Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Cảnh giác với bệnh phình động mạch chủ

Nếu cảm thấy mạch đập trong bụng mình giống với nhịp đập của tim, đau đột ngột trong vùng bụng hoặc dưới lưng, có thể bạn đã bị phình động mạch chủ.

Theo ThS.BS Lê Thanh Phong, phân khoa Phẫu thuật lồng ngực - Mạch máu, Bệnh viện ĐH Y Dược TP HCM, động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể người, có nhiệm v dẫn máu chứa nhiều oxy bơm ra từ tim đi nuôi các cơ quan trong cơ thể. Động mạch chủ chạy xuyên qua ngực, ở đó nó được gọi là động mạch chủ ngực. Động mạch chủ đi đến bụng được gọi là động mạch chủ bụng. Động mạch chủ ngực cung cấp máu  cho nửa phần trên cơ thể còn động mạch chủ bụng cung cấp máu cho phần dưới cơ thể.
Khi một vùng bị yếu của động mạch chủ giãn nở ra hoặc to ra hơn bình thường, nó được gọi là phình động mạch chủ. Áp lực của máu chảy qua động mạch chủ bụng có thể khiến cho phần bị yếu của động mạch chủ phình ra giống như một quả bóng. Động mạch chủ ngực bình thường có đường kính khoảng 2 cm, song nó có thể giãn vượt quá mức an toàn khi phình ra. Túi phình chính là nguy cơ cho sức khỏe vì nó có thể bị vỡ gây chảy máu trong nghiêm trọng, dẫn đến sốc, thậm chí tử vong.
Trường hợp ít gặp hơn, phình động mạch chủ có thể gây ra tắc mạch. Những cục máu đông hoặc mảnh vụn có thể hình thành bên trong túi phình rồi theo những mạch máu dẫn đến các cơ quan khác. Nếu một trong những mạch máu này bị nghẽn, có thể gây đau dữ dội hoặc các vấn đề nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như mất chi.
Một bệnh nhân đang điều trị bệnh phình động mạch chủ tại BV ĐH Y Dược TP HCM. Ảnh: TT.
Thống kê ở Mỹ cho thấy, mỗi năm, các bác sĩ chẩn đoán thêm khoảng 200.000 người bị phình động mạch chủ bụng. Trong số này, khoảng 15.000 trường hợp có thể bị phình động mạch chủ bụng nguy hiểm đến mức gây tử vong nếu không được điều trị.
Nếu được chẩn đoán sớm trước khi có những triệu chứng nguy hiểm thì phình động mạch chủ bụng có thể chữa được bằng những phương phápcho hiệu quả cao và an toàn như mổ hở sữa chữa túi phình, đặt stent ghép nội mạc...
Các triệu chứng của bệnh phình động mạch chủ
Khi bị phình động mạch chủ bụng, có thể lúc đầu bạn không thấy bất cứ triệu chứng gì, nhưng nếu một khi đã thấy những triệu chứng sau đây xuất hiện, bạn nên lưu tâm:
- Cảm thấy mạch đập trong bụng của bạn giống với nhịp đập của tim.
- Đau nhiều, xuất hiện đột ngột trong vùng bụng hoặc đau ở dưới lưng. Nếu triệu chứng này xảy ra, túi phình có thể sắp vỡ.
- Trong những trường hợp hiếm, bạn có thể bị đau nhức, tím tái ở các ngón chân hoặc bàn chân vì những mãnh vỡ từ túi phình gây tắc mạch máu nhỏ ở bàn chân và các ngón chân.
- Nếu túi phình bị vỡ, bạn có thể đột ngột cảm thấy mệt lả, chóng mặt, đau, thậm chí mất ý thức. Đây là một tình huống nguy hiểm tính mạng nên đi cấp cứu ngay lập tức.
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây bệnh 
Đến nay các bác sĩ và nhà nghiên cứu không hoàn toàn chắc chắn về nguyên nhân gây phình động mạch chủ. Người ta cho rằng túi phình có thể gây ra do động mạch chủ bị viêm, khiến thành động mạch chủ bị yếu hoặc vỡ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự viêm sưng này có thể gắn liền với chứng xơ vữa động mạch hoặc những yếu tố nguy cơ góp phần gây xơ vữa động mạch, chẳng hạn như huyết áp cao và hút thuốc.
Trong xơ vữa động mạch, có hiện tượng tích tụ mỡ, được gọi là mảng xơ vữa, xảy ra trong thành động mạch. Theo thời gian mảng bám này làm cho động mạch bị hẹp, trở nên cứng hơn và yếu đi. Bên cạnh xơ cứng động mạch, những yếu tố khác có thể gia tăng nguy cơ phình động mạch chủ bụng gồm có:
Nam giới trên 60 tuổi. 
Có một người thân trực hệ, chẳng hạn như mẹ hoặc anh em trai bị phình động mạch chủ bụng. 
Bị cao huyết áp. 
Hút thuốc.
- Càng lớn tuổi, nguy cơ bị phình động mạch chủ bụng càng cao hơn.
- Bệnh thường gặp ở nam hơn là nữ.
Bệnh nhân cần làm những xét nghiệm nào?
Phình động mạch chủ chưa gây ra triệu chứng hầu hết thường được phát hiện khi bác sĩ xét nghiệm hình ảnh, chẳng hạn như siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính vì một lý do bệnh khác. Đôi khi bác sĩ có thể sờ thấy trong bụng của bệnh nhân một khối to có mạch đập trong một lần khám sức khỏe thường quy. Nếu bác sĩ nghi ngờ người đó bị phình động mạch chủ thì có thể yêu cầu bệnh nhân thực hiện thêm một số xét nghiệm dưới đây để xác định:
Siêu âm bụng, X-quang ngực.
- Chụp quét cắt lớp điện toán (CT). 
- Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Theo Thi Trân - VnExpress

Thuốc thảo mộc hỗ trợ điều trị suy tim

Suy tim là tình trạng tim không còn khả năng cung cấp (bơm) đủ máu và oxy đến nuôi các tế bào của cơ thể cũng như để đảm bảo cho các tế bào, phủ tạng hoạt động.

Nguyên nhân do tổn thương nguyên phát hoặc thứ phát sau các bệnh hẹp van động mạch phổi, hở van hai lá, hở van động mạch chủ… hoặc do các bệnh làm giảm tâm trương của thất.
Trong Đông y không có chứng suy tim, nhưng theo triệu chứng lâm sàng, loại bệnh này thuộc phạm trù của các chứng: tâm quý, chính xung, khái suyễn, đàm ẩm, thủy thũng, ứ huyết, tâm tý và được chia thành nhiều thể khác nhau. 
Tùy theo mức độ của suy tim mà y học có những biện pháp điều trị thích hợp, riêng đối với Đông y, có thể sử dụng một số thảo dược để hỗ trợ chữa trị chứng bệnh này. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc điều trị suy tim từ thảo mộc để bạn đọc tham khảo.
Chữa suy tim trong viêm cơ tim với các biểu hiện: phù, khó thở, loạn nhịp. Dùng bài: thục địa, gừng, quế mỗi vị 16g; mạch môn, a giao mỗi vị 10g; cam thảo bắc, toan táo nhân (sao đen) mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thuốc thảo mộc hỗ trợ điều trị suy tim
Hoàng kỳ, vị thuốc hỗ trợ điều trị suy tim.
Chữa bệnh tim đồng thời với bệnh thận: Dùng bài: thục địa 250g; sơn phù du, sơn dược mỗi vị 120g; mẫu đơn bì, phục linh, trạch tả, mạch môn mỗi vị 100g; ngũ vị tử 60g. Các vị tán bột, làm thành viên hoàn 2,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 2 lần.
Chữa suy tim bằng phương pháp tăng trương lực cơ tim. Dùng 1 trong số các bài thuốc sau:
Bài 1:
Đảng sâm 20g; bạch truật, ý dĩ, xuyên khung, ngưu tất, đan sâm, trạch tả, mã đề, mộc thông mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2:
Hoàng kỳ, bạch truật, đảng sâm mỗi vị 20g; bạch thược, đương quy, ngưu tất, đan sâm, tỳ giải mỗi vị 16g; xuyên khung, phục linh, trạch tả mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa suy tim với các triệu chứng: tim hồi hộp, khó thở, suyễn, mệt mỏi, choáng váng, ra mồ hôi: Dùng 1 trong số bài thuốc sau:
Bài 1:
Đan sâm, bạch truật, ý dĩ, hoài sơn, kỷ tử mỗi vị 20g; đảng sâm, mạch môn, sa sâm, trạch tả mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2:
Đảng sâm, bạch truật mỗi vị 20g; Thục địa, phục linh, đản sâm, ý dĩ mỗi vị 16g; xuyên khung, đương quy, bạch thược, hồng hoa, ngưu tất mỗi vị 12g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Theo GS Đoàn Thị Nhu - Sức khỏe và Đời sống

4 dấu hiệu cảnh báo bạn bị bệnh tim

Một mảng hói ở đỉnh đầu hoặc một nếp nhăn nhỏ theo chiều dọc ở dái tai có thể chỉ đơn giản là dấu hiệu của tuổi già.

