi khô ráo, không để hở không khí, khi mở túi nên đóng mép kỹ sau mỗi lần sử dụng, bảo quản tốt nhất là trong ngăn mát tủ lạnh.

Theo BaoPhapLuat.vn

Bát nháo An cung ngưu hoàng hoàn: Tiền trăm, tiền triệu đều có!

An cung ngưu hoàn hoàng được rao bán ở khắp nơi từ trên mạng đến nhiều nhà thuốc. Sản phẩm chỉ là tiên dược truyền miệng nhưng người dân vẫn thích mua về.

Thần dược bán tràn lan 
Hiện nay, An cung ngưu hoàn hoàng (ACNHH) được đồn thổi như một tiên dược nên loại thuốc nay cũng được làm giả rất là nhiều. Mỗi loại thuốc có một giá khác nhau và được người bán hàng đồn thổi theo cách của riêng họ khiến nhiều người tiền mất tật mang. Các bác sĩ cho biết đây là loại thuốc bình thường chứ không phải thần dược điều trị bệnh như người ta vẫn quảng cáo.

Theo các chuyên gia về đột quỵ, ngày càng có nhiều người trẻ bị đột quỵ. Thậm chí có trường hợp sinh viên cũng mắc bệnh này. Các thập kỷ trước bệnh này chỉ xảy ra ở người trung niên và cao niên thì nay đã được trẻ hóa. Có lẽ lợi dụng vào tình hình sức khỏe cộng đồng có nhiều biến đổi mà các công ty dược, các cửa hàng thuốc săn tìm đủ các loại thuốc phòng và chống đột quỵ, trong đó có ACNHH.
ACNHH được rao bán cả ở phố thuốc bắc Lãn Ông
Phố Lãn Ông, Hoàn Kiếm, Hà Nội là nơi bán rất nhiều các loại thuốc bắc, thuốc nam và các thuốc có thành phần từ thảo dược. Không khó khi lên phố này tìm mua ACNHH. Theo giới thiệu của những người bán hàng ở số nhà 7, 19 Lãn Ông, chúng tôi tìm gặp chị Hường – người chuyên cung cấp các sản phẩm ACNHH với giá siêu rẻ.
Trong vai một người muốn mua hàng về bỏ mối ở các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, chị Hường niềm nở giới thiệu cho chúng tôi các mặt hàng ACNHH phù hợp với những địa phương có thu nhập thấp giá từ 300 nghìn đến 400 nghìn đồng/viên. Các loại thuốc này điều trị trong vòng nửa tháng, mỗi ngày 1 viên có thể chống lại đột quỵ cũng như các bệnh lý khác liên quan đến tim mạch. 
Chị Hương giới thiệu thuốc của chị được phân phối bởi một công ty dược trong miền nam, mọi ý kiến hay thắc mắc của khách hàng chị đều phản hồi với công ty để công ty rút kinh nghiệm.

Khi chúng tôi băn khoăn giá cả rẻ, chị Hường cho biết đó là giá bỏ mối còn giá bán lẻ chị thường bán cho khách từ 700 đến cả triệu đồng. 

Trước thông tin ACNHH mua ở Đồng Nhân Đường Bắc Kinh đã có giá trên 2 triệu đồng, chị Hường quanh co “loại ở Đồng Nhân Đường Bắc Kinh là hàng bán cho khách du lịch nên đắt còn các sản phẩm bán ngoài thị trường tự do bao giờ cũng rẻ hơn. Em vào một khách sạn mua các sản phẩm lưu niệm dành cho khách du lịch bao giờ cũng đắt hơn các sản phẩm ngoài thị trường”.

Sản phẩm của chị Hường không có giấy chứng nhận hay tem chống hàng giả. Khi biết tôi bày tỏ muốn xem hóa đơn để dễ dàng buôn bán và đóng thuế với cơ quan thuế địa phương, chị Hường tỏ ra không hài lòng. 
Chị cho rằng “mua thì mua chứ thuốc này hiếm chẳng có mà bán chứ nói chi đến hóa đơn. Em muốn lấy hóa đơn thì gọi thẳng lên công ty mà hỏi hàng chứ lên Lãn Ông hỏi hóa đơn làm gì. Hàng của chị chuẩn chỉ không sai nếu em không yên tâm thì không lấy nữa”.
Trên mạng loạn giá và nơi sản xuất
Còn ở trên mạng, các sản phẩm cũng loạn giá không kém. Mỗi cửa hàng, công ty bán một giá khác nhau khiến người tiêu dùng bị rơi tổ tò vò không biết thuốc nào là thuốc tốt.

