Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Đu đủ - "Thuốc quý" bảo vệ tim mạch

Không chỉ có tác dụng bảo vệ tim mạch, đu đủ còn giúp tăng cường sức đề kháng, chống viêm nhiễm, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.

Vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A.
Các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được.
Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có có thể ức chế quá trình oxy hóa.
Đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol), riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino.
Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.
Tăng cường sức đề kháng: Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai...
Tăng cường cho hệ tiêu hóa: Chất xơ có trong đu đủ có thể “thu gom” các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh.
Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng.
Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.
Thuốc chống viêm nhiễm: Trong đu đủ có chứa hợp chất có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương.
Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.
Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp: Vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp.
Tăng cường chức năng phổi: Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ.
Tốt cho mắt: Đu đủ giàu beta carotene và vitamin A, tốt cho mắt, đồng thời ngăn chặn chứng thoái hóa điểm vàng, đặc biệt là đối với người có tuổi.
Nếu bạn không muốn một ngày nào đó mắt mình kèm nhèm thì hãy tăng cường ăn đu đủ ngay từ bây giờ, nó sẽ chăm sóc tốt cho đôi mắt của bạn.
Ngăn ngừa đông máu: Nếu bạn dùng thuốc tránh thai và hút thuốc thì sẽ tăng nguy cơ các cục máu đông hình thành trong động mạch.
Để ngăn chặn chứng bệnh này, bỏ hút thuốc là việc đầu tiên bạn phải làm, mặt khác hãy ăn thêm nhiều đu đủ bởi nó có chứa fibrin (một loại enzyme được tìm thấy trong đu đủ) có thể giúp ngăn ngừa các cục máu đông.
Giảm stress: Đu đủ chứa nhiều vitamin C có lợi cho cơ thể, rất hiệu quả trong việc kiểm soát các hormone gây stress.
Vì vậy, sau một ngày làm việc mệt mỏi, nhâm nhi một cốc đu đủ là ý tưởng tuyệt vời để vừa có món ngon, vừa giúp bạn thư giãn, xả stress.

Theo B.T - Lao động

Điều phải biết về dị tật tim bẩm sinh ở trẻ

Dị tật tim bẩm sinh là những bất thường trong cấu trúc tim và mạch máu lớn xuất hiện ngay khi trẻ được sinh ra.


Các dị tật thường ở buồng tim, van tim, vách tim, các mạch máu lớn. Một số dị tật đi kèm với bệnh tim bẩm sinh là hội chứng Down, sứt môi, tay chân thiếu hoặc thừa ngón, đầu to nhỏ bất thường… Cứ 100 trẻ sinh ra thì có 1 trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh, 1/3 số đó dị tật nhẹ.
Nguyên nhân khiến trẻ bị dị tật tim bẩm sinh thường do 2 yếu tố: di truyền và môi trường tác động. Nhiều trường hợp trẻ bị bệnh từ trong quá trình mẹ mang thai, mẹ bầu bị Rubella, mắc bệnh tiểu đường, lupus ban đỏ, bị nhiễm chất độc vật lý, hóa học, uống rượu, hút thuốc...

Dấu hiệu phát hiện bệnh

Ở nhiều trẻ không thấy có biểu hiện gì đặc biệt, chỉ được phát hiện khi đi khám sức khỏe định kỳ. Nếu trẻ có các biểu hiện sau thì bố mẹ phải đưa trẻ đi kiểm tra sớm:
- Trẻ gặp khó khăn trong việc thở: thở khó và ngắn, thở khò khè, hay bị ho, viêm phổi, viêm phế quản, nhiễm khuẩn hô hấp. Ở một số trẻ có thể nghe tiếng thổi ở tim.
- Da trẻ tím tái, xanh xao, phù ở chân, bụng, quanh hốc mắt. Niêm mạc, gốc móng tay bị tím. Trẻ thường bị lạnh nhưng lại hay vã mồ hôi, thân nhiệt bất thường.
- Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh thường chậm phát triển, suy dinh dưỡng, răng mọc chậm và cũng chậm biết đi, biết bò so với trẻ bình thường.
- Ở những trẻ lớn, khi bị bệnh tim trẻ lười vận động do cảm thấy mệt mỏi, học chậm tiếp thu bài vở.

Chăm sóc cho trẻ bị dị tật tim bẩm sinh

Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh thân nhiệt bất thường, vì vậy phải giữ cho trẻ ấm vào mùa lạnh, thoáng mát vào mùa Hè. Môi trường sống của bé phải được đảm bảo sạch sẽ, hạn chế tối đa các tác nhân hóa học, vật lý.
Giữ vệ sinh răng miệng là điều quan trọng với trẻ, tránh nguy cơ nhiễm trùng ngay cả khi nhổ răng hay thực hiện tiểu phẫu.
Cho trẻ ăn uống điều độ, đủ chất, tốt nhất là theo chế độ ăn của bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng.
Với những trẻ còn bú mẹ, cho bú nhiều cữ trong một ngày, không nên để trẻ bú lâu sẽ bị mệt và dễ bị sặc, chớ sữa. Trẻ không bú được thì mẹ vắt sữa cho trẻ bú.
Trẻ ăn dặm thì ăn từng ít, nhiều lần trong ngày, tùy khả năng ăn uống, tiêu hóa và hấp thụ của trẻ. Mẹ nên chọn những loại đồ ăn dễ tiêu hóa.
Bản thân người mẹ khi chăm trẻ bị bệnh tim cũng phải giữ vệ sinh sạch sẽ lúc cho trẻ bú hoặc ăn. Mẹ nên rửa tay sạch sẽ, giữ sạch đầu vú hoặc bình ti.
Hạn chế cho trẻ vận động quá sức, chơi những trò cảm giác mạnh. Tránh sốc tâm lý cho trẻ.

Phòng ngừa dị tật tim bẩm sinh từ khi mang thai

Khi mang thai, mẹ bầu phải đặc biệt chú ý đến chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt. Bất cứ hoạt động nào cũng mẹ cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ sau này. Mẹ bầu phải tuyệt đối tránh bia rượu, thuốc lá, chất gây nghiện, kích thích, môi trường độc hại.
Mẹ bầu béo phì sinh con, con có thể mắc bệnh tim. Vì vậy, một chế độ ăn hợp lý khi mang thai đảm bảo dinh dưỡng cho mẹ và sức khỏe cho con.
Nếu bị mắc các bệnh như tiểu đường, luspan đỏ thì phải mẹ bầu phải đi chữa trị ngay tập tức.
Phụ nữ bị mắc bệnh tim vẫn có thể sinh con khỏe mạnh nếu được bác sĩ tư vấn và khám thai định kỳ để theo dõi sức khỏe của mẹ và thai nhi.

Điều trị dị tật tim bẩm sinh

Phát hiện sớm và điều trị đúng cách có thể giúp trẻ bị bệnh tim khỏe mạnh và phát triển bình thường. 1/3 trẻ dị tật nhẹ, chỉ cần uống thuốc dưới sự theo dõi thường xuyên của bác sĩ.
Với những trẻ bị bệnh nặng thì phương pháp điều trị tốt nhất là tiến hành phẫu thuật. Tùy vào dị tật mà tiến hành phẫu thuật cho trẻ khi nào. Có trường hợp phải làm ngay khi trẻ mới được một vài tháng. Một số loại thì phải được theo dõi định kỳ, đến thời điểm thích hợp mới có thể làm phẫu thuật.

Theo Sức khỏe và Đời sống

5 môn thể dục tốt cho tim mạch

Bơi lội, đi xe đạp giúp duy trì sự ổn định của huyết áp và nhịp tim; chạy làm giảm lượng chất béo quanh tim và mạch máu.

1. Bơi lội
Bơi có thể làm giảm căng thẳng, giúp duy trì sự ổn định của huyết áp và nhịp tim, giúp hô hấp và tuần hoàn máu tốt hơn...

2. Đi xe đạp
Một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch là một lối sống thụ động. Đi xe đạp là một bài tập thú vị để cơ thể được chuyển động. Mọi lứa tuổi đều có thể tham gia hoạt động này. Đi xe đạp thường xuyên tốt cho tim, mạch máu và phổi, làm giảm nguy cơ đột quỵ, đau tim…


3. Đi bộ
Đi bộ hoặc đi bộ nhanh vào buổi sáng có thể làm tăng nhịp tim và làm giảm nguy cơ đau tim nếu được thực hiện thường xuyên. Hoạt động này cũng có thể làm giảm hàm lượng cholesterol xấu, tăng cholesterol tốt, làm giảm huyết áp, duy trì trọng lượng và cải thiện tâm trạng.