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây lại chỉ ra rằng những dấu hiệu này có thể cho thấy bạn có nguy cơ bị bệnh tim.
Các nhà nghiên cứu Đan Mạch nhận thấy, nếu bạn có ít nhất 3 trong 4 dấu hiệu gồm: hói ở đỉnh đầu, đường chân tóc hớt ra sau trán, nếp nhăn ở dái tai và u vàng quanh mắt thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch là 39% và nguy cơ lên cơn đau tim là 57%.
Ảnh: Foxnews.
Một mảng hói ở đầu cũng có thể là dấu hiệu cho thấy bạn có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Ảnh: Foxnews.
Kết quả này đã tính đến cả yếu tố tuổi tác. Vì thế, "khi bạn trông già hơn so với tuổi thì điều đó cho thấy bạn có vấn đề về sức khoẻ tim mạch", tiến Anne Tybjaerg-Hansen, một bác sĩ và giảng viên thuộc Bệnh viện Đại học Copenhagen nói.
Theo Foxnews, các nhà nghiên cứu đã sử dụng những dữ liệu từ nghiên cứu về bệnh tim của Đại học Copenhagen, với sự tham gia của gần 10.900 người trên 40 tuổi. Trong nghiên cứu kéo dài 35 năm thì hơn 3.400 người đã bị bệnh tim và hơn 1.700 người từng lên cơn đau tim. 
Các chuyên gia đã kiểm tra 6 dấu hiệu của tuổi tác, trong đó loại trừ 2 yếu tố là tóc màu xám và nếp nhăn dường như không có mối liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim.
Bên cạnh đó, khi xem xét riêng yếu tố giới tính thì họ nhận thấy rụng tóc ở nữ giới cũng không liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim. Tuy nhiên, trong số 737 nam giới có đường chân tóc hớt ra sau trán thì 82 người từng bị đau tim. Điều này có nghĩa những nam giới bị rụng tóc có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
Nhiều nghiên cứu trước đó cũng đã xem xét việc rụng tóc có thể là một dấu hiệu cảnh báo bệnh tim mạch, nhưng đưa ra những kết luận trái ngược nhau. Một vài nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng và phân loại hói đầu với nguy cơ bị bệnh tim ở những mức độ khác nhau. 
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác thì lại không thấy sự liên hệ này. Rõ ràng nguy cơ mắc tim mạch và hói đầu gia tăng theo tuổi tác nên rất khó để các nhà khoa học có thể tách biệt hai yếu tố này trong các nghiên cứu.
Thực tế thì mối liên hệ giữa những dấu hiệu này và nguy cơ mắc bệnh tim vẫn chưa rõ ràng. Vì thế cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa.
Theo TS Tybjaerg-Hansen, nghiên cứu xác nhận một thực tế lâm sàng phổ biến tại các phòng mạch khi các bác sĩ khám và nhìn xem người bệnh trông già hay trẻ hơn so với tuổi. Vì thế 4 dấu hiệu này cung cấp thêm chỉ dẫn cho các bác sĩ trong điều trị bệnh. "Lời khuyên đưa ra là người bệnh hãy thay đổi lối sống và áp dụng các biện pháp giảm lipid máu vì nguy cơ mắc tim mạch của họ cao hơn", bà nói.
Chẳng hạn, u vàng quanh mắt là một dấu hiệu cho thấy cholesterol trong máu cao, một yếu tố nguy cơ phổ biến dẫn đến bệnh tim mạch.

Theo Phương Trang - VnExpres

Nhận biết sớm cơn nhồi máu cơ tim cấp

Nhồi máu cơ tim cấp là tình trạng hoại tử một vùng cơ tim, hậu quả của thiếu máu cục bộ cơ tim.


Nhồi máu cơ tim cấp là một bệnh lý thường gặp và có liên quan nhiều đến sức khỏe cộng đồng. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, tỷ lệ nhồi máu cơ tim cấp ngày càng có khuynh hướng tăng lên rõ rệt. Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, nhưng nhồi máu cơ tim cấp vẫn là một loại bệnh nặng, diễn biến phức tạp, có nhiều biến chứng nguy hiểm luôn đe dọa tính mạng người bệnh.
Vì sao bị nhồi máu cơ tim cấp?
Nguyên nhân chủ yếu gây nhồi máu cơ tim cấp là do vữa xơ động mạch vành. Những mảng xơ vữa làm giảm khẩu kính lòng mạch và dần dần gây tắc mạch, làm cho máu không đến để nuôi cơ tim được, có thể dẫn đến hoại tử vùng cơ tim đó nếu không được can thiệp kịp thời. 
Tuy nhiên, mảng xơ vữa thường không phát triển từ từ mà nó có thể bị nứt, vỡ ra đột ngột. Khi mảng xơ vữa bị vỡ ra, quá trình hình thành cục huyết khối được khởi động. Quá trình này được bắt đầu với các tế bào máu đặc hiệu, gọi là tiểu cầu, tập trung tại vị trí mảng xơ vữa bị nứt. Cục máu đông có thể được hình thành ngay trên mảng xơ vữa bị nứt ra đó và gây tắc đột ngột động mạch vành.
Nhận biết sớm cơn nhồi máu cơ tim cấp
Phương pháp đặt stent can thiệp nội mạch giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi sau mổ.
Phương pháp đặt stent can thiệp nội mạch giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi sau mổ.
Cơn đau thắt ngực điển hình
Biểu hiện chủ yếu của nhồi máu cơ tim cấp là cơn đau thắt ngực điển hình: đau như bóp nghẹt phía sau xương ức hoặc vùng trước tim, lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út. Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, kéo dài hơn 30 phút và không đỡ khi dùng thuốc giãn động mạch vành (nitroglycerin).
Đau có thể lan lên cổ, cằm, vai, sau lưng, tay phải hoặc vùng thượng vị. Tuy nhiên, có trường hợp bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim mà không có hoặc ít cảm giác đau (nhồi máu cơ tim thầm lặng): hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, bệnh nhân tiểu đường hoặc tăng huyết áp. 
Ngoài ra, còn có các triệu chứng khác: vã mồ hôi, khó thở, hồi hộp, đánh trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn... Khám bệnh nhân giúp chẩn đoán phân biệt và phát hiện các biến chứng của bệnh. Những triệu chứng hay gặp là nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ, tiếng ngựa phi, huyết áp có thể tăng hoặc giảm, xuất hiện tiếng thổi mới ở tim... Các xét nghiệm để chẩn đoán xác định như: điện tâm đồ, siêu âm tim, xét nghiệm men và dấu ấn sinh học của tim.
Dựa trên những biểu hiện lâm sàng và những xét nghiệm quan trọng, cần chẩn đoán phân biệt với các tình trạng bệnh lý khác như: Bóc tách động mạch chủ; thuyên tắc động mạch phổi; thủng dạ dày do loét; tràn khí màng phổi; thủng thực quản gây viêm trung thất; viêm màng ngoài tim...
Các biện pháp điều trị nhồi máu cơ tim cấp ưu việt nhất hiện nay
Tất cả các trường hợp nhồi máu cơ tim đều được đặt trong tình trạng cấp cứu, do vậy, sự lựa chọn phương pháp điều trị bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp nên được quyết định bởi các bác sĩ ở khoa cấp cứu cùng phối hợp với các bác sĩ tim mạch dựa theo các phác đồ của bệnh viện. Nếu ở các bệnh viện không có khả năng can thiệp tim mạch, cần chuyển bệnh nhân đến bệnh viện có khả năng tái tưới máu cơ học cấp cứu gần nhất.
Việc lựa chọn phương pháp điều trị tái tưới máu ngay cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian đến viện, tình trạng bệnh nhân, điều kiện trang thiết bị và trình độ của cơ sở y tế. Có 3 biện pháp điều trị tái tưới máu: Điều trị tái tưới máu động mạch vành bằng thuốc tiêu sợi huyết: Can thiệp động mạch vành thì đầu; Phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành cấp cứu.
Lời khuyên của thầy thuốc
Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp nội khoa, ngoại khoa hay tim mạch can thiệp thì việc thay đổi lối sống như bỏ thuốc lá, ăn thức ăn có ít cholesterol, hạn chế mỡ, muối... điều trị một số bệnh có liên quan như tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu... và tiếp tục sử dụng lâu dài một số thuốc đặc hiệu là hết sức cần thiết để điều trị và phòng ngừa nhồi máu cơ tim tái phát.
Ðối với nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên thì tiêu sợi huyết vẫn là chiến lược điều trị chuẩn mực cho các bệnh nhân đến viện sớm và không có chống chỉ định, đặc biệt ở các cơ sở y tế chưa có khả năng can thiệp động mạch vành qua da cấp cứu. 
Tuy nhiên, tái tưới máu bằng can thiệp động mạch vành qua da có tiên lượng tốt hơn, đặc biệt là ở những trung tâm tim mạch can thiệp lớn có nhiều kinh nghiệm. Lựa chọn chiến lược điều trị tái tưới máu không chỉ liên quan đến những tiêu chí khoa học mà còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, trang bị máy móc và khả năng của cơ sở y tế. 
Cuối cùng, tất cả bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp phải được tư vấn kỹ lưỡng để thay đổi lối sống và điều trị các yếu tố nguy cơ. Ða số bệnh nhân phải dùng lâu dài các thuốc aspirin, thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc statin và một thuốc ức chế men chuyển.

Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn - Sức khỏe và Đời sống

Bài thuốc trị thiểu năng động mạch vành tim từ linh chi

Trong vài chục năm gần đây, nấm linh chi đã trở thành một trong những loại dược liệu quý được dùng phổ biến với nhiều chủng loại khác nhau.


Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, cách dùng nấm linh chi để trị rối loạn lipit máu và thiểu năng động mạch vành tim vừa đơn giản mà lại đạt được hiệu quả cao nhất thì không phải ai cũng tường tận.
Rối loạn lipit máu: Linh chi 100g thái phiến, đậu đen 300g sao thơm, cả 2 thứ tán bột trộn lẫn, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 9 - 15g liên tục trong 30 ngày. Hoặc linh chi 6g, cam thảo 5g thái vụn sắc uống 2 lần trong ngày. Hay linh chi 10g, hà thủ ô chế 15g, ngọc trúc 15g, kỷ tử 15g, nữ trinh tử 15g, thạch xương bồ 10g, sắc uống 2 lần trong ngày.
Thiểu năng động mạch vành tim: Linh chi 30g, đan sâm 5g, tam thất 5g. Tất cả thái phiến ngâm cùng 500ml rượu trắng và 1 chén mật ong, đậy kín, để ở nơi tối và thoáng, mỗi ngày lắc bình vài lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 - 20ml. Hoặc linh chi 60g, nhân sâm 30g, tam thất 30g. Tất cả sao khô, tán bột, trộn lẫn. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g với nước ấm.


Theo BS Khánh Hiển - BV TƯ Quân đội 108

Người cao huyết áp tránh và thận trọng dùng thuốc thông thường gì?

Các thuốc thông thường dùng chữa các bệnh khác có thể gây tăng huyết áp làm giảm hiệu lực của thuốc hạ huyết áp đang dùng.
Khi điều trị cho người mắc cả hai bệnh cao huyết áp, đái tháo đường thì buộc phải dùng cùng lúc hai loại thuốc này. Thầy thuốc tính liều phối hợp thích hợp để không gây ra tụt huyết áp. Người bệnh cần tuân thủ liều này, đồng thời phải giữ chế độ ăn ổn định (không bỏ bữa, không ăn ít hơn) giữ chế độ luyên tập ổn định (không lao động nặng, không luyện tập quá mức) để tránh hạ đường huyết, tụt huyết áp.
Các thuốc thông thường gây tăng huyết áp
Corticoid: tác động lên sự chuyển hóa giữ muối và nước, làm cho nước trong máu trong dịch gian bào tăng, làm tăng glucose - máu… dẫn tới tăng huyết áp. Các corticoid nội sinh như: cortisol do tuyến thượng thận sản xuất ra hay chất tương đương có tác động trên chuyển hóa mạnh, nên gây ra tác dụng không mong muốn này mạnh hơn các chế phẩm bán tổng hợp vốn ít tác động lên quá trình chuyển hóa. Cả hai loại khi dùng liều cao, kéo dài đều gây ra tác dụng không mong muốn này.
Cách khắc phục: nếu chỉ bị dị ứng nhẹ chỉ nên dùng các thuốc chống dị ứng như: chlopheniramin, alimemazin fexofenadin, cetirizin. Khi bị hen, không dùng corticoid tiêm, uống để kiểm soát hen mà dùng corticoid hít vì dạng bào chế này chỉ dùng với liều thấp, chủ yếu có tác dụng tại chỗ. Khi cần phải dùng corticoid thì chỉ dùng liều vừa đủ, dưới 10 ngày. Nếu bị bệnh tự miễn buộc phải dùng corticoid kéo dài thì chỉ dùng liều vừa đủ, trong từng đợt ngắn, cách quãng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
Các chất cường giao cảm: ephedrin trong thuốc chữa hen; phenylephrin, pseudoephedrin trong thuốc cảm OTC. Các chất này làm giãn phế quản nên đỡ nghẹt mũi, sổ mũi làm cho người bệnh dễ chịu, song có tính cường giao cảm làm cho tim đập nhanh, co mạch ngoại vi, gây tăng huyết áp.
Người cao huyết áp tránh và thận trọng dùng thuốc thông thường gì?
Cách khắc phục: khi bị hen nên kiểm soát hen bằng corticoid hít mà không dùng ephedrin, khi bị cảm nên dùng thuốc hạ nhiệt đơn paracetamol không nên dùng thuốc cảm OTC. Nếu cần thiết dùng thuốc cảm OTC chỉ nên dùng liều vừa đủ, một đợt ngắn 2 - 5 ngày, không nên dùng liều cao, kéo dài.
Thuốc chống trầm cảm IMAO: ức chế enzyme monoaminooxydase (MAO), là enzyme gây hủy các chất dẫn truyền thần kinh nên làm bền các chất này, làm cho các chất này trong synap phục hồi lại ngưỡng bình thường, có tác dụng chống trầm cảm. Nhưng enzyme MAO có ở nơi khác như enzyme MAO ức chế việc sản xuất tyramin. IMAO ức chế MAO ở các bộ phận khác làm tăng tyramin một chất làm tăng HA, gây cơn đau đầu dữ dội. 
Như vậy, bản thân IMAO vốn có tiềm năng làm tăng HA. Khi dùng IMAO liều vừa đủ thì IMAO chỉ phục hồi các chất dẫn truyền về ngưỡng bình thường mà không làm cho cơ thể sản xuất thêm các chất dẫn truyền thần kinh nên chỉ có tác dụng chống trầm cảm. Khi dùng IMAO liều cao thì IMAO còn ức chế các MAO ở các bộ phận khác, hay khi dùng IMAO với các chất cường giao cảm vốn có tính năng làm cho tim đập nhanh, co mạch ngoại vì… thì sẽ gây tăng HA.
Cách khắc phục: không dùng IMAO liều cao hơn liều tối ưu dùng chống trầm cảm, không dùng IMAO với các chất cường giao cảm.
Kháng viêm không steroid: một số nhóm thuốc chữa CHA như chẹn beta, ức chế men chuyển kích thích tổng hợp chất prosataglandin, một chất gây giãn mạch nên làm hạ HA.Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) sức chế sự sản xuất prostaglandin làm giảm hiệu lực hạ huyết áp của thuốc chẹn beta, ức chế men chuyển.
Cách khắc phục: nên tránh dùng chung hai loại thuốc này.
Thuốc co mạch: trừ phân nhóm 1 của chẹn beta có tác dụng chẹn chọn lọc beta-1, giảm lượng máu từ tim tống ra động mạch nên làm hạ huyết áp, còn hầu hết các nhóm thuốc chữa CHA còn lại đều làm hạ HA thông qua việc làm giãn mạch ngoại vi trực tiếp hay gián tiếp. Thuốc co mạch như ergotamin làm co mạch ngoại vi, ngược lại với cơ chế làm hạ huyết áp, nên làm giảm hiệu lực hạ HA của các nhóm thuốc trên.
Cách khắc phục: không nên dùng chung thuốc chữa cao huyết áp với thuốc co mạch.
Thức ăn và thuốc chứa nhiều ion natri (Na+): khi nghiên cứu nhóm chuột bị cao huyết áp di truyền thấy Na+ trong sợi cơ trơn thành tiểu động mạch của chúng có nhiều Na+ hơn trong cơ trơn thành tiểu động mạch của nhóm chuột chứng không bị cao HA. Na+ không gây co cơ trơn thành tiểu động mạch nhưng kéo theo Ca+2 vào nội bào. 
Chính Ca+2 khi vào nội bào nhiều thì sẽ gắn kết với phức tropomin C, làm thay đổi cấu trúc không gian của phức này, bộc lộ actin, tạo điều kiện cho actin kết hợp với myosin gây nên co cơ. Sự co cơ thành tiểu động mạch tăng sẽ cản trở lưu thông máu, dẫn tới cao huyết áp. Như vậy sự tồn tại nhiều Na+ trong nội bào cơ trơn thành tiểu động mạch không lợi cho chuột bị cao huyết áp.
Vì Na+ có vai trò gián tiếp làm tăng sự co cơ, có thể không có lợi cho người cao huyết áp, nên khuyến cáo người bị cao huyết áp không nên ăn mặn (muối Natrichlorid = NaCl). Ví dụ: một năm một người miền biển ăn khoảng 6.000g muối (16g/ngày), miền đồng bằng ăn khoảng 5.000g muối (13,5g/ngày). Người sinh ra lớn lên ở vùng nào thì không nên ăn muối vượt mức ăn trung bình của vùng đó. 
Thí dụ thang dinh dưỡng Việt Nam (2013) khuyến cáo mức ăn hạn chế muối dưới 10g/ngày. Nhiều người cao huyết áp chưa hiểu rõ điều này, tạo ra chế độ ăn nhạt, rất bất tiện, rất khổ vì ăn nhạt rất khó, không cảm thấy ngon. Cũng nên biết, người cao huyết áp cũng cần đủ Na+ để thiết lập hệ cân bằng nội môi, nên ăn quá nhạt, không đủ Na+ sẽ có hại.
Tất cả các chất chứa nhiều Na+ như các loại viên hay dung dịch sủi bọt (chưa NAHCO3) thuốc chữa đau dạ dày (chứa NAHCO3, Na2CO3), mì chính (chữa natriglutamat) đều làm tăng Na+, không lợi cho người cao HA chứ không riêng gì muối ăn (NaCl). 
Mỗi ngày giảm ăn 1g muối thì chỉ giảm được 390mg Na+ nhưng uống một viên sủi canxium sandor thì đưa thêm vào cơ thể 290mg Na+, dùng một thìa cà phê mì chính thì đưa vào cơ thể thêm tới 680mg Na+. Nhiều người kiêng ăn mặn (NaCl) mà vẫn thừa Na+ là vì dùng các chất này.
Cách khắc phục: ăn hạn chế muối, không dùng thái quá các loại viên sủi (như dùng viên sủi C để giải khát thường xuyên), không nên dùng thuốc chữa dạ dày chứa Na2CO3 mà nên làm giảm tiết dịch vị bằng chất khác.
Thuốc gây hạ huyết áp
Thuốc lợi tiểu: thuốc này dùng trong điều trị cao huyết áp. Nhưng trong điều trị cao huyết áp, người ta dùng cơ chế hạ HA do ức chế protein vận chuyển natri - chlor qua trung gian giãn mạch, nên chỉ cần dùng liều nhỏ là đã có hiệu lực hạ HA mà không gây mất nước, mất K+ nhiều, nên không gây tụt huyết áp, không hại cho tim mạch (thiazid dùng 100mg/ngày, indapamid dùng 2 - 5mg/ngày). 
Song nếu dùng lợi tiểu với liều cao hay khi phối hợp lợi tiểu với các thuốc chữa CHA khác không tính toán kỹ thì có thể gây mất nhiều nước mất nhiều K+ gây ra tụt huyết áp gây hại cho tim mạch.
Cách khắc phục: khi dùng lợi tiểu đơn trị liệu thì chỉ cần dùng liều nhỏ vừa đủ gây hạ HA (lúc đầu dùng liều thấp rồi tăng dần đến liều có hiệu lực). Khi dùng lợi tiểu trong trị liệu phối hợp thì cần tính toán kỹ để cộng hợp cả hiệu lực hạ HA của lợi tiểu và thuốc khác chỉ đưa HA về mức HA mục tiêu mà không gây tụt HA. 
Có hai cách: hoặc dùng lợi tiểu trước sau đó nghỉ dùng thuốc lợi tiểu vài ba ngày rồi mới dùng thuốc hạ HA khác (như chẹn beta) hoặc nếu phối hợp cùng lúc thì phải phối hợp dần dần thuốc lợi tiểu (lúc đầu phối hợp liều thấp, sau đó tăng dần liều phối hợp đến mức đạt được yêu cầu).
Thuốc giãn mạch: các thuốc chữa cao huyết áp do gây giãn mạch gián tiếp hay trực tiếp mà làm hạ HA. Các thuốc như glyceryl trinitrat, isosorbid cũng gây giãn mạch. Nếu phối hợp thuốc chữa cao huyết áp với thuốc giãn mạch thì hai thuốc này cộng hợp cơ chế giãn mạch, gây ra tụt HA đột ngột.
Cách khắc phục: số thuốc giãn mạch được dùng trong bệnh tim mạch như dùng trong bệnh mạch vành. Nếu người cao huyết áp có nhu cầu dùng cả thuốc hạ HA lẫn thuốc giãn mạch thì cần dùng liều phối hợp thận trọng để không gây ra tụt HA đột ngột.
Thuốc đái tháo đường: thuốc đái tháo đường týp 1 (insulin tiêm) hoặc thuốc đái tháo đường týp 2 (uống) đều làm hạ glucose - máu dẫn đến làm hạ HA, nếu dùng liều cao (quá liều chỉ định) có thể gây tụt HA mạnh.
Cách khắc phục: khi điều trị cho người mắc cả hai bệnh cao huyết áp, đái tháo đường thì buộc phải dùng cùng lúc hai loại thuốc này. Thầy thuốc tính liều phối hợp thích hợp để không gây ra tụt HA. Người bệnh cần tuân thủ liều này, đồng thời phải giữ chế độ ăn ổn định (không bỏ bữa, không ăn ít hơn) giữ chế độ luyên tập ổn định (không lao động nặng, không luyện tập quá mức) để tránh hạ đường huyết, tụt HA.
Những thuốc thông thường gây tăng hay gây giảm HA nói trên không phải là chống chỉ định với người cao huyết áp nhưng không lợi cho người cao huyết áp, có trường hợp nên tránh dùng nếu có thể được), có trường hợp phải dùng thận trọng (nếu cần) nhằm hạn chế tác dụng không mong muốn, gây ảnh hưởng không lợi đến việc điều trị cao huyết áp.