Những website quảng cáo sản phẩm chữa bách bệnh, nhất là các chứng bệnh đột quỵ. Vì được giới thiệu là thuốc có thành phần từ tự nhiên, không có động dược học, không có tác dụng phụ nên nhiều người đã tin và mua sản phẩm này về để dùng. 

Trang website Ancungnguuhoanhoang có giá từ trên  triệu đồng/viên. Đa số mọi người chỉ bán theo hộp và quảng cáo đây là loại thuốc gối đầu giường cho người già và người bị các bệnh về tim mạch.
ACNHH rao bán trên mạng
Trên trang website thaythuoc... đăng tải ACNHH là thuốc cấp cứu đông y truyền thống, được dùng cấp cứu và điều trị đột quỵ, nhồi máu não cực kỳ hiệu quả và nhanh chóng, nhiều người bị hôn mê, nằm viện mấy ngày không tỉnh, uống ACNHH đã tỉnh lại và hồi phục. Trên trang web này đăng luôn hình ảnh các loại thuốc kèm theo giá để ai muốn mua có thể liên hệ qua số điện thoại cũng được ghi rõ trong trang web.

Hiện nay, An cung ngưu hoàn hoàng được quảng cáo ở nhiều nơi từ Trung Quốc đến Hàn Quốc. Các sản phẩm đủ loại tùy theo từng giá tiền. Chính điều này cũng khiến nhiều người mua phải thuốc giả trước ma trận ACNHH.

Các loại thuốc này được một vài công ty đưa ra chỉ định bằng tiếng Việt dùng khoảng 5 viên còn đa số các loại khác thì những người bán hàng đều khẳng định có thể dùng từ cả mười viên trong một liệu trình.


Theo Infonet

Đau tim do rối loạn cương dương

Rối loạn cương dương thường là một triệu chứng xuất hiện nhiều năm trước khi bị cơn đau tim.

Một lý do khác là dương vật nhạy cảm với những thay đổi sớm liên quan với tăng nguy cơ mắc bệnh tim như viêm và stress ôxy hóa hơn các bộ phận khác.
Những thay đổi bao gồm cholesterol cao, tăng huyết áp, hút thuốc và bệnh tiểu đường gây ra tình trạng xơ cứng động mạch, dẫn tới đau ngực hoặc đau tim. Quá trình tương tự cũng xảy ra ở dương vật. Các động mạch của dương vật nhỏ hơn nhiều so với động mạch cung cấp máu cho tim, não hoặc chân, vì vậy nó sẽ bị nghẽn nhanh hơn.
Những nguy cơ đối với bệnh mạch vành cũng là nguy cơ gây nghẽn động mạch dương vật. Qua nhiều năm, nghẽn hình thành và ngăn cản máu tới dương vật.

Theo Sức khỏe và Đời sống

Phồng động mạch, chớ coi thường

Thật đáng sợ nếu bất ngờ bạn bị mất máu nặng đe dọa tính mạng, không phải do chấn thương hay vết thương, mà do phồng động mạch.