4. Chạy
Bên cạnh việc giúp cơ thể cải thiện độ bền, chạy còn giúp làm giảm lượng chất béo quanh tim và mạch máu.

5. Tập thể dục nhịp điệu
Thể dục nhịp điệu giúp cơ tim để trở nên khỏe mạnh và dẻo dai. Bài tập này cũng giúp cho tim bơm máu hiệu quả hơn. Vì vậy, tập thể dục nhịp điệu sẽ giữ cho trái tim khỏe mạnh và tránh xa bệnh tật.
AloBacsi.com
Theo VnExpress

Dễ bị cụt vì bệnh động mạch chi dưới

Bệnh động mạch chi dưới nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn đến hoại tử đầu ngón chân, thậm chí phải tháo khớp hoặc cắt cụt chân….


TS Lương Công Thức đang khám cho bệnh nhân mắc bệnh động mạch ngoại biên tại Khoa Tim mạch (Bệnh viện 103). Ảnh: P.T
TS Lương Công Thức đang khám cho bệnh nhân mắc bệnh động mạch ngoại biên tại Khoa Tim mạch (BV 103). Ảnh: P.T
Suýt tháo khớp chân vì máu không lưu thông
Ông Võ Như Na (70 tuổi, ở Hà Nam) đến bệnh viện trong tình trạng hai chân bị tê, nhức mỏi, đau khi đi bộ. Ông Na cho biết, nhiều năm nay ông thường xuyên bị đau các khớp. Mỗi lần đau ông lại tiêm thuốc giảm đau. 
Ông Na cũng dùng cả thuốc Nam nhưng uống mãi không khỏi mà bệnh thêm nặng. Dù ăn uống được, không làm việc quá sức nhưng người ông Na ngày càng ốm yếu, hay nhức mỏi chân, lạnh chân. 
Chỉ khi chân đau càng gia tăng, không đi lại được, tiêm thuốc giảm đau thì chân lại sưng to, tím nên người nhà đã chuyển ông lên BV 103 (Hà Nội) khám. Vào viện, ông Na được can thiệp nong động mạch, đặt stent chi dưới. Sau 3 tuần điều trị, chân ông không còn sưng nề, đi lại bình thường.
Cũng như ông Na, ông Đặng Hữu Ngọc (ở Hà Nội) vào viện trong tình trạng sốt cao, chân phù nề, vết lở loét ở ngón chân rộng, nhìn thấy cả xương. Bác sĩ chẩn đoán các động mạch cấp máu cho chân của ông Ngọc bị hẹp, tắc nênmáu không lưu thông xuống chân được, có thể phải tháo khớp chân để bảo toàn tính mạng. 
May mắn là ông Ngọc được điều trị thành công bằng phương pháp can thiệp mạch. Hiện tại, chân ông Ngọc đã dần ổn định, vết hoại tử đã se miệng và có thể đi lại được.
Ông Ngọc cho biết, đây là lần thứ 3 trong năm nay ông vào viện. Đầu tiên ông bị sốt, chân sưng phồng, lạnh toát, bàn chân phải mất cảm giác, véo mạnh không đau. Thậm chí, dù mùa hè mà chân vẫn cứ thấy lạnh như sốt rét. 
Tiếp đó, bàn chân trái của ông cũng bị tê, đau. Sau 10 ngày điều trị hết sốt, về nhà được vài ngày ông lại phải nhập viện. Theo ông Ngọc, khi thấy chân bị tê, đau ông đã đi khám ở nhiều nơi nhưng lại được bác sĩ chẩn đoán là đau khớp, đau thần kinh tọa và cho thuốc uống nhưng không khỏi.
BS Trần Đức Hùng - Chủ nhiệm Khoa Tim mạch (BV 103) cho biết, nguyên nhân của hẹp tắc động mạch chi dưới đa số là do xơ vữa động mạch. Bệnh gây ra các triệu chứng của thiếu máu hai chân như đau khi đi lại, đau khi nghỉ và cuối cùng là loét không liền. 
Rất nhiều bệnh nhân bị chẩn đoán nhầm với các bệnh khớp, hội chứng thắt lưng hông. Trước đây do bệnh nhân nhập viện muộn, khả năng can thiệp khó khăn nên hầu hết người bệnh bị tắc động mạch chi dưới phải cắt cụt chi.
"Kỹ thuật nong mạch, sử dụng stent bằng chất liệu mới nitinol để đặt cho người bệnh bị hẹp động mạch chi giúp cho chi bị thiếu máu được tiếp nhận máu nhiều hơn. Vì vậy, người bệnh có thể giữ được đôi chân của mình, các vết loét ở chân có thể liền được. Loại stent này có thể gấp và duỗi thẳng mà không ảnh hưởng đến cấu trúc của stent cũng như sinh hoạt của người bệnh", BS Trần Đức Hùng cho hay.
Cẩn trọng khi chân lạnh
TS Lương Công Thức - Phó Chủ nhiệm Khoa Tim mạch (BV 103) cho hay, tắc động mạch ngoại biên chủ yếu hay gặp nhất là ở chi dưới, động mạch chủ bụng, thận và động mạch cảnh. Ở chân biểu hiện sớm là bệnh nhân đau khi đi, đau cách hồi (đi một đoạn là có cảm giác như bị tê chân, đau chân, phải ngồi xuống hoặc đứng lại rồi mới đi tiếp được). 
Triệu chứng này càng nặng dần lên khiến người bệnh đau cả khi nghỉ, có biểu hiện loạn dưỡng, phù nề, loét. Nếu không được điều trị chỗ loét ngày càng rộng ra và khi mạch máu bị tắc hoàn toàn thì chân sẽ bị hoại tử, chỉ còn cách là cắt bỏ chân. Ngoài ra, người bệnh có thể bị chân lạnh, thấy tê, rối loạn cảm giác. Khi khám sẽ thấy động mạch yếu hoặc mất…
Theo các bác sĩ ở Khoa Tim mạch - BV 103, bệnh nhân bị động mạch ngoại biên khi vào viện sẽ được cho dùng thuốc giãn mạch, chống kết tập tiểu cầu làm cho các tế bào máu không vón lại và thuốc làm giảm cholesterol trong máu. 
Những bệnh nhân điều trị bằng thuốc và thay đổi lối sống không phát huy hiệu quả mà vẫn còn triệu chứng sẽ phải tiến hành can thiệp hoặc phẫu thuật. Người bệnh có thể được can thiệp bằng cách chỉ nong động mạch hoặc nong động mạch rồi đặt stent những đoạn mạch tắc ở vị trí xa hoặc phẫu thuật bắc cầu nối qua đoạn mạch bị hẹp, tắc.
BS Trần Đức Hùng cho biết, stent động mạch thực chất là đặt giá đỡ vào đoạn mạch bị hẹp, tắc nhằm lập lại tuần hoàn ở đoạn chi bị thiếu máu. Hiện nay có 2 loại stent được đưa vào chỗ động mạch bị hẹp, tắc. 
Một loại có tên là stent nhớ hình, loại còn lại là không nhớ hình. Hai loại đều được cấu tạo bằng kim loại nhưng loại không nhớ hình khi đưa vào động mạch, bệnh nhân sẽ phải hạn chế vận động và va chạm vì dễ bị biến dạng gây khó khăn cho việc lưu thông máu. Loại stent nhớ hình có nhiều ưu điểm hơn. Khi bị tác động hay va chạm, stent sẽ biến dạng nhưng sau đó lại trở về hình dạng ban đầu. 
Ngoài ra, loại bóng phủ thuốc và stent phủ thuốc được thiết kế đặc biệt có chứa một lượng thuốc nhỏ có tác dụng chống lại sự tăng sinh quá mức của tế bào cơ trơn thành mạch máu. Thuốc sẽ được giải phóng từ từ vào thành mạch sau khi bóng hoặc stent được đưa vào. Nhờ đó làm giảm tỷ lệ tái hẹp sau khi nong bóng hoặc đặt stent.
"Giá thành của một stent của phủ thuốc khoảng 38 triệu đồng, bóng phủ thuốc là 25 triệu đồng, đắt hơn bóng thường 1,5 lần nhưng tỷ lệ tái hẹp thấp. Với loại stent thường, sau 6 đến 12 tháng bệnh nhân có thể bị tái hẹp. Bệnh nhân mắc bệnh động mạch ngoại biên cũng được bảo hiểm y tế chi trả theo quy định nên bệnh nhân hầu như không phải trả thêm tiền khi chữa trị", BS Trần Đức Hùng cho biết.

Theo Phương Thuận - Gia đình và Xã hội

Thuốc hay từ sơn tra chữa tăng huyết áp

Sơn tra còn gọi hồng quả, sơn lý hồng, yên chi..., là quả chín già của cây Bắc sơn tra. Ở Việt Nam có 2 cây được bán với tên sơn tra là chua chát.