Theo DS.CKII Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống

Giải mã tục ngữ “Bà con xa không bằng láng giềng gần”: giảm đau tim và đột quỵ

Nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí Dịch tễ học và Y tế cộng đồng, ngày 18/8 cho thấy ở những người có quan hệ cộng đồng gắn kết thì nguy cơ đau tim và đột quỵ giảm 17%.

Nghiên cứu được thực hiện trên 5.000 người trưởng thành ở Mỹ với tuổi thọ trung bình là 70 tuổi và theo dõi liên tục trong 4 năm. Trong số đó, 62% người đã lập gia đình và 2/3 là phụ nữ. Những người tham gia được khảo sát mức độ hài lòng của họ về hàng xóm của mình. Việc xếp loại dựa trên chỉ tiêu “mức độ gắn kết với cộng đồng lân cận” (neighborhood social cohesion).
Sau 4 năm theo dõi và so sánh giữa chỉ tiêu trên với các trường hợp ghi nhận bị đau tim, nhóm nghiên cứu đã chứng minh rằng: ở những người có mức độ gắn kết với cộng đồng lân cận tốt hơn thì nguy cơ xảy ra đau tim cũng giảm thấp.

Những người hàng xóm tốt bụng sẽ giúp bạn có một trái tim khỏe mạnh.
Theo Eric Kim, khoa Tâm lí học – ĐH Michigan và các cộng sự: “Sự thân thiết với cộng đồng xung quanh có thể được xem như một yếu tố hỗ trợ trong môi trường xã hội, bên cạnh cuộc sống với gia đình và bạn bè.”
Muốn có một trái tim khỏe mạnh, hãy sống với những người láng giềng thân thiện! Câu thành ngữ Việt Nam “Bán bà con xa mua láng giềng gần” nay xem như đã được chứng minh dựa trên bằng chứng khoa học thuyết phục. 
Mà muốn như thế, trước hết, mỗi chúng ta hãy là một người hàng xóm tốt bụng!

Theo Thảo Nguyễn - Pháp luật TPHCM

Người suy tim nặng - Ăn gì cho đỡ mệt?

Suy tim xảy ra khi cơ tim không còn đủ sức để đảm bảo nhu cầu của cơ thể về ôxy ngoại biên nữa.

Đây là biến chứng cuối cùng của tất cả các bệnh về tim, động mạch và các bệnh toàn thân. Khi suy tim nặng bệnh nhân rất khó thở, gan to có khi có cổ trướng, tràn dịch màng phổi, có thể còn khả năng hồi phục hoặc không còn khả năng hồi phục nếu vào giai đoạn cuối.
Người suy tim nặng - Ăn gì cho đỡ mệt?
Chế độ ăn gồm sữa, quả ngọt nhiều kali, nhiều đường giúp bệnh nhân suy tim chuyển hóa tốt.
Nguyên tắc ăn uống khi suy tim nặng
Ăn nhạt hoàn toàn: Lượng muối từ: 0,2g - 0,5g/ngày.
Năng lượng: Nhỏ hơn 1.500Kcalo/ngày; Protein: 0,8g/kg/ngày và protein làm tăng chuyển hoá cơ bản làm tăng lưu lượng máu. Nên dùng protein từ sữa, cá; gluxit: dùng loại đường đơn dễ hấp thu (hoa quả, mật); chất béo: không cho thêm vào khi chế biến thức ăn
Rau quả: Nên dùng nhiều để tạo môi trường kiềm chống lại tình trạng toan của cơ thể, rau quả lại chứa nhiều kali nên có tác dụng lợi tiểu rất tốt cho bệnh nhân suy tim.
Tránh dùng các thức ăn sinh hơi, các loại thức ăn lên men: Trứng, đậu đỗ.
Không dùng các loại thức ăn chế biến sẵn có nhiều muối: Dưa cà, mắm tôm, bánh mì, thịt hun khói, patê, xúc xích, lạp xường; hạn chế các chất kích thích như cà phê, trà...
Một chế độ ăn có sữa, rau quả, khoai sẽ thoả mãn được các nguyên tắc trên vì chứa ít muối lại có nhiều kali, nhiều yếu tố kiềm chống được tình trạng toan và có ít protein, có nhiều đường giúp cho chuyển hoá tốt, ít năng lượng để cho bộ máy tiêu hoá được nghỉ ngơi.
Chế độ ăn cho bệnh nhân suy tim độ 3
Lượng muối 1 - 2g, protein: 40g, năng lượng: 1.200 - 1.300Kcalo.
Thực đơn mẫu:
6 giờ: Sữa hỗn hợp: 150ml (sữa đậu nành: 75, sữa bò: 75ml, đường: 10g)
9 giờ: sữa hỗn hợp: 150ml
12 giờ: Phở thịt nạc: 1 bát (bánh phở: 120g, thịt nạc: 30g, nước xương: 300ml)
15 giờ: Sữa hỗn hợp: 150ml
18 giờ: Cháo cá: 300ml (gạo: 30g, cá: 50g, dầu ăn 5g)
21 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
Chế độ ăn cho bệnh nhân suy tim độ 4:
Dùng chế độ Karen gồm có sữa, nước quả, glucoza trong những ngày đầu sau đó thêm ngũ cốc, trứng, thịt:
Mẫu thực đơn trong 2 - 3 ngày đầu:
6 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml (sữa đậu nành: 50ml, sữa bò: 50ml, đường: 10g)
9 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
12 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
15 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
18 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
21 giờ: Glucoza 20%: 100ml
Mẫu thực đơn trong những ngày sau:
6 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml (sữa đậu nành: 50ml, sữa bò: 50ml, đường: 10g)
9 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
12 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
Cháo trứng: 200ml (gạo lẻ: 20g, trứng gà: 1 quả)
15 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
18 giờ: Sữa hỗn hợp: 100ml
Cháo đường: 200ml (gạo: 20g, đường: 30g)
21 giờ: Glucoza 20%: 100ml
Giá trị dinh dưỡng của thực đơn: năng lượng: 1.025Kcal; protein: 26,7g; muối: 0,8g.