Chắc bạn rất muốn biết: ai dễ bị phồng động mạch? Phát hiện bệnh cách nào? Chữa trị và phòng bệnh ra sao? Bạn sẽ tìm được lời giải đáp trong bài viết dưới đây.
Ai dễ bị phồng động mạch?
Phồng động mạch là tổn thương giãn thành động mạch không hồi phục, đường kính động mạch bị phồng có thể lớn hơn 50% so với đường kính ban đầu. Nếu phồng động mạch càng lớn thì nguy cơ bị vỡ càng cao. Các túi phồng động mạch đều có xu hướng phát triển to dần chứ không thể tự khỏi.
Nhiều nghiên cứu cho thấy phồng động mạch thường gặp ở những người mắc các bệnh sau đây: xơ cứng động mạch, hoại tử thành động mạch do tác dụng phụ của một số loại thuốc chữa bệnh, bệnh loạn sản tổ chức xơ, thoái hoá thành động mạch do thai nghén…Các bệnh nhiễm khuẩn thông thường, giang mai, nhiễm virut. 
Do các nguyên nhân cơ học: sau hẹp động mạch, sau chấn thương và vết thương, sau phẫu thuật nối thông mạch máu, ghép đoạn động mạch. Các bệnh bẩm sinh: hội chứng Ehlers-Danlos, hội chứng Marfan, phồng động mạch não…
Phát hiện bệnh cách nào?
Bình thường một người bị phồng động mạch ở mức độ ít thường không có triệu chứng gì, nên bệnh nhân rất khó biết mình có bị phồng động mạch hay không. Tuy nhiên phồng động mạch ngày càng phát triển to ra, gây nên các triệu chứng chèn ép vào cơ quan xung quanh chỗ phồng; 
Hoặc chèn ép vào bản thân động mạch, làm giảm lượng máu nuôi dưỡng cơ quan do động mạch bị phồng chi phối; dòng máu chảy vào túi phồng sẽ trở thành dòng chảy xoáy nên dễ tạo nên các cục máu đông ở trong lòng túi phồng, các cục máu đông này có thể bị bong ra và trôi theo dòng máu, đến gây tắc động mạch ở các nơi khác.
Sơ đồ cục máu đông làm tắc động mạch gây phồng mạch
Sơ đồ cục máu đông làm tắc động mạch gây phồng mạch

Tùy vị trí động mạch bị phồng sẽ gây ra các triệu chứng tương ứng như sau:
Phồng động mạch chủ, triệu chứng theo năm đoạn phồng như sau:
Đoạn I, từ phía trên động mạch vành tới gốc của thân động mạch cánh tay đầu, túi phồng có thể chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên gây ra các triệu chứng: phù áo khoác (phần cơ thể bị phù tương ứng với phần khoác áo), tuần hoàn bàng hệ vùng cổ ngực; túi phồng có thể vỡ vào màng tim gây chèn ép tim cấp.
Đoạn II, từ thân động mạch cánh tay đầu đến động mạch dưới đòn trái : túi phồng có thể chèn vào tĩnh mạch chủ trên, chèn vào khí quản và phế quản gốc gây ra khó thở theo tư thế, ho...; túi phồng có thể vỡ vào khí quản hay trung thất gây ho ra máu nặng và chèn ép trung thất cấp.
Đoạn III, từ động mạch dưới đòn trái tới cơ hoành: túi phồng có thể chèn vào thực quản gây khó nuốt, chèn ép dây thần kinh quặt ngược trái gây nói khàn, giọng đôi, chèn ép và gây giảm cấp máu cho động mạch Adamkiewicz, gây thiếu máu tuỷ và liệt hai chi dưới; túi phồng có thể vỡ vào phổi, màng phổi gây ho ra máu và tràn máu màng phổi cấp.
Đoạn IV, từ dưới cơ hoành đến gốc 2 động mạch thận : túi phồng có thể chèn ép và ảnh hưởng đến cấp máu của thận gây thiểu niệu, tăng huyết áp; chèn ép các tạng ống tiêu hoá gây rối loạn tiêu hoá; túi phồng có thể vỡ vào ổ bụng hay khoang sau phúc mạc gây hội chứng bụng cấp.
Đoạn V, từ dưới động mạch thận đến chỗ phân chia ra các động mạch chậu gốc, nhìn thấy khối phồng đập nẩy theo nhịp tim; sờ thấy khối phồng và có thể luồn tay dưới bờ sườn để sờ được cực trên của nó; nghe trên khối phồng có tiếng thổi tâm thu; túi phồng có thể vỡ vào trong ổ bụng hay khoang sau phúc mạc.
Các vị trí động mạch chủ dễ bị phồng
Các vị trí động mạch chủ dễ bị phồng