Sơn tra còn gọi hồng quả, sơn lý hồng, yên chi..., là quả chín già của cây Bắc sơn tra. Ở Việt Nam có 2 cây được bán với tên sơn tra là chua chát. 
Quả sơn tra có mùi thơm đặc trưng, vị chua, chát ngọt, ngâm làm nước giải khát hoặc chế biến làm rượu vang, mứt, ô mai... Sơn tra còn là vị thuốc trị nhiều bệnh. Đặc biệt, sơn tra là vị thuốc trị tăng huyết áp rất hiệu quả.
Bài1: sơn tra 15g, lá sen 20g. Hai thứ tán vụn hãm nước sôi trong bình kín chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: trị tăng huyết áp, béo phì kèm đau đầu, hoa mắt chóng mặt.
Thuốc hay từ sơn tra chữa tăng huyết ápTrà sơn tra hoàng kỳ đan sâm cát căn bổ khí hoạt huyếtích, tâm kiện não, trị tăng huyết áp kèm theo rối loạn tuần hoàn não.
Bài 2: sơn tra 24g, cúc hoa 15g, kim ngân hoa 15g, lá dâu 12g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, hãm với nước sôi trong bình kín chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: thanh can nhiệt hóa ứ tích, trị tăng huyết áp thể can nhiệt có triệu chứng đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, dễ cáu giận, miệng khô họng khát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ.
Bài 3: sơn tra 15g, hoàng kỳ 60g, cát căn 30g, tang ký sinh 30g, đan sâm 40g. Tất cả đem sắc 2 lần, mỗi lần 30 phút. Lấy 800 - 1.000ml lít nước thuốc; sau đó đem cô lại còn 300 - 400ml, chia uống vài lần trong ngày. 
Công dụng: bổ khí hoạt huyết ích, tâm kiện não, trị tăng huyết áp có kèm theo rối loạn tuần hoàn não, rối loạn nhịp tim với triệu chứng mệt mỏi, khó thở, ngại hoạt động, ăn kém, hay hoa mắt chóng mặt, dễ vã mồ hôi, đau nhói vùng ngực, sườn, đại tiện nát.
Bài 4: sơn tra 16g, sinh đỗ trọng 16g, thảo quyết minh 16g, râu ngô tươi 62g, hoàng bá 6g, sinh đại hoàng 3g. Tất cả đem sắc với 6 bát nước, cô lại còn 3 bát chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bổ can thận thanh can nhiệt, giáng áp, chữa tăng huyết áp, béo phì.
Bài 5: hải đới 30g, sơn tra 30g, mã thầy 10 củ, chanh 3 quả. Hải đới rửa sạch cắt ngắn, sơn tra bỏ hạt thái miếng, mã thầy bóc vỏ thái vụn, chanh cắt lát. Tất cả sắc kỹ chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: hoạt huyết hóa ứ, cường tim lợi thủy giáng áp, dùng tốt cho người bị tăng huyết áp.
Bài 6: sơn tra 30g, táo tây 30g, rau cần tây 3 cây, đường phèn vừa đủ. Sơn tra và táo bỏ hạt, thái miếng; rau cần rửa sạch cắt đoạn. Tất cả cho vào bát to, đổ 300ml nước rồi hấp cách thủy chừng 30 phút, thêm đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: hoạt huyết giáng áp, dùng cho người bị tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.
Bài 7: sơn tra 150g, đậu xanh 150g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt thái miếng; đậu xanh rửa sạch ngâm trong nước 30 phút. Hai thứ đem sắc kỹ cho thêm đường phèn chia uống 2 lần trong ngày. Công dụng: hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt giáng áp, chữa tăng huyết áp thể nhiệt chứng.

Theo Lương y Nguyễn Minh - Sức khỏe và đời sống

Quy tắc sống còn cấp cứu nhồi máu cơ tim


Tử vong của nhồi máu cơ tim xảy ra với tỷ lệ cao nhất chính là vào giờ đầu tiên. Bởi vậy, việc chay đua với thời gian là yếu tố sống còn quyết định sinh mạng của bệnh nhân.
Nhồi máu cơ tim là tình trạng của một phần cơ tim bị hủy khi lượng máu cung cấp đến phần đó bị giảm sút. Tùy theo bao nhiêu cơ tim bị hủy, bệnh có thể nhẹ hoặc nặng. Nếu cơ chưa bị hủy hẳn thì gọi là “đau tim”.


Nguyên nhân

Nguyên nhân chính gây ra nhồi máu cơ tim là do máu đông hình thành làm tắc động mạch vành khi mảng xơ vữa bị nứt, vỡ ra. Ngoài ra, tình trạng co thắt mạch vành cũng có thể làm ngừng trệ dòng máu dẫn dến nuôi cơ tim.

Nguyên nhân của nhồi máu cơ tim có nhiều trong đó 90% do xơ vữa động mạch vành. Do hút thuốc lá, tăng cholesterol máu. Tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, những người thường xuyên bị sang chấn về tinh thần. Đây là những nguy cơ hàng đầu làm bột phát nhồi máu cơ tim.

Về vấn đề di truyền, chưa thể khẳng định được nhưng đã có kết luận bệnh có yếu tố di truyền. Vì những người bị bệnh động mạch vành có tính chất di truyền nhiều gấp bốn lần số người không có tính chất di truyền.

Triệu chứng điển hình

Đau ngực với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5-15 phút (khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường), thường không quá 1 giờ. Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm, hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.

Các triệu chứng phụ như vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập nhanh.

Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại có biểu hiện không rõ ràng như tiêu chảy, đau bụng, hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng thường gặp nhiều trong các bệnh nhân đái tháo đường), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng hôn mê, rối loạn nhịp tim, tim ngừng đập hay chết bất ngờ…

Một vài trường hợp người bệnh chỉ thấy đau vùng mũi ức kèm theo nôn rất nhiều. Cũng có khi nhồi máu cơ tim thường xuất hiện từ từ, bênh nhân thấy đau nhẹ hay chỉ thấy khó chịu ở ngực. Trong những trường hợp không điển hình như vậy, người bệnh thường không biết tình trạng trầm trọng hơn đang tiềm ẩn phía sau nên khi các triệu chứng rõ ràng mới tìm sự giúp đỡ.

Triệu chứng nhồi máu cơ tim của nữ cũng không khác biệt nhiều so với ở nam giới, thường gặp đau ngực dữ dội ở vùng ngực trái. Tuy nhiên, ở phụ nữ, cũng rất hay gặp những trường hợp có cơn đau không điển hình trên (khó thở, buồn nôn, đau lưng hay đau hàm).

Điều trị

Quy tắc khẩn trương được coi là một trong nguyên điều trị nhồi máu cơ tim vì hai lý do:

Tử vong của nhồi máu cơ tim xảy ra với tỷ lệ cao nhất chính là vào giờ đầu tiên, rồi ngày đầu của nhồi máu cơ tim và cơ bản do rối loạn nhịp tim một biến chứng nặng nhất của nhồi máu cơ tim lại xảy ra rất bất thần và dễ gây tử vong nhất là rung thất. Các ngoại tâm thu thất có thể chuyển nhanh thành rung thất, cần ứng phó cực kỳ khẩn trương.

Biện pháp điều trị cơ bản hữu hiệu nhất đối với nhồi máu cơ tim lại chỉ sẽ có tác dụng nếu tiến hành sớm, nhất là biện pháp làm “tan huyết khối mạch vành” bằng các thuốc tiêu sợi huyết, đặc hiệu trong 2 giờ đầu tiên hoặc 4 giờ đầu tiên của nhồi máu cơ tim, quá 6 giờ thì không có tác dụng nữa vì vùng hoại tử đã lan toàn bộ bề dày của thành tâm thất, gọi là nhồi máu cơ tim xuyên thành.

Chính vì thế bằng giá nào cũng phải chuyển bệnh nhân nhồi máu cơ tim đến bệnh viện chuyên về tim mạch hoặc khu chăm sóc đặc biệt càng sớm càng tốt. Thời gian đến được bệnh viện sớm hay muộn có ý nghĩa sống còn. Vì chỉ có những nơi này mới đảm bảo chẩn đoán chắc chán và điều trị đúng quy tắc hạn chế biến chứng và tử vong, kể cả những giờ sau, ngày sau, tuần sau của nhồi máu cơ tim, khi mà loại bệnh chứng khác là suy tim trụy mạch, sốc tim lại thường xảy ra. Ngay khi nằm viện vẫn nên nhớ nhồi máu cơ tim là bệnh rất nặng, dễ biến chứng chết người.