Theo ThS. BS Lê Thị Hải -Sức khỏe và Đời sống

Tim khỏe mạnh nhờ dâu tây

Một nghiên cứu mới đây được công bố trên chuyên trang indiatimes.com (Ấn Độ) cho biết, thường xuyên ăn dâu tây có thể cải thiện sức khỏe tim mạch rất tốt.

Theo đó, các nhà khoa học thuộc trường ĐH Politecnica delle Marche (Ý) đã tiến hành nghiên cứu đối với một nhóm tình nguyện viên tham gia ăn nửa ký dâu tây mỗi ngày trong vòng một tháng.
Kết quả cho thấy, nồng độ cholesterol trong máu và triglycerides (chất béo trung tính) ở tim giảm xuống rất đáng kể, thậm chí giảm xuống mức còn 20%.
Các nhà khoa học cho biết, dâu tây chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống ôxy hóa giúp tăng cường hệ miễn dịch, điều chỉnh sự lưu thông máu diễn ra tốt hơn, đồng thời làm giảm thiểu huyết khối và cholesterol xấu trong máu nên giúp tim khỏe mạnh.
Kết quả nghiên cứu này đồng thời còn được xuất bản trên Tạp chí Sinh hóa Dinh dưỡng cũng cho biết thêm, một số tình nguyện viên sau khi tham gia thử nghiệm đã ngừng ăn dâu tây khoảng vài tháng, các chỉ số cholesterol trong máu của họ đã tăng lên một cách rõ rệt. 
Do đó, các nhà khoa học khuyến cáo chúng ta nên thường xuyên ăn dâu tây để bảo vệ sức khỏe tim mạch hiệu quả hơn.

Ảnh: flickr.com

Theo Đình Huệ - Phụ Nữ thành phố

Bí quyết bảo vệ tim

Theo đánh giá của Hiệp hội Tim mạch Mỹ, bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại Mỹ, và 49% người trưởng thành có ít nhất một yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Và để duy trì trái tim khỏe mạnh, các chuyên gia khuyên bạn nên tuân thủ thực hiện một số phương pháp dưới đây.
Đi bộ giúp trái tim khỏe mạnh. Ảnh internet
TS Judith Mackall - chuyên gia tim mạch tại Trung tâm Y tế Bệnh viện Trường ĐH Case Western Reserve, ở Cleveland (Mỹ) cho biết, thực hiện luyện tập thể dục 30phút/ngày sẽ mang lại lợi ích to lớn cho trái tim của bạn.
Trong trường hợp không thể thực hiện 30 phút/lần tập, bạn có thể chia làm 3 lần tập, mỗi lần 10 phút. Nghiên cứu cho thấy, việc tập thể dục thường xuyên có thể giúp cải thiện mức cholesterol, giảm cân và ổn định huyết áp trong vòng 10 tuần.
Bên cạnh đó, theo TS Mackall, chế độ ăn uống lành mạnh cũng đóng vai trò rất quan trọng. Để cân bằng mức dưỡng chất cho cơ thể cũng như giúp tăng cường sức khỏe tim, bạn nên thường xuyên bổ sung ít nhất năm khẩu phần trái cây và rau xanh vào chế độ ăn hàng ngày.
Vì các loại dưỡng chất và chất chống oxy hóa được tìm thấy trong trái cây và rau xanh có tác dụng giúp kiểm soát huyết áp và giảm viêm - hai yếu tố nguy cơ cao gây bệnh tim.
Ngoài ra, nếu bạn là người nghiện thuốc lá, hãy tìm cách từ bỏ thói quen gây hại này ngay từ bây giờ. Vì khói thuốc lá được đánh giá là một trong số các tác nhân hàng đầu gây bệnh tim.
TS Mackall cảnh báo: "Những người nghiện hút thuốc lá sẽ bị giảm 7 năm tuổi thọ. Đặc biệt, nếu bạn vẫn hút thuốc lá trong khi mắc bệnh tim mạch, bạn sẽ bị giảm đến 15 năm tuổi thọ so với những người không hút thuốc”.

Theo Nguyễn Niệm - Phụ Nữ TPHCM/ Goodhealth

Biện pháp “đặc trị” huyết áp thấp

Huyết áp thấp làm cho cơ thể mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, khi ngồi xuống đứng lên hay tối sầm mắt... tinh thần buồn bã, công việc kém hiệu quả.


Ảnh minh họa.

Người huyết áp thấp lúc nào cũng buồn ngủ, hay ngáp vặt vì não thiếu oxy. Đặc biệt, khi trời nóng nực, oi ả, nhiệt độ cao thì cơ thể càng trở nên bứt rứt khó chịu, chóng mặt nhiều và xuất hiện hội chứng tiền đình (hội chứng tiền đình là hậu quả của việc huyết áp thấp khiến đầu óc quay cuồng, mắt nhắm nghiền, buồn nôn, người lạnh toát, mồ hôi vã ra, chân tay rã rời, chóng mặt, thở yếu, nói nhỏ, không đi lại được...).
Đông y cho rằng, huyết áp thấp là do khí huyết hư làm cho chân thận kém và tỳ vị thương tổn. Để chữa huyết áp thấp, phải bổ huyết hành khí. Bài thuốc: Bạch thược 12g, cao ban long 12g, thục địa 16g, a giao 8g, xuyên khung 8g, kỳ tử 12g, đương quy 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu ăn ngủ kém, đi ngoài phân lỏng thì dùng bài thuốc sau: Đẳng sâm 16g, táo nhân 8g, bạch truật 16g, long nhãn 12g, hoàng kỳ 12g, phục linh 8g, đương quy 6g, thục địa 12g, mộc hương 6g, bạch thược 12g, viễn trí 8g, kỷ tử 12g, đại táo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Để chữa trị hiệu quả, bên cạnh việc dùng thuốc, người bệnh nên kết hợp phương pháp xoa bóp bấm huyệt và một số biện pháp khác, cụ thể như sau: Người huyết áp thấp nên nằm đầu thấp, hạn chế ở trong điều hòa. 

Tắm nước ấm, không được tắm nước lạnh và không tắm quá lâu. Buổi sáng không nên bật dậy ngay mà phải nằm tại giường, vận động nhẹ nhàng, lấy tay xoa mặt, xoa ngực, bụng, tay nọ bóp tay kia, 2 chân co duỗi nhẹ nhàng. Sau khi tập khoảng 10 phút mới ngồi dậy từ từ.
Để xoa bóp, dùng 2 ngón tay day nhẹ vào hai huyệt thái dương 50 vòng (giao điểm đuôi mắt - lông mày), sau đó dùng hai ngón trỏ day nhẹ vào 2 huyệt xuất cốc (trên vành tai 2cm); ấn tay vào đỉnh đầu (huyệt bách hội) thả tay ra rồi lại ấn tiếp 20 cái; day hai huyệt phong trì (chỗ lõm sau 2 bên gáy).
Người huyết áp thấp cần tập thể dục nhẹ nhàng tại chỗ hoặc đi bộ để khí huyết lưu thông, giữ tinh thần vui vẻ thoải mái, làm việc nhẹ nhàng, tránh vận động mạnh, tránh thay đổi tư thế đột ngột. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất dinh dưỡng, tăng cường ăn thực phẩm giàu đạm như thịt dê, thịt bò, thịt chó, cá chép, gà trống, tôm, cua...; tăng cường ăn hoa quả để cung cấp vitamin cho cơ thể.
Đặc biệt, người huyết áp thấp không được bỏ bữa vì bỏ bữa sẽ khiến huyết áp tụt, gây nguy hiểm như tai biến mạch máu não do nhồi máu não. Người huyết áp thấp được ăn các loại gia vị như gừng, tỏi, tiêu ớt... được uống cà phê và có thể dùng một chút các chất kích thích như bia, rượu, trà có đường...

Khi huyết áp tối đa đo được dưới 90, huyết áp tối thiểu dưới 60mmHg (90/60mmHg) thì được xếp vào bệnh huyết áp thấp.