Phồng động mạch ngoại vi: hay gặp là phồng động mạch khoeo và động mạch đùi. Nguyên nhân do bệnh xơ vữa động mạch, chấn thương hoặc nhiễm khuẩn. Triệu chứng gồm: phần chi bên dưới túi phồng thấy đau, tê, vận động chóng mỏi và hay bị chuột rút. 
Khám thấy: mạch đập yếu hơn so với bên lành. Có các hiện tượng thiểu dưỡng như: đau nhức tăng lên khi vận động, phù nề, tím, giảm khả năng vận động, có các vết loét. Khối phồng nằm ngay trên đường đi của động mạch. 
Ranh giới thường rõ. Đập nẩy và có thể thấy khối đập co giãn theo nhịp tim. Nghe trên khối phồng thấy có tiếng thổi tâm thu. Khi ép lên đoạn động mạch ở phần đầu trung tâm của khối phồng thì thấy khối phồng nhỏ lại, hết đập nẩy và không còn tiếng thổi.
Chụp xquang thấy hình lắng đọng canxi ở túi phồng động mạch. Siêu âm xác định được hình dáng, kích thước, độ dày thành túi, tình trạng máu cục… trong lòng túi phồng. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ cho thấy : hình thái của khối phồng, xác định được tương quan của túi phồng với các cơ quan và tổ chức quanh túi phồng.
Hình ảnh phồng động mạch kheo              trên phim chụp cộng hưởng từ
Hình ảnh phồng động mạch kheo trên phim chụp cộng hưởng từ

Biến chứng
Túi phồng động mạch nếu không được phát hiện và điều trị sẽ phát triển to lên dần và dẫn đến biến chứng vỡ phồng. Đây là biến chứng nguy hiểm, nếu túi phồng càng ở đoạn động mạch gần tim thì mức độ cấp tính và đe doạ tính mạng bệnh nhân càng nặng.
Ngoài ra còn có các biến chứng : chèn ép các cơ quan xung quanh, mức độ chèn ép tăng dần vì khối phồng ngày càng to ra. Ngoài việc ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của các cơ quan này, sự chèn ép của khối phồng còn làm thiếu máu nuôi dưỡng vùng tổ chức phía ngoại vi của khối phồng. 
Nhiễm khuẩn: khối phồng bị nhiễm khuẩn có thể gây biến chứng vỡ khối phồng đột ngột. Tắc mạch ngoại vi: do cục máu đông trong túi phồng bị tách ra và theo dòng máu động mạch đến gây tắc các động mạch ở phía ngoại vi khối phồng.
Điều trị và phòng bệnh ra sao?
Việc điều trị phồng động mạch bắt buộc phải phẫu thuật để cắt bỏ khối phồng và ghép mạch. Có hai cách ghép mạch là ghép tự thân và ghép mạch đồng loại. Ghép mạch tự thân là dùng một đoạn tĩnh mạch của chính bệnh nhân để ghép. Ghép mạch đồng loại là dùng động mạch của người khác để ghép.
Do việc điều trị rất khó khăn và sự đe dọa tính mạng bệnh nhân nếu vỡ phồng động mạch, nên vấn đề phòng tránh có ý nghĩa rất quan trọng. Bạn có thể thực hiện các biện pháp phòng tránh phồng động mạch gồm: thường xuyên tập thể dục để giúp lưu thông khí huyết, làm dẻo dai thành mạch máu, hạn chế nguy cơ bị phồng mạch. 
Bạn cũng không ăn mỡ động vật vì có thể bị vỡ xơ mạch máu gây ra chỗ xơ cứng chỗ yếu dễ bị phồng mạch. Nếu phải dùng thuốc chữa bệnh, bạn chỉ nên dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ để tránh bị hoại tử thành động mạch do thuốc. Phụ nữ có thai cần khám định kỳ để được bác sĩ theo dõi, tránh bị thoái hoá thành động mạch liên quan đến thai nghén…
Bạn cần giữ vệ sinh trong ăn uống, sinh hoạt, phòng các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus. Việc phòng tránh tai nạn giao thông, tránh chấn thương và vết thương trong lao động và sinh hoạt cũng rất có ý nghĩa để bảo vệ sức khỏe và tránh phồng động mạch.

