Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Cảnh giác đột quị não khi giao mùa

Ai cũng biết rằng đột quị não, hay còn được gọi một cách nôm na là tai biến mạch máu não, có căn nguyên do tổn thương xơ vữa mạch não hoặc do tăng huyết áp.

Ai cũng biết rằng đột quị não, hay còn được gọi một cách nôm na là tai biến mạch máu não, có căn nguyên do tổn thương xơ vữa mạch não hoặc do tăng huyết áp. Nhưng còn một nguyên nhân cũng rất hay gặp trên thực tế lâm sàng gâyđột quị não, đó là nguyên nhân do... tim mà đặc biệt khi giao mùa thời tiết lạnh đột ngột.
Bệnh tim và đột quị não
Bệnh lý của tim có thể gây đột quị não khi những loại bệnh tim này là nguyên nhân của việc xuất hiện những cục máu đông (huyết khối) trong buồng tim (nhất là tâm nhĩ trái hoặc tâm thất trái). 
Một khi cục máu đông đã được hình thành trong buồng tim, nguy cơ nó có thể bong ra, xuống tâm thất trái, vào vòng đại tuần hoàn gây tắc mạch là rất lớn. Cục máu đông trôi theo hệ thống động mạch (ĐM) lên não (hệ mạch cảnh và sống - nền) sau đó sẽ bị kẹt ở một nhánh ĐM nào đó và gây nên triệu chứng.
Cảnh giác đột quị não khi giao mùa
Cục máu đông đã được hình thành trong buồng tim, nguy cơ nó có thể bong ra, xuống tâm thất trái, vào vòng đại tuần hoàn gây tắc mạch là rất lớn.
Các điều kiện làm cho huyết khối dễ hình thành trong tâm nhĩ bao gồm tần số đập của tâm nhĩ, kích thước tâm nhĩ, tình trạng máu tăng đông hoặc máu bị cô đặc do mất nước. Khi tâm nhĩ đập quá nhanh hay "rung" lên đơn thuần, máu sẽ luẩn quẩn ở tâm nhĩ mà không xuống tâm thất được nên dễ bị đông. Điều kiện thứ hai đó là kích thước của tâm nhĩ. Tâm nhĩ càng giãn to thì khả năng hình thành huyết khối trong đó càng lớn.
Rung nhĩ là một loại loạn nhịp gây ra bởi những xung động rất nhanh (khoảng 400 lần/phút) và rất không đều tác động lên tâm nhĩ làm cho nó gần như không kịp co bóp nữa mà chỉ "rung" lên không đều ở từng phần, từng sợi cơ. Trên lâm sàng, rung nhĩ chính là biểu hiện của chứng "loạn nhịp hoàn toàn".
Một số bệnh tim có biểu hiện rung nhĩ như bệnh hẹp van hai lá, bệnh mạch vành, viêm màng ngoài tim, ngộ độc digitan, bệnh tim bẩm sinh, viêm cơ tim, bệnh cơ tim phì đại và một số trường hợp không rõ nguyên nhân.
Biểu hiện của đột quị não do tim
Đột quị não do tim biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng. Khởi đầu bệnh nhân thấy đau đầu dữ dội, thất ngôn, liệt nửa người không đồng đều giữa tay và chân, hôn mê ở các mức độ khác nhau. Bệnh nhân có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề nếu cục máu đông gây tắc mạch lớn ở não.
Các trường hợp nhẹ hơn có thể chỉ biểu hiện bằng triệu chứng méo miệng, nói ngọng, nuốt sặc, liệt thần kinh vận nhãn. Cũng có thể cục máu đông, sau khi trôi lên não gây tắc mạch, tự tiêu đi theo cơ chế đông máu nên chỉ gây liệt trong thời gian ngắn và người bệnh có thể hồi phục hoàn toàn.
Chẩn đoán xác định đột quị não do tim dựa vào các triệu chứng lâm sàng của đột quị não ở người có bệnh tim đang bị loạn nhịp hoàn toàn hoặc loạn nhịp nhanh cộng với phim chụp cắt lớp, phim chụp cộng hưởng từ sọ não thấy có hình ảnh nhũn não (tắc mạch não) và siêu âm tim thấy có huyết khối tâm nhĩ trái, huyết khối van hai lá cơ học...
Dự phòng được không?
Dự phòng biến chứng tắc mạch não do rung nhĩ bao gồm hai vấn đề chủ yếu. Thứ nhất là kiểm soát tần số tim hoặc cố gắng đưa nhịp tim về nhịp xoang với các biện pháp như dùng thuốc (digitan, cordarone), sốc điện, đốt ổ loạn nhịp, phẫu thuật (thủ thuật Maze).
Thứ hai là ngăn cản sự hình thành huyết khối bằng việc sử dụng các thuốc chống đông. Các thuốc chống đông hay được dùng là thuốc loại chống kết tập tiểu cầu (aspirin, aspegic), thuốc kháng vitamin K như sintrom.
Việc uống thuốc dự phòng phải đều đặn, theo đúng chỉ định và phải được kiểm tra thường xuyên bởi các thầy thuốc chuyên khoa tim mạch. Điều trị dự phòng huyết khối phải được kết hợp với xử trí nguyên nhân gây rung nhĩ như nong tách hẹp van hai lá qua da hoặc mổ thay van, điều trị các bệnh mạch vành, đái tháo đường, viêm phổi. 
Bệnh nhân cũng nên duy trì một lối sống lành mạnh, đặc biệt tránh uống rượu và hút thuốc lá (những tác nhân dễ gây kích thích khởi phát cơn rung nhĩ), ăn nhạt, tập thể dục hoặc vận động phù hợp, tránh những xúc cảm hoặc stress, ăn uống đầy đủ...
Tóm lại, phải luôn cảnh giác với biến chứng tắc mạch gây đột quị não ở bệnh nhân có biểu hiện rung nhĩ (hay loạn nhịp hoàn toàn) do bất cứ nguyên nhân nào, từ đó có chiến lược dự phòng huyết khối để tránh các biến chứng nói trên có thể xảy ra.
Theo TS.BS Vũ Đức Định - Tiền phong