Theo BS Kim Lan - Kiến thức

Sau đột quỵ, tập đi sai cách dễ thoái hóa khớp gối

Các triệu chứng của đột quỵ thường là: tê yếu một bên cơ thể, nói líu lưỡi, hoặc không kiểm soát được ngôn ngữ; đột ngột hoa mắt chóng mặt hoặc nhìn mờ; đi đứng loạng choạng; không thể cầm nắm; đau đầu, kèm nôn ói….
Tuổi càng cao, nguy cơ đột quỵ càng tăng. Nguy cơ đột quỵ tăng gấp hai lần sau 50 tuổi, nhất là kèm theo các yếu tố về lối sống không lành mạnh như: hút thuốc, nghiện rượu, tăng huyết áp, bệnh tim, tiểu đường, tăng mỡ máu, ít vận động, chế độ dinh dưỡng nhiều chất béo động vật, căng thẳng.
Sau đột quỵ, vì mong muốn nhanh phục hồi sức khỏe, nhiều người đã tích cực tập luyện - cụ thể là tập đi. Nếu tập đi không đúng phương pháp, có thể khiến BN bị thoái hóa khớp gối.
BS Nguyễn Đăng Khoa, Trưởng khoa Vật lý trị liệu - phục hồi chức năng (BV Chợ Rẫy), cho biết, sau đột quỵ, cảm giác cơ thể bị suy giảm, mất khả năng co cơ theo ý muốn... Do không đủ khả năng chống đỡ cơ thể, nên BN sẽ chọn tư thế gối ưỡn hoặc gấp quá mức để khoá gối nhằm đáp ứng mong muốn đi sớm. Không chỉ về mặt thẩm mỹ, biến chứng của nó là gối ưỡn thành hình chữ C, lâu dần, gối ưỡn sẽ gây thoái hóa khớp.
Sau đột quỵ, tập đi sai cách dễ thoái hóa khớp gối
Do đó, BN sau khi được điều trị đột quỵ cần được các chuyên gia vật lý trị liệu hướng dẫn cách đi đứng, cầm nắm. BN liệt nửa người, cần phải được tập để cải thiện sức mạnh cơ đùi, co và thư giãn cơ đúng lúc. BS Khoa cho biết các bài tập bao gồm: kéo dãn cơ, tập để chân liệt chịu được sức nặng, kiểm soát khớp gối ở giới hạn vận động từ 0 đến 5 độ để gối cử động uyển chuyển. 
Bên cạnh đó, để tăng cường sức mạnh cho cơ, các chuyên gia có thể sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như kích thích bằng điện, châm cứu điện hay giúp BN dãn cơ đang co cứng bằng thuốc chích Botox.
Hiện nay, tại Khoa Vật lý trị liệu - phục hồi chức năng (BV Chợ Rẫy) các bác sĩ còn áp dụng nẹp chỉnh hình AFO (Ankle-Foot-Orthosis: nẹp chỉnh hình cổ bàn chân) hỗ trợ điều trị vùng cổ bàn chân, hay nẹp gối chống ưỡn hỗ trợ khớp gối. Nẹp AFO hay nẹp chống ưỡn giúp điều chỉnh và giữ vững cẳng chân, tạo thuận lợi cho kiểm soát khớp gối gập hay duỗi. 
Sau một tháng mang các nẹp hỗ trợ này, BN sẽ được đánh giá lại để xem có thể tiếp tục mang hay tháo bỏ nẹp. Đối với những BN đã bị gối ưỡn và có những cơn đau khớp gối do tập đi sai cách, các nẹp hỗ trợ sẽ giúp BN giảm đau đáng kể, nhưng phải mang nẹp suốt đời.

Theo Nga Thanh - Phụ Nữ Online

Trứng có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim

Trứng có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim, đây là báo cáo mới nhất của nhóm nghiên cứu trường ĐH Dược New England Journal.

Không ai có thể phủ nhận được lợi ích mà trứng mang lại cho cơ thể. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới từ trường ĐH Dược New England Journal đã phát hiện ra rằng việc ăn quá nhiều trứng mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ ngay cả với những đối tượng mà người nhà không có tiền sử bị bệnh này.
Thậm chí nguyên nhân ăn trứng tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ còn đáng ngạc nhiên hơn.
Trứng gà làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim
Trước đây người ta nghĩ rằng cholesterol trong trứng thúc đẩy bệnh tim, nhưng nghiên cứu này cho thấy rằng một yếu tố khác trong trứng là nguyên nhân chính gây ra bệnh này. Yếu tố được phát hiện ra là một chất chuyển hóa được tìm thấy trong lòng đỏ trứng được gọi là lecithin.
Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy ra thành nhiều thành phần khác nhau, bao gồm choline hóa học.
Ông Stanley Hazen, MD, PhD, Chủ tịch bộ phận Y học Tế bào và Phân tử tại Viện Nghiên cứu Cleveland Clinic Lerner giải thích: "Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng một chất mới sau đó chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxide (hay còn gọi là TMAO).
TMAO tăng tốc độ và mảng bám cholesterol tích tụ trong động mạch, tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ".
Những phát hiện này được đưa ra chỉ hai tuần sau khi một nhóm nghiên cứu khác trình bày về mối liên kết giữa carnitine (được tìm thấy trong thịt bò và một số loại đồ uống năng lượng) và nguy cơ đau tim.
"Cả hai nghiên cứu đã chỉ ra những đối tượng tiềm năng có nguy cơ bị bệnh tim cao nhất" Hazen nói.
Điều đó có nghĩa rằng bạn phải "cai" trứng hoàn toàn? Câu trả lời là: Không nhất thiết. "Điều độ là chìa khóa" Hazen nói.
Ông cũng đề nghị cắt giảm thực phẩm chứa chất béo, thực phẩm nhiều cholesterol-laden có chứa hóa chất có thể chuyển đổi thành TMAO.
"Kể cả lòng đỏ trứng - nguồn duy nhất chứa choline trong trứng, lòng trắng trứng là lựa chọn an toàn nhất và cũng là một nguồn tuyệt vời của protein ít chất béo".

Theo Thanh Hảo - Gia đình Việt Nam

16 tiêu chí nhận biết con tim bạn đang khỏe hay yếu

Chỉ cần xét 16 tiêu chí, bạn đã có thể biết “sơ sơ” được con tim đang đập trong lồng ngực mình còn khỏe hay đã thấm mệt. Nếu ở ngưỡng 15 điểm thì bạn nên đến bác sĩ ngay.

Các tiêu chí này phải dựa vào một số kết quả trong đợt khám bệnh gần nhất để đánh giá khả năng chịu đựng của trái tim, chẳng hạn qua các tiêu chí dưới đây:
1. Huyết áp trong 6 tháng vừa qua thường cao hơn trị số 140/90mmhg? (2 điểm).
2. Hàm lượng ldl-cholesterin trong 3 tháng gần đây cao hơn 180mg/dl? (2 điểm).
3. Hàm lượng triglyceride trong 3 tháng gần đây cao hơn 150mgmg/dl? (2 điểm).
4. Trị số acid uric trong máu trong 3 tháng gần đây cao hơn 6,5mg/dl? (2 điểm).
5. Bạn đang hút thuốc:
- ít hơn 20 điếu mỗi ngày (1 điểm).
- nhiều hơn 20 điếu mỗi ngày (2 điểm).
6. Trị số bmi (body mass index) là chỉ số cơ thể được các bác sĩ và các chuyên gia sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị béo phì, thừa cân hay quá gầy hay không.
- trong khoảng 25 - 30 (1 điểm).
- trên 30 (2 điểm).
7. Mạch đo ở cổ tay trong lúc không vận động thường trong khoảng:
- 80 - 90 (1 điểm).
- nhanh hơn 90 (2 điểm).
8. Lượng đường đo lúc bụng đói và trong khoảng 3 tháng gần đây:
- trong khoảng 100 - 120mg/dl (1 điểm).
- cao hơn 120mg/dl (2 điểm).
9. Bạn có:
- ít khi chơi thể thao đến 3 lần trong tuần (1 điểm).
- ngồi hơn 6 giờ khi làm việc (2 điểm).
10. Bạn có thói quen:
- không uống trà (1 điểm).
- không ăn trái cây mỗi ngày (2 điểm).
11. Bạn có:
- đang dùng thuốc ngừa thai (1 điểm).
- thường dùng thuốc giảm đau (2 điểm).
12. Bạn phải làm việc:
- ngoài giờ (1 điểm).
- dưới áp lực thời gian (2 điểm).
13. Bạn có người thân:
- đã bị nhồi máu cơ tim (1 điểm).
- tai biến mạch máu não trước tuổi 65 (2 điểm).
14. Bạn thường:
- uống nước không đủ 2,5 lít mỗi ngày (1 điểm).
- không ăn cá biển đến 2 lần trong tuần (2 điểm).
15. Bạn thuộc lứa tuổi:
- trong khoảng 30 -40 (1 điểm).
- trên 40 (2 điểm).
16. bạn có:
- cảm giác đau nhói trong lồng ngực khi gắng sức (2 điểm).
- bị hụt hơi khi lên cầu thang dù chưa đến tầng 4 (2 điểm).
sau khi cộng điểm, nếu:
- dưới 5 điểm: thành thật chúc mừng bạn vì không dễ gì có số điểm như thế trong cuộc sống căng thẳng hiện nay.
- từ 5-9 điểm: cho dù chưa có triệu chứng bệnh lý rõ ràng nhưng trái tim của bạn đã ngấp nghé trước ngưỡng cửa phòng khám. bạn nên dựa vào các câu đã “ăn 2 điểm” để điều chỉnh nếp sinh hoạt, càng sớm càng tốt. sau đó vài tháng nên lập lại bản trắc nghiệm để so sánh kết quả trước rồi đi đến quyết định cần gõ cửa thầy thuốc hay chưa.
- trên 10 điểm: trái tim thân thương của bạn đang bị đe dọa nặng nề. đừng khoanh tay ngồi chờ xe cấp cứu. cần mạnh dạn giảm cân cho bằng được nếu béo phì. tối thiểu nên đi bộ nhiều hơn thay vì bó gối chờ ngày... nhập viện!
- trên 15 điểm: bạn đã thuộc diện phải gõ cửa thầy thuốc, tốt nhất là hôm nay!
đáng tiếc vì tim có khả năng bù trừ rất cao. để tim ra đến nông nỗi tang thương phần lớn là do người bệnh trước đó quá hững hờ với trái tim của chính mình.


Theo BS Lương Lễ Hoàng  - Dân Việt

Bệnh động mạch vành nguy hiểm như thế nào?

Nếu như tai biến mạch máu não thường được biết đến như là bệnh của người cao tuổi thì bệnh động mạch vành.