Cấp cứu

Nhồi máu cơ tim là một tình trạng cấp cứu. Nguyên tắc chung là tái lập dòng máu chảy trong đoạn động mạch vành bị tắc càng sớm càng tốt để cữu vãn tối đa phần cơ tim thoi thóp do thiếu máu nuôi dưỡng nằm xen lẫn với những vùng cơ tim đã chết vì hoại tử do thiếu máu.

Dòng chảy động mạch vành chỉ được khôi phục khi loại bỏ được cục máu đông bằng thuốc tiêu cục máu đông hoặc sử dụng các biện pháp can thiệp qua da như nong bằng bóng hoặc đặt giá đỡ trong lòng động mạch vành kết hợp với việc hút bỏ cục máu đông. Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ cục máu đông tự tan còn đa số phải được can thiệp. Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian áp dụng điều trị, thuốc tiêu cục máu đông chỉ có tác dụng thực sự khi được dùng ngay trong vòng từ 2-4h kể từ lúc khởi phát.

Can thiệp động mạch vành qua da cũng chỉ có tác dụng rõ rệt khi được tiến hành trong vòng 12-18h kể từ lúc khởi phát trừ một số trường hợp can thiệp muộn (trong vòng 36 giờ) vẫn có lợi như đau ngực tái phát sau nhồi máu, sốc tim, suy tim hoặc rối loạn nhịp tim tiến triển.


Một tỷ lệ nhất định các trường hợp tới muộn không dùng được thuốc tiêu sợi huyết, thương tổn không phù hợp để can thiệp bằng bóng hoặc đánh giá đỡ thì phải mổ bắc cầu nối chủ vành cấp cứu là biện pháp cuối cùng để mở thông lòng mạch và cứu sống bệnh nhân dù tỷ lệ thanfhc ông ở giai đoạn cấp không phải là cao. Như vậy khi đã nhồi máu cơ tim, bệnh nhân càn được điều trị tích cực càng sớm càng tốt, nhất là việc mở thông đoạn mạch bị tắc.

Việc điều trị các thuốc phối hợp như thuốc ức chế nhưng tập tiểu cầu, thuốc chèn bê ta giao cảm nitrate, thuốc ức chế men chuyển, thuốc giãn mạch, thuốc giảm đau, thuốc chống loạn nhịp, chữa suy tim… là vô cùng cần thiết, giúp cơ tim nghỉ ngơi tăng cường hiệu quả của việc tái lưu thông dòng chảy trong động mạch vành, ngăn ngừa sự lan rộng và hạn chế ảnh hưởng của vùng cơ tim đã chết đối với chức năng co bóp thất trái và sự sống còn của bệnh nhân kể cả trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

Đối với những bệnh nhân không được can thiệp thì điều trị nội khoa không hề vô tác dụng mà ngược lại, không ít bệnh nhân vẫn duy trì được chất lượng và thời gian sống. Sau khi sống sót và phục hồi một phần qua giai đoạn cập, bệnh nhân sẽ có chương trình phục hồi chức năng phù hợp, điều chỉnh lối sống và chế độ dự phòng cũng như điều trị và theo dõi lâu dài.

Nhồi máu cơ tim chỉ làm một số biến cố, biểu hiện cấp tính của cả một quá trình bệnh lý xơ vữa tiến triển âm ỉ tiềm tàng. Các biện pháp điều trị trong giai đoạn cấp cũng chỉ giải quyết được hậu quả lúc đó mà thôi. Thuốc tiêu cục máu đông không làm giảm mức độ hẹp của động mạch vành thủ phạm. Can thiệp động mạch vành qua da hoặc mổ bắc cầu nối trong giai đoạn cấp cứu cũng không phải là điều trị triệt để, không thể giải quyết được mọi chỗ hẹp và hoàn toàn không ngăn ngừa được tiến trình xơ vữa đang diễn ra âm thầm.

Về lâu về dài, điều trị nội khoa bằng thuốc kết hợp với những biện pháp dự phòng khác vẫn là nền tảng cơ bản trong điều trị. Việc can thiệp động mạch vành qua da, mổ bắc cầu chủ vành có thể được tiến hành nhiều lần về sau để tiếp tục giải quyết những chỗ hẹp khác còn tồn đọng hoặc xuất hiện mới theo thời gian.

Bệnh nhân có triệu chứng đau thắt ngực cần được điều trị trong phòng cấp cứu:

- Dưỡng khí oxygen, điện tâm đồ

- Aspirin (thuốc này có công dụng làm loãng máu và làm giảm sự tăng trưởng của cục máu đông

- Glyceryl trinitrate (thuốc này có thể cho vào dưới lưỡi bệnh nhân có nhiều tác dụng như thư giãn mạch máu, giảm huyết áp)

- Chống đau (morphine có thể dùng để chống đau, làm bệnh nhân bớt sợ hãi, giảm adrenaline, giảm độ nhịp tim, bớt công việc cho tim)

- Theo dõi biến chứng (loạn nhịp tim, thay đổi huyết áp).

Lộ mặt 3 "thủ phạm" gây các bệnh tim mạch

Huyết áp cao, mỡ máu và đái tháo đường là 3 thủ phạm gây ra các biến cố tim mạch. Đây là 3 "sát nhân thầm lặng" chính cần phải chủ động phát hiện và chữa trị sớm.