Đau thắt ngực cảnh báo bệnh mạch vành nguy hiểm

Nữ bệnh nhân 67 tuổi đến khám tại BV ĐH Y dược vì đau ngực trái đột ngột. Nhiều cơn đau kéo dài 5-10 phút ở giữa ngực, lan lên vùng cằm và tay trái.

Các cơn đau kiểu đè ép kèm theo khó thở và vã mồ hôi, xuất hiện ngay cả khi bệnh nhân nằm nghỉ ngơi. Với chẩn đoán cơn đau thắt ngực không ổn định, bệnh nhân được chụp động mạch vành cấp cứu, kết quả cho thấy nhiều chỗ hẹp trên cả 3 nhánh mạch máu nuôi tim. 
Sau hội chẩn, các bác sĩ BV ĐH Y dược TPHCM quyết định phẫu thuật để làm các cầu nối động mạch vành bán cấp. Bệnh nhân phục hồi sức khỏe tốt và được xuất viện sau một tuần.
Cơn đau thắt ngực không ổn định là một trong ba biểu hiện của hội chứng độngmạch vành cấp tính. Đây là tình trạng cấp cứu tim mạch nguy hiểm. Để điều trị, bên cạnh xác định và hạn chế các yếu tố nguy cơ, việc can thiệp để nong, đặt stent và phẫu thuật đóng vai trò quan trọng.
Các động mạch vành có thể bị hẹp và tắc theo thời gian khi hiện tượng xơ vữa động mạch diễn ra. Khi có nhiều chỗ hẹp trên nhiều mạch máu khác nhau, bệnh nhân có thể được hội chẩn và chỉ định mổ tạo các cầu nối bắc ngang qua chỗ hẹp để tăng lượng máu nuôi cho cơ tim, giúp tim hoạt động tốt, cung cấp đủ máu đi nuôi cơ thể.
Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành không sử dụng máy tim phổi Nhân tạo tại BV ĐHYD TPHCM. Ảnh: T.A
Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành không sử dụng máy tim phổi nhân tạo tại BV ĐH Y dược TPHCM. Ảnh: T.A
Phẫu thuật được tiến hành bằng cách cưa xương ức (ở giữa ngực) để mở lồng ngực và bộc lộ tim. Bác sĩ sẽ dùng một số mạch máu để làm các cầu nối qua chỗ hẹp. Các mạch máu này có thể là tĩnh mạch ở chân, động mạch trong lồng ngực hoặc ở một số vị trí khác của cơ thể.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của chuyên ngành gây mê, hồi sức và các kỹ thuật mới, có thể tiến hành phẫu thuật cầu nối mạch vành không cần sử dụng hệ thống tim phổi nhân tạo.
Trong phẫu thuật này, bác sĩ sử dụng một dụng cụ cố định tim đặc biệt, giúp cho vùng tim có động mạch vành bị hẹp không di chuyển trong khi các phần khác vẫn co bóp bình thường, duy trì tưới máu cho các cơ quan ổn định. 
Sau khi thực hiện xong một cầu nối, nhà phẫu thuật sẽ di chuyển bộ phận cố định tim đến một vị trí khác để thao tác, tuần tự đến khi thực hiện đầy đủ các cầu nối và tim được cung cấp máu đầy đủ.
Sau mổ, bệnh nhân sẽ được nằm ở khu hồi sức đặc biệt khoảng 1-3 ngày để được theo dõi sát, chăm sóc và xử lý ngay khi có diễn tiến không thuận lợi diễn ra.
Bệnh nhân đã được phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cần phải điều chỉnh lối sống hợp lý. Chế độ ăn nhạt, giảm mỡ, duy trì cân nặng lý tưởng, tập thể dục mỗi ngày, ngưng hút thuốc lá và giảm căng thẳng. 
Vì bắc cầu động mạch vành không điều trị bệnh nền nên các bệnh nhân vẫn phải uống thuốc và tái khám định kỳ đều đặn tại các trung tâm có chuyên khoa tim mạch. Cần sử dụng thuốc kháng kết tập tiểu cầu, một loại kháng đông, rất cần thiết để các cầu nối thông thương tốt trong thời gian nhiều năm.
Bệnh nhân làm công việc văn phòng có thể trở lại công việc bình thường sau phẫu thuật 4-6 tuần. Các bệnh nhân làm việc nặng hơn cần thời gian hồi phục lâu hơn. Khoảng 20-30% sẽ cần phẫu thuật lại trong vòng 10 năm.
Theo TS.BS Nguyễn Hoàng Định - ThS.BS Võ Tuấn Anh - VnExpress