Bệnh động mạch vành là căn nguyên gây tử vong số mộttrong các bệnh lý tim mạch hiện nay. Tại Việt Nam, bệnh động mạch vành ngày càng gia tăng và trẻ hóa, gây ảnh hưởng nặng đến sức khỏe người bệnh.
Nếu như tai biến mạch máu não thường được biết đến như là bệnh của người cao tuổi thì bệnh động mạch vành, trong đó nguy hiểm nhất là nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực lại có thể xảy ra ngay cả ở những người còn rất trẻ và khỏe mạnh. Sự thay đổi chế độ dinh dưỡng, áp lực cuộc sống đang làm bệnh lý này gia tăng.
Vai trò của động mạch vành trong cơ thể
Quả tim là một khối cơ rỗng có vai trò giống như một máy bơm. Tim bơm máu đi cung cấp cho toàn bộ cơ thể. Quả tim bao gồm hai phần có chức năng khác nhau: Tim phải nhận máu tĩnh mạch (máu đen) đến từ các bộ phận của cơ thể và bơm chúng lên phổi. Tại đây máu tĩnh mạch được làm giàu ôxy và trở thành "máu đỏ". 
Tim trái nhận máu từ các tĩnh mạch phổi (máu đỏ) và bơm chúng lên động mạch chủ để đưa đến các cơ quan qua hệ động mạch ngoại biên. Mỗi phần có buồng nhận máu, được gọi là tâm nhĩ và buồng bơm máu, được gọi là tâm thất. 
Các tâm thất có thành cơ dày (cơ tim) co bóp đều đặn (tần số khoảng 60 - 70 lần/phút khi nghỉ ngơi) để bơm máu đến các bộ phận khác nhau của cơ thể, làm cho dòng máu chảy trong các động mạch theo nhịp đập của tim.
Hút thuốc lá gây nguy cơ cao mắc bệnh động mạch vành.Hút thuốc lá gây nguy cơ cao mắc bệnh động mạch vành.
Các tâm nhĩ được ngăn cách với các tâm thất bởi các van tim (van ba lá ở bên phải và van hai lá ở bên trái). Các van tim này chỉ cho dòng máu chảy theo một chiều: khi tâm thất bóp để tống máu vào trong động mạch thì các van này đóng lại để ngăn cản dòng máu phụt ngược lên tâm nhĩ. 
Có các van tim tại các cửa ra của các tâm thất (van động mạch phổi tại cửa ra của tâm thất phải và van động mạch chủ tại cửa ra của tâm thất trái), các van này ngăn cản dòng máu chảy ngược về tâm thất trong thời kỳ tâm trương. 
Để cơ tim hoạt động được, cũng như các cơ quan khác trong cơ thể, cơ tim cần được cung cấp đủ máu giàu ôxy. Máu được cung cấp cho cơ tim qua hệ thống động mạch vành. Các nhánh động mạch vành xuất phát từ gốc động mạch chủ. 
Hệ động mạch vành gồm có động mạch vành trái và động mạch vành phải. Các động mạch này chia ra các nhánh nhỏ hơn tới nuôi từng vùng cơ tim.
Điều gì xảy ra khi mắc bệnh động mạch vành?
Để hoạt động được bình thường, cơ tim cần được cung cấp năng lượng và ôxy bởi các động mạch vành. Bệnh động mạch vành xuất hiện khi một hoặc nhiều nhánh động mạch này bị tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn (thường là do các mảng xơ vữa). 
Thông thường cơn đau thắt ngực có thể xảy ra khi động mạch vành bị hẹp trên 50% khẩu kính của lòng mạch. Khi hoạt động thể lực, cơ thể cần nhiều ôxy hơn nên cơ tim phải làm việc nhiều hơn như: tăng co bóp, tăng tần số tim, huyết áp tăng... do đó nhu cầu ôxy của cơ tim cũng tăng lên. 
Nếu một nhánh động mạch vành bị hẹp, sự cung cấp máu cho vùng cơ tim tương ứng trở nên không đầy đủ. Cơ tim bị thiếu máu và thiếu ôxy gây cơn đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực này thường xảy ra khi bệnh nhân gắng sức và giảm đi khi bệnh nhân được nghỉ ngơi, nên người ta gọi là cơn đau thắt ngực ổn định. 
Nếu các mảng xơ vữa trong động mạch vành bị nứt, vỡ ra thì cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện cả khi nghỉ ngơi nên người ta gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định.
Điều trị bệnh động mạch vành thế nào?
Điều trị nội khoa: Điều trị bằng thuốc, có thể dùng một hoặc nhiều loại thuốc kết hợp với nhau. Phương pháp này làm giảm được triệu chứng nhưng không giải quyết được nguyên nhân là hẹp lòng động mạch vành.
Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật làm cầu nối chủ - vành. Vùng cơ tim bị thiếu máu sẽ được cung cấp máu bởi một mạch máu khác vòng qua chỗ động mạch vành bị hẹp hoặc tắc.
Tim mạch can thiệp: Can thiệp động mạch vành qua da là phương pháp không phải phẫu thuật nhưng vừa làm giảm triệu chứng, vừa giải quyết được nguyên nhân là hẹp lòng động mạch vành.
Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp ngoại khoa hay tim mạch can thiệp thì việc sử dụng liên tục các thuốc là hết sức cần thiết để duy trì kết quả của các thủ thuật này. 
Bên cạnh đó, cần phải thay đổi lối sống như: không hút thuốc lá; luyện tập thể dục thường xuyên, đặc biệt là tập đi bộ; tránh căng thẳng quá mức; ăn nhạt, không ăn mỡ và các phủ tạng động vật, hạn chế ăn trứng, sữa, đồ ngọt; không uống quá nhiều rượu, bia. 
Và điều trị một số bệnh có liên quan đến bệnh động mạch vành: điều trị bệnh đái tháo đường; ăn chế độ giảm cân, chống béo phì; điều trị rối loạn lipid máu; điều trị bệnh tăng huyết áp.
Hiện nay có khoảng 24% bệnh nhân động mạch vành điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam, BV Bạch Mai. Những thay đổi trong đời sống kinh tế, xã hội đã ảnh hưởng nhiều tới tập quán sinh hoạt của người Việt Nam và đó có thể là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng bệnh động mạch vành ở nước ta.
Bệnh động mạch vành không nhất thiết phải xảy ra một cách từ từ. Nếu mảng xơ vữa bị vỡ ra có thể gây tắc mạch đột ngột hay tạo thành cục huyết khối gây tắc mạch. Lúc này động mạch bị tắc hoàn toàn và gây ra nhồi máu cơ tim. 
Trong cả hai trường hợp, các tế bào cơ tim bị thiếu ôxy đột ngột, cạn kiệt nguồn dự trữ năng lượng và chết giống như các cây bị khô kiệt nước. Hậu quả của nhồi máu cơ tim phụ thuộc vào độ rộng của vùng nhồi máu. Vùng cơ tim bị chết càng rộng thì chức năng tim càng giảm nặng. Đây là một trong các nguyên nhân thường gặp nhất của suy tim.

Theo PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn - Sức khỏe và Đời sống

Những chứng bệnh do ăn quá no

Ăn quá no sẽ tạo gánh nặng cho hệ tiêu hóa, dạ dày và làm cơ thể ngày càng phát phì… từ đó sẽ phát sinh ra nhiều loại bệnh chỉ vì việc ăn của bạn.

1. Dạ dày
Dạ dày cũng cần phải được nghỉ ngơi. Vì thế, nếu bạn ăn quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho dạ dày. Cứ sau 2-3 ngày, các tế bào biểu mô dạ dày cần phải được làm mới một lần. Nghĩa là, thực phẩm của bữa ăn trước đó cần phải được tiêu thụ hết mới có thể tiêu hóa được thức ăn của bữa kế tiếp.
Khi bạn bắt dạ dày hoạt động quá tải, niêm mạc dạ dày không thể tiết dịch vị và sẽ phá hủy các hàng rào niêm mạc dạ dày, dẫn đến viêm loét dạ dày, xuất hiện triệu chứng khó tiêu. Nếu tình trạng này kéo dài, có thể gây ra lở loét và các bệnh dạ dày khác.
2. Béo phì
Ăn quá nhiều và những thức ăn có hàm lượng protein cao khiến cho việc tiêu hóa trở nên khó khăn hơn. Sự tích tụ các chất dinh dưỡng dư thừa trong cơ thể sẽ dẫn đến hậu quả là bệnh béo phì. Điều này không chỉ khiến bạn mất tự tin về cơ thể mình, mà nó còn rất dễ dẫn đến một loạt các chứng bệnh bao gồm cả bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ, xơ cứng động mạch, viêm túi mật…
3. Bệnh tim
Nếu thường xuyên ăn quá no, ăn nhiều mỡ, đạm thì bạn có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch rất cao, nguy hiểm nhất là bệnh động mạch vành tim. Bệnh này liên quan mật thiết với việc ăn uống.
Khi bạn ăn quá nhiều thì thức ăn trong quá trình tiêu hóa sẽ làm tăng gánh nặng cho tạng tim, khiến sự co bóp của tim bị hạn chế. Quá nhiều chất béo trong thức ăn sẽ khiến cholesterol tích lắng ở thành động mạch, làm cho động mạch xơ cứng nhanh, gây ảnh hưởng tới động mạch vành của người bệnh.
4. Alzheimer
Không chỉ tác động lên thành ruột hay dạ dày, những độc tố do quá trình phân hủy thức ăn không được tiêu hóa khi hấp thụ còn làm tổn hại hệ thần kinh trung ương. Thường xuyên ăn no trong thời gian dài còn khiến não bộ sinh ra một loại tế bào có hại cho não, lâu dần sẽ dẫn đến xơ cứng động mạch. Nếu để thời gian dài, tế bào não bị thiếu ôxy khiến năng não suy giảm, trí nhớ kém, tư duy chậm…
5. Ung thư
Các nhà khoa học Nhật Bản đã chỉ ra rằng, một bữa ăn quá tải có thể gây ra các hoạt động làm giảm khả năng ức chế ung thư biểu mô tế bào, một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư. Đặc biệt, nếu bạn ăn quá nhiều dinh dưỡng vào buổi tối, chúng sẽ chịu tác dụng của vi khuẩn yếm khí trong đại tràng và sinh ra chất có hại cho cơ thể, những chất này lưu lại trọng đường ruột thời gian dài sẽ gây ra ung thư đại tràng.
6. Mệt mỏi
Ăn quá nhiều sẽ làm cho não không đáp ứng kịp, đẩy nhanh sự lão hóa của não. Sau khi ăn xong, hệ thống tiêu hóa vẫn liên tục “làm việc”, dạ dày phải co bóp nhiều lần để tiêu hóa lượng lớn thức ăn mà bạn nạp vào, vì thế bạn sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, khó chịu, tức bụng và buồn ngủ…
7. Bệnh loãng xương
Việc bạn nạp thực phẩm vào cơ thể một cách không chọn lọc và sự thỏa mãn sở thích ăn uống trong một thời gian dễ dàng làm cho xương bạn bị mất muối can-xi, tăng xác suất mắc bệnh loãng xương.