Tất cả các bệnh nhân có tiền căn tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu... khi có triệu chứng nặng ngực, đau nhói ngực sau xương ức cần phải đến cơ sở y tế sớm để được làm xét nghiệm và đo điện tim nhằm phát hiện sớm bệnh mạch vành. 
Tại bệnh viện, những trường hợp nghi ngờ nghi ngờ có thể cho làm điện tâm đồ gắng sức nhằm nâng độ nhạy trong việc phát hiện sớm bệnh này.
Bạn hãy ghi nhớ và điều chỉnh 3 thủ phạm sau đây để sức khỏe bạn luôn an toàn:
1. Mỡ máu cao (lipid cao)
Lipid cao là một yếu tố quan trọng đưa đến bệnh tim mạch. Chất mỡ này tuy không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày, nhưng rất nguy hại khi dùng nó quá nhiều.
Cholesterol sẽ nằm trên lớp vách mỏng của các động mạch và ngay cả trên tim nữa. Dần theo năm tháng, lớp mỡ này dày lên và giảm bớt kích thước của các động mạch. Hoạt động của máu trong việc vận chuyển ôxy trở nên yếu, không đủ nuôi các cơ quan bộ phận trong cơ thể khi cần phải cố sức làm việc gì đó, dẫn đến những cơn đau ở ngực, đó là tình trạng nguy hiểm của chứng đau thắt ngực, do thiếu máu đến tim.
Muốn bảo vệ tim, phải có chừng mực với hàm lượng cholesterol. Nếu bạn ăn những thực phẩm có hàm lượng cholesterol dưới 2g trong ngày, bạn không cần lo lắng gì cả, nhưng lần sau đó phải chú ý. Trên 2,5g trong ngày, bạn phải theo một chế độ ăn kiêng và đôi khi phải uống thuốc thêm.
2. Huyết áp cao
Cũng gây nguy hiểm đáng kể cho tim mạch và là thủ phạm hàng đầu gây tai biến mạch máu não. Theo định nghĩa của Hội Tim mạch Hoa Kỳ thì áp huyết bình thường là từ 130/85mmHg trở xuống. 
Nếu bị tăng huyết áp (huyết áp tối thiểu từ 90mmHg trở lên và huyết áp tối đa từ 140mmHg trở lên) thì hãy tích cực chữa trị, đưa chỉ số huyết áp về dưới 130/80mmHg. Tuy nhiên, áp huyết phải dưới 120/80 thì mới được kể là "lý tưởng".
Cách đơn giảm để hạ huyết áp là dùng thuốc hạ áp huyết đã "cứu" được mạng của rất nhiều người và còn giúp nhiều người khác tránh khỏi những bệnh gây tàn tật như bệnh tai biến mạch máu não. Nếu dùng thuốc mà không thấy giảm huyết áp thì bạn nên đến bác sỹ để được tham vấn.
Từ 18 tuổi trở lên hãy đo huyết áp và nhớ con số của mình. Nếu huyết áp bình thường (huyết áp tối thiểu trong khoảng 60-89mmHg và huyết áp tối đa trong khoảng 90-139mmHg) thì chỉ cần đo lại hàng năm. Chỉ có đo huyết áp mới phát hiện được tăng huyết áp.
3. Bệnh đái tháo đường
Người bị đái tháo đường sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch gấp 2-3 lần người không bị đái tháo đường. Phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường bị bệnh tim mạch cao gấp 3 lần phụ nữ bình thường. Đàn ông mắc đái tháo đường thì bị nhiều bệnh tim mạch gấp 2 lần đàn ông bình thường. Khoảng 2/3 những người có đái tháo sẽ tử vong vì những bệnh tim mạch.
Tắc các mạch máu và đường huyết tăng cao cũng gây tổn thương cơ tim và làm nhịp tim không đều. Bệnh nhân bị tổn thương cơ tim gọi là bệnh cơ tim, có thể không có triệu chứng trong giai đoạn sớm nhưng về sau xuất hiện các triệu chứng yếu mệt, khó thở, ho khan, mệt mỏi và phù chân. Đái tháo đường có thể làm mất cảm giác đau ngực, là dấu hiệu cảnh báo cơn đau tim của bệnh mạch vành
Vì vậy, người bị đáo đường đều nên đặc biệt chú ý và ngăn ngừa bệnh tim mạch sớm. Dĩ nhiên chế độ ăn, thể dục, uống thuốc và chích thuốc là rất quan trọng.
Các biện pháp phòng tránh hữu hiệu
Theo PGS.TS Đoàn Văn Đệ, phòng bệnh tim mạch có nghĩa là chúng ta phòng ngừa làm sao để hạn chế mắc 3 căn bệnh trên. Các biện pháp phòng bệnh tim mạch bao gồm:
- Ăn ít muối: Ăn ít muốn không chỉ giảm lipid cao trong máu, bệnh đái tháo đường, mà càng ăn ít muối huyết áp càng thấp.Một nghiên cứu của Viện Tim, Phổi và Huyết học Quốc gia (Mỹ) cho thấy, chỉ cần ăn giới hạn muối trong khoảng 1,5g/ngày sẽ làm giảm đáng kể huyết áp. 
Ngoài việc giảm lượng muối trong khi nấu nướng, hạn chế dùng thêm muối hoặc nước chấm ở bàn ăn, cần cẩn thận với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao.
- Ăn nhiều rau quả, ngũ cốc: Nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau đều cho thấy chất xơ trong rau quả và các loại đậu có tác dụng chuyển hoá các chất béo và làm hạ huyết áp, điều chỉnh được lượng đường huyết trong máu. Nhiều loại rau củ quả, các loại hạt, đậu nành…
- Hạn chế thịt: Thịt và mỡ động vật nhất là các loại thịt đỏ như thịt heo, thịt bò và các loại sữa và trứng có hàm lượng mỡ bão hoà cao là nguồn gốc phát sinh ra các chứng xơ vữa. Do đó, các nhà khoa học khuyên nên chuyển dần chế độ ăn nhiều thịt sang ăn nhiều cá và đạm thực vật.
Nói không với thuốc lá: Thuốc là cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Thống kê cho thấy, người hút thuốc có tỷ lệ bị bệnh tim mạch cao hơn hai lần người không hút. 
Chất nicotin trong thuốc lá làm mạch máu co hẹp, cản trở sự lưu thông của máu, làm huyết áp tăng. Khói thuốc lá làm tăng rủi ro vữa xơ động mạch và tăng các yếu tố làm đông máu, tai biến mạch máu não dễ dàng xảy ra.
Bia rượu vừa phải: Tiêu thụ bia rượu vừa phải có thể chấp nhận được. Vừa phải là khoảng 360cc bia, hai lần một ngày cho nam giới, một lần cho nữ giới. Nhưng quá nhiều rượu sẽ đưa tới tăng huyết áp, tăng lượng chất béo triglycerid, giảm chất béo tốt HDL, tăng rủi ro vữa xơ động mạch. Hậu quả là bệnh tim mạch, tai biến não, suy tim.
Đừng quên tập thể dục: Giúp giảm đường, giảm mỡ, giảm cân, giảm áp huyết, và giảm những bệnh tim mạch. Người có thể dục thường xuyên sẽ sống khỏe hơn, lâu dài hơn, và sẽ có xương cứng hơn những người ít hoạt động. Nên thể thao khoảng hơn 30 phút, 4 hoặc 5 ngày mỗi tuần.

Theo PGS.TS Đoàn Văn Đệ - Sức khỏe gia đình

Đề phòng nguy cơ suy thận do huyết áp cao

Ngày càng có nhiều người, ngay cả ở độ tuổi thanh niên hoàn toàn bất ngờ khi đến viện khám mới phát hiện đã suy thận nặng, bởi trước đó bị huyết áp cao kéo dài mà không hay biết.


Đề phòng nguy cơ suy thận do huyết áp cao
Ảnh minh họa.

Huyết áp cao vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của suy thận mạn tính. Bên cạnh đó, có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến suy thận mạn tính với triệu chứng âm thầm, kín đáo.
Nhiều trường hợp chỉ biểu hiện ra bên ngoài khi chức năng thận đã giảm đi đáng kể, nhập viện muộn trong tình trạng nặng.
Trong hai loại suy thận, suy thận cấp là suy giảm chức năng thận diễn ra nhanh chóng trong vài ngày. Trong khi đó, suy thận mãn tính diễn ra trong thời gian dài, có khi chỉ với những triệu chứng âm thầm. Ngoài huyết áp cao, suy thận mạn tính còn do nhiều nguyên nhân khác nữa.
Để phát hiện và điều trị suy thận sớm, bệnh nhân cần đi khám và kiểm tra khi có các triệu chứng, để việc điều trị có hiệu quả và tránh các biến chứng nặng có thể xảy ra.
Vì đã có rất nhiều trường hợp bị suy thận mạn tính với các triệu chứng ban đầu âm thầm, khó nhận biết nên để phòng tránh cũng như phát hiện sớm, tốt nhất mọi người nên đi khám sức khỏe định kỳ. 

Nếu nước tiểu có hiện tượng bất bình thường cũng nên đi xét nghiệm ngay. Quan trọng nhất, thường xuyên kiểm tra huyết áp, bởi huyết áp cao kéo dài không chỉ dẫn đến suy thận mạn tính mà còn nhiều bệnh lý nguy hiểm khác nữa


Theo Nguyệt Ánh - VTV.vn

Nước bưởi giúp hạ đường huyết

Một nghiên cứu được công bố trên chuyên san PLOS ONE phát hiện ra rằng uống nước bưởi ép không chỉ giúp giảm cân mà còn làm giảm lượng đường glucose trong máu.



Ảnh: Shutterstock
Thử nghiệm trên 2 nhóm chuột có chế độ ăn uống giàu chất béo. Một nhóm uống nước bưởi ép và một nhóm uống nước lọc. Các nhà khoa học thuộc ĐH California, Berkeley (Mỹ) nhận thấy những con chuột uống nước bưởi ép tăng cân ít hơn 18% so với nhóm uống nước.
Không chỉ tăng cân ít hơn, nhóm chuột uống nước bưởi ép cũng giảm được 13 - 17% lượng đường glucose trong máu và giảm đáng kể nồng độ insulin. "Có rất nhiều hợp chất trong nước bưởi ép và uống nước này giúp giảm lượng đường glucose trong máu", theo các chuyên gia thuộc ĐH California, Berkeley.

Theo Nhất Linh - Thanh niên

3 loại hoa ngay trong vườn giúp kiểm soát huyết áp cực tốt

Hãy dùng các loại hoa có ngay trong vườn nhà bạn để kiểm soát huyết áp của bạn, phương thức này vừa không tốn chi phí vừa không để lại tác dụng phụ.

Huyết áp là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Vậy, huyết áp là thứ phải tồn tại đương nhiên trong cơ thể con người giống như áp lực nước trong lòng mương, ống nước…
sức khỏe, huyết áp, chăm sóc sức khỏe, cao huyết áp, trị cao huyết áp
3 loại hoa ngay trong vườn giúp kiểm soát huyết áp cực tốt.
Tăng huyết áp là một chứng bệnh thường gặp tại cộng đồng, ngoài những cơn đau đầu, hoa mắt, chóng mặt… ảnh hưởng đến công tác và lao động, nghiêm trọng hơn, nếu không được kiểm soát và điều trị tốt, tăng huyết áp dễ gây tai biến mạch máu não để lại di chứng liệt và tàn phế, thậm chí gây tử vong.
Cách dễ nhất để bạn hạ huyết áp là uống thuốc. Nhưng bạn sẽ mất tiền mua thuốc và có thể gặp phải các phản ứng phụ. Có một cách hữu hiệu không tốn chi phí và không để lại tác dụng phụ, lại giúp hạ chỉ số huyết áp xuống đó là dùng các bài thuốc dân gian vô cùng đơn giản ngay từ những loại hoa trong vườn nhà bạn!
Hoa hòe
Bài thuốc chữa nhức đầu và đề phòng tai biến do tăng huyết áp gồm: hoa hòe sao thơm 10g, hạt muồng (thảo quyết minh) sao đen 20g, cúc hoa khô 5g. Tất cả cho vào ấm hãm nước sôi uống trong ngày thay chè.
Hoa cúc 

Hoa cúc có tác dụng hạ huyết áp, đỡ nhức đầu, sáng mắt. Bài thuốc gồm: cúc hoa 20g, thảo quyết minh (sao thơm) 50g, cam thảo dây (băm nhỏ sao thơm) 10g. Tất cả cho vào ấm hãm nước uống trong ngày thay chè. 