Theo BS. Phạm Văn Thân - Sức khỏe và Đời sống

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Bài thuốc giúp trị xơ vữa mạch vành

Nguyên nhân của bệnh là do rối loạn chuyển hóa lipit trong cơ thể, làm cho thành mạch dày lên và xơ cứng, mất tính đàn hồi và hẹp lòng mạch, cản trở tuần hoàn. Đông y xếp chứng bệnh này vào phạm vi chứng tâm thống.
Người bệnh có những triệu chứng điển hình là đau trong lồng ngực, khó thở, hồi hộp, hoảng hốt, lo âu mất ngủ hoặc ngủ chập chờn. Đau có khi lan lên cổ, hàm, vai, cánh tay trái hoặc ra sau lưng. Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, khi phải gắng sức, bị nhiễm lạnh, ăn uống quá no say, tình cảm kích động mạnh. Sau đây là một số bài thuốc hỗ trợ trị bị bệnh.
Bài thuốc giúp trị xơ vữa mạch vành 1
Cây và vị thuốc hồng hoa.
Bài 1: 
Xuyên khung 10g, ích mẫu 12g, phục thần 10g, lạc tiên 16g, long nhãn 12g, đại táo 10g, đinh lăng 16g, hoàng kỳ 12g, tang diệp 20g, đương quy 12g, thục địa 12g, bạch thược 14g, hà thủ ô 16g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. 
Công dụng: hoạt huyết thông mạch, dưỡng tâm an thần.
Bài 2: 
Cát căn 15g, tâm sen 10g, hắc táo nhân 16g, tang diệp 20g, bồ công anh 20g, hà thủ ô 16g, đại hoàng 4g, đương quy 15g, thục địa 12g, ngũ gia bì 15g, ích mẫu 12g, cam thảo 10g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.
Công dụng: hoạt huyết thông mạch, chống co thắt.
Bài 3: 
Xuyên khung 10g, đương quy 16g, đinh lăng 20g, bạch thược 12g, thục địa 12g, liên nhục 16g, tâm sen 10g, lạc tiên 20g, cát căn 20g, trúc diệp 16g, tô mộc 20g, cam thảo 10g, huyết đằng 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. 
Công dụng: hoạt huyết, dưỡng tâm, chống co thắt mạch vành.
Các món ăn kết hợp tăng hiệu quả trị bệnh
Cháo chim bồ câu - táo nhân: 
Chim bồ câu 1 con, gạo tẻ 80g, táo nhân 20g, gia vị vừa đủ. Chim bồ câu vặt lông bỏ nội tạng, băm nhỏ nêm gia vị, sau đó cho vào xào chín kỹ. Gạo tẻ đãi sạch thêm nước hầm thành cháo. Táo nhân sao đen tán bột mịn. Cho gạo vào nồi đổ nước vừa đủ nấu cháo, khi cháo chín cho thịt chim bồ câu và bột táo nhân vào trộn đều, cho sôi lại là được. Thêm gia vị ăn trong ngày. 
Công dụng: chim bồ câu bổ ngũ tạng, lưu thông huyết mạch. Táo nhân sao đen dưỡng tâm an thần. Dùng món này cải thiện được tâm khí, tốt cho người bị hoảng hốt, lo âu, tâm thần hao tán, đau vùng ngực, khó thở, giấc ngủ chập chờn...
Bài thuốc giúp trị xơ vữa mạch vành 2
Cháo chim bồ câu - táo nhân
Cháo tim lợn, lạc tiên: 
Tim lợn 1 quả, gạo tẻ 80g, lạc tiên phơi khô 40g, gia vị vừa đủ. Tim lợn thái lát mỏng, ướp gia vị rồi xào chín. Lạc tiên cho vào ấm, đổ nước nấu sôi 20 phút rồi rót lấy nước bỏ bã. Lấy nước này cùng gạo hầm cháo cho chín kỹ. Khi cháo được cho tim lợn vào trộn đều, cho sôi lại là được, nêm gia vị vừa ăn, ăn nóng, chia ăn hai lần sáng chiều. 
Công dụng: tim lợn bổ tâm huyết; lạc tiên an thần. Món này rất tốt cho người bị đau ngực, hồi hộp lo âu, rạo rực, thiếu máu cơ tim, tinh thần bất an, giấc ngủ chập chờn...


Theo Lương y Thanh Ngọc - Gia đình và Xã hội