Theo Sức khỏe gia đình

Tăng huyết áp - Làm gì để ngăn biến chứng?

Tăng huyết áp (THA) có thể gặp ở cả trẻ em, thanh thiếu niên nhưng chủ yếu là ở người trưởng thành, nhất là người cao tuổi

Bệnh gây nhiều biến chứng, thậm chí rất nguy hiểm đến tính mạng như tai biến mạch máu não, cơ tim thiếu máu cấp tính đưa đến suy cơ tim cấp hoặc suy tim, suy thận, rối loạn tuần hoàn não.
Thế nào là tăng huyết áp?
Được coi là THA khi huyết áp từ 140/90mmHg trở lên. THA có ba mức độ, độ I là khi huyết áp từ 140 - 159/90-99mmHg; độ II khi huyết áp từ 160 - 179/100-109mmHg và độ III khi huyết áp từ 180/110mmHg trở lên. 
Tuy vậy, huyết áp của một người bình thường cũng có dao động, huyết áp thường cao dần từ lúc thức giấc buổi sáng và gia tăng nhiều hay ít tùy thuộc vào sự vận động và trạng thái tinh thần.
Tăng huyết áp - Làm gì để ngăn biến chứng?
Biến chứng tim mạch do tăng huyết áp.
Vì sao bị THA và những ai dễ bị THA?
Cho đến nay có khoảng từ 93 - 95% số người THA không rõ nguyên nhân (được gọi là THA nguyên phát). THA biết được nguyên nhân thường gặp ở những bệnh nhân có bệnh về thận (suy thận, viêm thận mạn...), hẹp eo động mạch chủ, bệnh cường giáp trạng hoặc do dùng một số thuốc có tác dụng phụ làm tăng huyết áp hoặc do uống nhiều rượu, bia, các chất kích thích (thuốc lá, thuốc lào). 
Tuy vậy, khi đo huyết áp thấy 140/90mmHg thì chưa nên kết luận ngay là người đó bị THA mà nên được kiểm tra lại vài ba kỳ trong vòng một tháng, mỗi một kỳ nên tiến hành đo ít nhất 3 lần. Trước mỗi một lần đo người nghi bị THA phải được nghỉ ngơi khoảng 20 phút và trước đó không uống bia, rượu, chất kích thích khác (cà phê và không hút thuốc lá).
Ngoài ra, những người bị bệnh tiểu đường, người nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người béo phì, ít vận động, người ăn mặn hoặc có rối loạn chuyển hoá mỡ máu...
Và biến chứng nguy hiểm của THA
Rất nhiều người bị THA mà không hề biết vì họ không thấy có biểu hiện gì đáng chú ý nên thậm chí còn chạy bộ, chơi các môn thể thao (bóng đá, bóng chuyền) hoặc uống rượu bia, hút thuốc lá. 
Tuy bệnh THA là thầm lặng nhưmg rất nguy hiểm có thể gây chết người, vì có thể đưa đến nhiều biến chứng, thậm chí rất nguy hiểm như tai biến mạch máu não, cơ tim thiếu máu cấp tính đưa đến suy cơ tim cấp hoặc suy tim, suy thận, rối loạn tuần hoàn não (là một biến chứng hay gặp). 
THA tác động vào các tế bào trong lòng động mạch, nhất là các động mạch đã bị xơ vữa càng bị xơ vữa thêm, huyết áp lại càng tăng cao, nhất là động mạch ở não đưa đến tai biến mạch máu não do vỡ động mạch ở não, nếu không cấp cứu kịp thời có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng liệt mặt, tay, chân, nói khó.
Người cao tuổi cần làm gì để phòng bệnh THA?
Người cao tuổi nên đi khám bệnh định kỳ để được phát hiện bệnh sớm và điều trị đúng. Hàng ngày không nên ăn mặn, hạn chế hoặc kiêng uống rượu bia, uống đủ nước (tránh cô đặc máu sẽ hình thành huyết khối). 
Thay vì ăn thịt thì ăn cá (3 lần/tuần), bởi vì trong cá có loại protein làm giảm huyết áp, hơn nữa trong mỡ cá có nhiều omega-3 là loại có khả năng điều hòa tim mạch. Không nên ăn hoặc hạn chế các loại thịt đỏ như thịt trâu, bò, dê, ngựa, ngan, vịt,... 
Tăng cường ăn các loại thức ăn giàu magiê như giá đỗ và ăn thêm các loại đậu, đỗ, khoai sọ, ngô, khoai tây. Ăn thêm các loại thực phẩm có chứa nhiều vitamin C, PP như các loại quả chín (cam, quýt, bưởi) hoặc một số loại rau như rau dền, rau ngót, rau đay, rau sam. 
Nên tập thể dục đều đặn, nhẹ nhàng, tốt nhất là đi bộ, tập dưỡng sinh (mỗi ngày khoảng 60 phút chia thành 4 - 5 lần), không tập vào lúc trời lạnh hoặc quá nắng, nóng; không tập những động tác mạnh, khó và tuỳ theo sức khỏe và điều kiện nhưng phải theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị. 
Tuyệt đối tuân thủ chỉ định của bác sĩ, không tự động bỏ thuốc hoặc nghe theo sự mách bảo của người khác mà thay đổi thuốc đang điều trị, không dùng đơn thuốc của bệnh nhân khác để điều trị cho mình. Bởi vì, thuốc điều trị hạ huyết áp có nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau, có thể nhóm thuốc này phù hợp với người này nhưng không phù hợp với người kia. 
Nên đo huyết áp hàng ngày, trước khi đo cần nghỉ khoảng 15 phút, không hút thuốc, không uống rượu, bia, cà phê, không hút thuốc lá. Cần tích cực điều trị các bệnh kèm theo như bệnh đái tháo đường, rối loạn tuần hoàn não, xơ vữa động mạch, rối loạn mỡ máu...

Theo BS. Đặng Bùi Phương Linh - Sức khỏe và Đời sống

Người đã kết hôn ít nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Một nghiên cứu mới đây tại Mỹ đã chỉ ra rằng những người đã lập gia đình có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn 5% so với những người độc thân.

Một nghiên cứu mới đã xem xét mối liên hệ giữa và sức khỏe tim mạch.
Nghiên cứu được tiến hành trên 3,5 triệu người Mỹ trưởng thành đã phát hiện ra rằng những người đã lập gia đình có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch thấp hơn hẳn so với những người độc thân, hoặc góa chồng.
"Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy rõ ràng rằng khi nói đến bệnh tim mạch, tình trạng thực sự quan trọng", Carlos Alviar, MD, người đứng đầu nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Lagone của Đại học New York nói.
Người có gia đình có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch thấp hơn hẳn so với những người độc thân, hoặc góa chồng.
Nghiên cứu cũng cho thấy những người đã lập gia đình có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn 5% so với những người độc thân, thấp hơn 3% so với những người góa bụa và thấp hơn 5% những người .
Những con số này được cải thiện đáng kể cho các cặp vợ chồng trẻ. Nghĩa là những người dưới 50 tuổi có một gia đình trọn vẹn có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn 12% so với những người độc thân trẻ tuổi khác.
Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những người đã là những người có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao nhất. Tỷ lệ bị bệnh béo phì phổ biến nhất ở những người độc thân và , người góa bụa là nhóm người chiếm tỷ lệ cao nhất của bệnh tiểu đường, huyết áp cao.
Hôn nhân sẽ làm bạn sống lạc quan, yêu đời và mạnh khỏe hơn
Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2003 đến 2008 tại hơn 20.000 địa điểm kiểm tra ở tất cả 50 tiểu bang. Độ tuổi trung bình là 64 tuổi và 63 %những người tham gia là phụ nữ, gần 90% là người da trắng.
Kết quả này đã được trình bày công khai ngày 29 tháng 3 tại Washington, DC, tại kỳ họp khoa học thường niên của American College of Cardiology.
AloBacsi.vn
Theo Thanh Hảo - Gia đình Việt Nam