Hoa đại
Chọn ngày nắng ráo hái hoa và nụ phơi khô cất trong lọ kín để dùng dần. Cách dùng: hoa đại 30g, cúc hoa 10g cho cả vào ấm hãm nước uống trong ngày thay nước chè.

Theo Phụ nữ today/ Khỏe và Đẹp

Bài thuốc nam trị chứng cao huyết áp hiệu quả

Bài thuốc nam gồm 5 vị rau củ quả do Thượng tọa, lương y Thích Tuệ Tâm (57 tuổi), trụ trì chùa Pháp Luân, kiêm Giám đốc điều hành Trung tâm kế thừa - Ứng dụng y học cổ truyền - Tuệ tĩnh Đường Liên Hoa (số 3, đường Lê Quý Đôn, Tp Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế) dày công sưu tầm, bào chế có thể chữachứng cao huyết áp hiệu quả.
Cao huyết áp trong y học được nhắc đến là căn bệnh thường gặp, nguyên nhân khó xác định. Bệnh nhân mắc phải chứng cao huyết áp thường dễ bị biến chứng dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận.
Nguy hiểm hơn, cao huyết áp thường không có triệu chứng rõ ràng nên người bệnh thậm chí không biết mình đang mắc bệnh. Bởi vậy lâu nay căn bệnh này còn được gọi với cái tên là “sát thủ thầm lặng”. Tuy nhiên, lương y Thích Tuệ Tâm cho hay người bệnh có thể yên tâm tự điều trị bệnh cao huyết áp bằng những cây thuốc nam cực kì giản đơn nhưng mang lại hiệu quả cao.
Theo lời vị sư thầy, bài thuốc nam trị chứng cao huyết áp gồm 5 vị rau củ quả với liều lượng như sau: Rau cần tây (1 cây), cà rốt (1 củ), cà chua chín vừa (1 quả), hành hương (3 củ) và củ tỏi (7 tép). 
“Đem tất cả rửa sạch, dùng cối giã nát, sau đó hoà thêm một cốc uống trà nước sôi nguội quậy đều rồi đem lọc lấy nước cốt để uống. Cũng có thể cho những vị thực phẩm trên vào máy xay sinh tố để xay nhuyễn. Ta dùng nước cốt chia uống hai lần trong ngày sau bữa ăn. Do có vị tỏi nên nước cốt hơi nồng, ai chịu khó được có thể uống gộp luôn một lần”, lương y Thích Tâm hướng dẫn.
Trong quá trình điều trị bệnh, cần phối hợp nhịp nhàng giữa việc theo dõi huyết áp người bệnh và uống nước cốt rau củ quả. Cho người bệnh uống thuốc đến khi nào huyết áp trở về mức bình thường thì ngưng, bởi nếu uống tiếp huyết áp người bệnh sẽ tụt xuống thấp.
Sư thầy cho hay thông thường người bệnh chỉ cần uống nước cốt bào chế từ 5 loại rau quả trên trong khoảng thời gian 5-7 ngày sẽ phát huy công dụng rõ rệt. Tất nhiên, vị lương y cửa Phật không quên căn dặn người mắc chứng bệnh cao huyết áp nên tránh thức ăn cay, nóng; hạn chế ăn dầu, mỡ; cũng như tuyệt đối không được sử dụng chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá.
Ngoài ra, để quá trình trị liệu đạt hiệu quả cao, có thể kết hợp giữ uống thuốc nam với phương pháp tâm lý trị liệu. “Người bị cao huyết áp không nên tức giận, nóng tính hoặc ưu phiền quá mức mà phải giữ tinh thần luôn thoải mái, vui vẻ. Người xưa vẫn thường nói một nụ cười bằng mười thang thuốc đó thôi”, ông vui vẻ bật mí.
Lại nói về bài thuốc nam chữa bệnh cao huyết áp, sư thầy trụ trì chùa Pháp Luân cho hay đã áp dụng bài thuốc gần 30 năm nay và chữa khỏi cho hàng trăm bệnh nhân. Hiện ông rất muốn phổ biến bài thuốc rộng rãi để mọi người đều có thể tự áp dụng trị bệnh cho chính bản thân mình. 
Ưu điểm của bài thuốc như lời ông, không những có khả năng ổn định huyết áp người bệnh trong lâu dài mà còn rất dễ bào chế, dễ tìm kiếm, giá cả lại rẻ. Nguồn gốc bài thuốc trên được sư thầy Tuệ Tâm bật mí tự mình sưu tầm trong sách y học cổ sau đó tìm tòi, bổ sung thêm.
Hàng chục năm nay, cái tên Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa luôn được biết đến là nơi khám chữa bệnh giúp đỡ người nghèo nức tiếng xa gần. Hiện ở địa chỉ này có khoảng 40 lương y, bác sĩ, y sĩ cùng tham gia khám bệnh giúp đỡ hàng trăm bệnh nhân mỗi ngày. Đến Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa, người bệnh được khám bệnh, châm cứu miễn phí.
Riêng chi phí thuốc thang, sư thầy cho biết tuỳ thuộc theo đối tượng mà trung tâm có chế đội miễn giảm khác nhau. Đối với bệnh nhân nghèo, gia cảnh khó khăn không những được cấp phát thuốc mà còn được hỗ trợ thêm chỗ ăn ở miễn phí. Ngoài ra mỗi năm tập thể cán bộ tại Trung tâm đều thường xuyên tổ chức những đợt khám chữa bệnh từ thiện lưu động về vùng sâu vùng xa.
Bộc bạch cơ duyên đến với nghề thuốc, sư thầy giải thích rằng đó là nghiệp của mình, là “duyên trời định”. Ông trải lòng: “Năm 21 tuổi tôi bắt đầu phát nguyện sẽ nghiên cứu thuốc Đông y để chữa bệnh cứu người. May mắn hơn sau đó tôi được sư phụ vốn là thầy lang nổi tiếng ở Huế truyền nghề nên mới có cơ hội trở thành lương y như bây giờ”. 
Vừa tu hành, vừa tham gia chữa bệnh giúp đời, chẳng mấy chốc “tiếng lành vang xa” và cũng từ đó người ta biết đến cái tên Thích Tuệ Tâm là thầy thuốc hơn là một nhà sư.
Đến năm 1982, sư thầy Tuệ Tâm đã đứng ra mở lớp châm cứu tại chùa Huyền Không (xã Hương Hồ, huyện Hương Trà) như “cú đột phá” trong tâm nguyện giúp đời, giúp người của mình. 
Cũng trong năm đó tổ chẩn trị y học cổ truyền gồm bảy thành viên do sư thầy Tuệ Tâm đứng đầu được ra mắt. Đó chính là tiền thân của Trung tâm khám chữa bệnh Tuệ tĩnh Đường Liên Hoa bây giờ.
Đáng khâm phục hơn, lương y này luôn đề cao tinh thần sử dụng cây thuốc nam vào điều trị bệnh tật. Ông cho hay hiện trung tâm sử dụng thuốc nam chiếm đến hơn 50% loại thuốc; chỉ những trường hợp cấp cứu khẩn cấp mới áp dụng thuốc tây y.
Cũng như nhiều lương y khác, thầy Tuệ Tâm nhìn nhận cây thuốc nam vốn chứa nhiều công dụng kì diệu nhưng đến nay vẫn chưa được khám phá hết. Với tâm nguyện tiếp tục khám phá hết giá trị thuốc nam, đã gần 30 năm nay vị trụ trì chùa Pháp Luân đứng ra mở lớp bồi dưỡng kiến thức đông y, lớp giảng dạy Hán nôm đông y ngay tại Trung tâm. 
“Cả hai lớp có khoảng 100 học viên theo học, hoàn toàn miễn phí. Phần lớn học viên theo học là sinh viên các trường y dược, các thầy thuốc đông y trên toàn tỉnh. Điều này chứng tỏ người Việt ta vẫn còn rất quan tâm đến thuốc nam, đấy cũng là tâm nguyện lớn nhất đời tôi”, sư thầy, lương y Thích Tuệ Tâm trải lòng.


Theo Songkhoe.net

Suy tim mạn tính: Yếu tố nguy cơ bùng phát đợt cấp

Suy tim có nhiều mức độ khác nhau và các biện pháp điều trị, trong nhiều trường hợp chỉ nhằm giữ cho bệnh nhân không bị tiến triển nặng hơn

Vì vậy, người bị suy tim cần hết sức chú ý đến các yếu tố nguy cơ của việcbùng phát “đợt cấp” của một tình trạng suy tim đang được theo dõi điều trị ổn định.

Suy tim mạn tính và đợt cấp
Suy tim được hiểu một cách đơn giản là tình trạng trong đó tim không đủ sức bơm máu theo nhu cầu của cơ thể. Bình thường, tim đập khoảng 60 đến 80 nhịp/phút với khối lượng máu được bơm đi toàn cơ thể khoảng 3 đến 4 lít/phút. 

Lượng máu có thể tăng lên trong một số trường hợp xúc cảm, lao động nặng nhọc, luyện tập hoặc thi đấu các môn thể thao. Như vậy, khi cung lượng tim không đáp ứng được cho cơ thể ở cả hai trường hợp khi gắng sức và khi bình thường là tim đã bị suy.
Trên lâm sàng, suy tim được chia thành 4 mức độ: độ 1 là có suy tim nhưng chưa có biểu hiện khó thở; độ 2 là có khó thở khi gắng sức (như leo cầu thang, làm việc nặng…); mức độ 3 là khó thở thường xuyên cả lúc bình thường và khi gắng sức, gan to nhưng nhỏ lại khi được điều trị (gan đàn xếp), bệnh nhân vẫn có thể đi lại nhẹ nhàng và tự phục vụ những nhu cầu như ăn uống, vệ sinh cá nhân; mức độ 4 là mức độ nặng nhất, bệnh nhân liên tục khó thở, không tự phục vụ mình được, gan không còn "đàn xếp" đã chuyển sang xơ xứng (xơ gan tim).
Việc điều trị nhằm mục tiêu giảm mức độ suy tim hoặc ít ra cũng ngăn cản được quá trình nặng lên của suy tim. Các biện pháp điều trị thông thường là: nghỉ ngơi, ăn nhạt, lợi tiểu, thuốc trợ tim, điều trị nguyên nhân…. Bệnh nhân đáp ứng tốt điều trị là khi các triệu chứng của suy tim mất hẳn, giảm nhẹ hoặc không nặng thêm.
Trong quá trình điều trị, có những đợt các triệu chứng của suy tim đột ngột nặng lên. Trường hợp này được gọi là "đợt cấp" hay "đợt mất bù" của suy tim mạn tính. Có một số yếu tố nguy cơ làm mất hiệu quả của phác đồ điều trị và đáp ứng của bệnh nhân dẫn đến tình trạng này.

Biểu hiện của đợt cấp suy tim mạn tính khởi phát đột ngột hoặc các triệu chứng tăng lên nhanh chóng như khó thở, đánh trống ngực, vã mồ hôi lạnh, rối loạn ý thức, tím môi đầu chi, tiểu ít, phù hai chi dưới, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. Nặng hơn có trường hợp biểu hiện bằng phù phổi cấp, tụt huyết áp nặng và tử vong.
Một số yếu tố nguy cơ
Nhiễm khuẩn phổi là yếu tố hàng đầu gây nên những đợt cấp của suy tim mạn. Việc tổn thương phổi do nhiễm khuẩn sẽ làm giảm lượng ôxy trong máu, vốn đã giảm trong suy tim, dẫn đến thiếu ôxy các cơ quan trong cơ thể (kể cả thiếu ôxy trong cơ tim) kết quả là tim phải làm việc nhiều hơn, chóng suy nặng hơn. 

Khi đã bị suy tim, bệnh nhân cũng rất dễ bị nhiễm khuẩn phổi do ứ đọng dịch ở khoảng kẽ và phế nang, do tràn dịch màng phổi, do sức đề kháng kém của bệnh nhân…. Các tác nhân gây bệnh bao gồm các vi khuẩn như phế cầu, tụ cầu, haemophilus influenzae, virut, nấm….
Loạn nhịp tim xảy ra khi tim bị suy.

Nhiễm khuẩn tại tim như viêm nội tâm mạc cũng có thể làm chức năng tim giảm nhanh hơn đặc biệt khi có thêm các tổn thương như thủng van, đứt dây chằng van tim. Nhiễm khuẩn ở các cơ quan khác gây mất nước, mất điện giải, rối loạn thăng bằng kiềm toan và đương nhiên các tình trạng này không có lợi cho chức năng một quả tim đã bị suy.
Gắng sức quá mức là điều hết sức nên tránh ở bệnh nhân suy tim với bất kỳ giai đoạn nào. Các hoạt động thể chất yêu cầu một lượng máu đến hệ cơ xương khớp nhằm cung cấp đủ lượng ôxy và calorie cần thiết. Điều này sẽ làm tăng "gánh nặng" cho tim khiến cho tim bị suy nhanh hơn, các triệu chứng tiến triển rầm rộ hơn.
Tình trạng suy tim do bệnh mạch vành, bao gồm cả suy tim sau nhồi máu cơ tim sẽ bị ảnh hưởng nặng nề và sức co bóp cơ tim sẽ giảm nhanh chóng nếu tình trạng thiếu máu cơ tim không được cải thiện. 

Việc cơ tim đã bị suy lại tiếp tục phải chịu đựng tình trạng thiếu ôxy do mạch vành bị xơ vữa là yếu tố thuận lợi cho việc bùng phát một đợt cấp của suy tim mạn tính. Ngược lại, khi cơ tim phì đại do suy tim trong khi các mạch máu phân bố không theo kịp lại làm tăng khu vực bị thiếu máu, làm nặng thêm tình trạng thiếu máu cơ tim do mạch vành gây ra.
Các loạn nhịp tim xảy ra khi tim bị suy, bao gồm cả các loạn nhịp chậm (các thể block gây nhịp chậm) và loạn nhịp nhanh đều gây giảm cung lượng tim, giảm sức co bóp cơ tim và làm suy tim tiến triển. Thậm chí nếu nhịp quá chậm hoặc quá nhanh còn làm bệnh nhân choáng ngất, tụt huyết áp và… tử vong nếu không được xử trí kịp thời. 

Nguyên nhân của loạn nhịp có thể do dùng thuốc như digoxin, chẹn beta giao cảm… do rối loạn điện giải (hạ kali máu) hoặc do tổn thương cơ tim trong bệnh mạch vành.
Cơn tăng huyết áp không được kiểm soát là một yếu tố thực sự nguy hiểm trong việc làm tăng nguy cơ tiến triển của suy tim. Khi huyết áp tăng cao đòi hỏi tim phải gắng sức nhiều hơn để có thể tống được máu vào hệ thống động mạch vì vậy tim sẽ chóng bị suy hơn, dễ bùng phát đợt cấp hơn. Nếu huyết áp quá cao có thể gây suy thất trái cấp, dẫn đến cơn hen tim, phù phổi cấp.

Một số thuốc cũng có thể là yếu tố gây mất bù của suy tim mạn tính như verapamil làm giảm sức co bóp cơ tim, lợi tiểu quai làm mất nhiều dịch và làm kali, canxi máu hạ gây loạn nhịp tim. Thiếu máu nặng, các yếu tố tâm lý, thời tiết thay đổi đột ngột, bệnh nhân không tuân thủ điều trị theo phác đồ… cũng có thể "giúp" cho tim bị suy nhanh hơn, làm khởi phát đợt cấp suy tim mạn.

Các biện pháp dự phòng
Như đã đề cập ở trên, mục tiêu của điều trị suy tim là làm mất, giảm hoặc chí ít cũng làm các triệu chứng của suy tim không tiến triển thêm nên việc tránh cho các đợt cấp của suy tim bùng phát là hết sức cần thiết.
Các biện pháp dự phòng bao gồm tránh nhiễm khuẩn phổi nói riêng và các nhiễm trùng khác nói chung. Kiểm soát tốt tình trạng huyết áp tăng, điều trị tốt các bệnh kèm theo như đái tháo đường, tăng mỡ máu, bệnh mạch vành... 

Tuyệt đối tránh gắng sức ở các bệnh nhân suy tim trong bất cứ tình huống nào, ổn định tâm lý, tránh xúc cảm cũng như các tình huống thay đổi thời tiết đột ngột. Tuân thủ đúng phác đồ điều trị, không tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi thuốc nếu không có ý kiến của thày thuốc chuyên khoa. Nên duy trì một chế độ ăn hợp lý (ăn nhạt, đủ chất dinh dưỡng) và thường xuyên kiểm tra định kỳ tại các cơ sở y tế chuyên sâu.


Theo TS.BS Vũ Đức Định - O2TV.vn

Phát hiện mới: Dầu ôliu giúp đảo ngược cơn suy tim

Nghiên cứu của ĐH Illinois phát hiện ra rằng chất béo có tên Oleate tìm thấy trong dầu ôliu có thể giúp việc trái tim co bóp hiệu quả hơn và sử dụng chất béo của cơ thể như nhiên liệu. Lý do phổ biến một người có thể bị suy tim là khi các cơ hoành bị cứng lại, kể cả sau khi bị đau tim, do sử dụng ma tuý hay lạm dụng bia rượu và huyết áp cao. 

Các triệu chứng của suy tim gồm, khó thở kể cả lúc nghỉ ngơi hoặc đang hoạt động, sưng mắt cá chân, bàn chân, bụng và phần dưới lưng và mệt mỏi. Các nhà khoa học tin rằng chất oleate giúp cơ thể sản sinh enzym phá vỡ các chất béo để tim lại có thể hấp thụ nó. 


Theo M.T - Công an TPHCM

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp

Tăng huyết áp hay huyết áp cao là một căn bệnh khá phổ biến gặp ở người lớn tuổi. Huyết áp cao có thể gây tổn thương cho động mạch, dẫn đến đột quỵ và các bệnh về tim mạch.

Chúng ta biết rằng huyết áp có thể giảm bằng cách tránh các thực phẩm giàu chất béo bão hòa và cholesterol. Đồng thời nên ăn nhiều trái cây tươi, rau quả, và các sản phẩm không có chất béo hoặc sữa ít chất béo và sữa. 
9. Chuối 
9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 1

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Chuối không chỉ có hương vị ngon mà còn giúp bạn giảm nguy cơ bị đột quỵ và các bệnh liên quan đến tim. Chuối có hàm lượng kali và natri cao nhất. Vì vậy, ăn 1-2 quả chuối mỗi ngày giúp bạn hồi phục lại lượng đường trong máu rất tốt.

8. Hướng dương (không ướp muối)

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 2

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Hạt hướng dương (không ướp muối) cũng là một nguồn cung cấp magiê tuyệt vời. Chỉ cần 1/4 đĩa hạt hướng dương đã cung cấp một bữa ăn nhẹ bổ dưỡng - nhưng hãy chắc chắn để mua đúng loại hướng dương không ướp muối nhé.

7. Socola đen

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 3

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Một nghiên cứu được công bố trên số ra tháng 7 năm 2007 của Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ (JAMA) cho thấy ăn một lượng nhỏ sôcôla đen hàng ngày giúp bạn giảm huyết áp. Flavanol có trong sôcôla đen giúp cải thiện một số nguy cơ các bệnh tim mạch.

6. Rau bina (rau bó xôi)

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 4

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet)

Một loại rau lá xanh, chứa ít calo, nhiều chất xơ, và tốt cho sức khỏe tim mạch bởi nó chứa nhiều chất dinh dưỡng như kali, folate, và magiê - những thành phần quan trọng cho việc giảm và duy trì mức huyết áp ổn định. Món rau này sẽ trở nên rất dễ ăn và ngon tuyệt khi được trộn thành món salad hoặc ăn kèm với bánh mì.
9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 5

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Cà chua rất giàu chất chống oxy hóa lycopene và nhiều chất quan trọng khác giúp làm giảm huyết áp. Cà chua cũng chứa rất nhiều kali. Chế độ ăn uống giàu kali đã được chứng minh là hạ huyết áp cao và giảm nguy cơ bệnh tim.

4. Tỏi

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 6

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Tỏi có công dụng làm loãng máu và là loại thực phẩm tốt để giúp chống lại bệnh cao huyết áp. Khi cắt nhỏ, tỏi cũng tạo ra allicin, một hợp chất có đặc tính kháng khuẩn và chống nấm. Tỏi giúp chống lại nhiều bệnh như đột quỵ và bệnh tim và giảm cholesterol.

3. Sữa tách kem

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 7

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Sữa tách kem thật sự tốt cho cơ thể! Sữa không béo hoặc sữa ít béo sẽ cung cấp cho bạn một lượng canxi và vitamin D - hai chất dinh dưỡng này khi kết hợp với nhau sẽ giúp làm giảm huyết áp từ 3 đến 10 phần trăm. Mặc dù điều này ít được nghe nói đến, nhưng sữa ít béo có thể giúp làm giảm tới 15 % nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

2. Hạt đậu nành

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 8

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet).

Những hạt đậu nành cung cấp nguồn kali dồi dào. Khi kali thấp, cơ thể bạn sẽ giữ muối, khi quá nhiều muối dẫn đến tăng huyết áp. Khi kali cao, cơ thể sẽ loại bỏ natri, giữ BP ở mức thấp. Đậu nành cũng chứa isoflavone, giúp huyết áp thấp hơn.

1. Các loại ngũ cốc nguyên chất (bột yến mạch)

9 thực phẩm tốt nhất giúp hạ huyết áp - Ảnh 9

Ảnh minh hoạ (nguồn: Internet)

Các loại thực phẩm ngũ cốc nguyên là nguồn tuyệt vời của chất xơ, magiê và các chất dinh dưỡng thiết yếu khác cần thiết để duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng. Ăn những thực phẩm giàu chất xơ cũng giúp bạn cảm thấy đầy đủ cho một thời gian dài. Ngũ cốc có nhiều kali như kiều mạch và kê.
AloBacsi.com
Theo Đời sống và Pháp luật

Gắng sức về trí óc và thể lực, kẻ đồng hành gây bệnh tim

Gắng sức quá mức quả là nhân tố đe dọa đáng sợ: nó phát động nhồi máu cơ tim khá rõ. Trên thực nghiệm ở súc vật cũng thấy rất rõ sự quá sức về thể lực làm bộc lộ nhanh chóng một thiếu máu cục bộ tiềm tàng dẫn tới nhồi máu cơ tim. Sau khi gây xơ vữa động mạch thực nghiệm trên súc vật (một mình xơ vữa động mạch vành chưa gây ra nhồi máu cơ tim), người ta bắt buộc chúng chạy liên hồi, nghĩa là quá sức thể lực, tức tăng vọt nhu cầu ôxy thì thấy: sự quá sức càng lớn, nhồi máu cơ tim càng chóng xuất hiện. Gắng sức quá mức có thể còn đe dọa nhồi máu cơ tim bằng một cơ chế khác: làm tăng huyết áp đối với trường hợp có sẵn bệnh tăng huyết áp. Mà cơn tăng huyết áp cũng là một nhân tố đe dọa nhồi máu cơ tim. Còn những bệnh nhân nhồi máu cơ tim không được chẩn đoán kịp thời và cứ tiếp tục cố gắng thể lực thì cơ tim càng hoại tử lan rộng hơn dẫn đến đột tử. Thực tế cho thấy, không chỉ gắng sức trong lao động mà gắng sức trong thể thao, trong trí óc đều gây hại tim.
Gắng sức về trí óc và thể lực, kẻ đồng hành gây bệnh tim
Làm việc quá sức có thể gây nhồi máu cơ tim.
Đối với các căng thẳng tột độ của lao động trí óc, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, thông thường mức căng thẳng trí óc ở cuối tuần lễ lao động dễ tích lũy đến cực độ. Chính lúc này, chỉ số đông máu và cholesterol máu đều cao hơn đầu tuần . Vì vậy, cần chú ý ngăn ngừa căng thẳng vào lúc này để tránh tình trạng xảy ra nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu hồi cứu trên đa số bệnh nhân nhồi máu cơ tim thấy trước khi bệnh khởi đầu đã có giai đoạn lo âu hoặc tức giận, điều này đúng với Đông y “giận quá hại tâm”. Vì vậy, đối với tress ở dạng xúc cảm âm tính mà tột đỉnh là chấn thương tinh thần, ta có thể chủ động giải tỏa bằng nghị lực, bằng một phức hệ vệ sinh tinh thần cao cấp, bằng bản lĩnh, nhân cách, tư tưởng và cả quan niệm sống. Tóm lại, cần dĩ bất biến ứng vạn biến - đây là cả một nghệ thuật phụ thuộc vào phương pháp và cách tiếp nhận các biến cố (stress) của mỗi người. Hãy luôn thực hiện đúng lời khuyên của Hải Thượng Lãn Ông “thanh tâm quả dục, thủ thân luyện hình” để sống khỏe bạn nhé.

BS. Quang Nhật