Những nguyên tắc sống còn chống tăng huyết áp ngày lạnh


Thời tiết lạnh giá chính là tác nhân khiến cho mạch máu trong cơ thể bị co lại, áp lực máu vì thế mà tăng lên điều này cũng đồng nghĩa bạn có nguy cơ bị tăng huyết áp trong những ngày mùa đông là điều khó tránh.
Ủ ấm cơ thể
Mặc ấm, đeo găng tay, đeo tất để cơ thể không bị mất nhiệt, đảm bảo quá trình lưu thông và tuần hoàn máu diễn ra bình thường.

Người có tiền sử mắc bệnh cao huyết áp cũng nên hạn chế việc tập thể dục ngoài trời lạnh, làm việc ngoài trời lạnh, tối kỵ tắm nước lạnh và tắm muộn. Trước khi tắm cần khởi động nhẹ nhàng, nên vớt nước ấm từ từ lên tay, chân rồi mới đến cơ thể. Không đột ngột xối nước vào cơ thể để tránh sự thay đổi nhiệt độ.

Tất cả những tác nhân nguy hiểm này đều có thể khiến cho người bệnh bị tăng huyết áp đột ngột và thậm chí là đột quỵ, tử vong. Vậy nên giữ ấm cơ thể là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vào những ngày lạnh bạn cần ghi nhớ.
Ăn uống điều độ
Theo các chuyên gia dinh dưỡng thì bệnh nhân cao huyết áp nên học cách cắt giảm những chất béo gây hại vào trong cơ thể. Những chất béo này là loại mỡ động vật, thịt mỡ, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh.

Ngoài ra trong chế độ ăn uống bạn cũng nên hạn chế những thực phẩm nhiều muối, bởi bệnh nhân cao huyết áp nên kết thân với loại thực phẩm này vì nó sẽ “tiếp tay” cho cơn tăng huyết áp. Đây cũng là cách bệnh nhân cao huyết áp tự “rút ngắn” tuổi thọ” của mình.

Thận trọng với những món ăn có chứa nhiều muối như dưa, cà, kim chi, món kho, … cũng không thừa.

Ăn bổ sung tăng cường những đa dạng các loại rau xanh, trái cây để bổ sung nước cũng như vitami, khoáng chất cần thiết cho cơ thể.
Tránh xa đồ uống có cồn
Đồ uống có cồn sẽ khiến cho áp lực máu tăng lên, trong khi các mạch máu co lại rất nguy hiểm với bệnh nhân tăng huyết áp. Người bệnh vì thế dễ phải đối mặt với nguy cơ xơ vữa động mạch, nguy hiểm hơn là đứt mạch máu não.

Theo các chuyên gia thì việc chỉ thu nạp một lượng nhỏ đồ uống có cồn sẽ khiến cho áp lực máu tăng lên 2-4 mmHg. Những loại đồ uống có cồn chẳng những không giúp cơ thể tăng nhiệt như nhiều người vẫn tưởng mà ngược lại nó còn khiến cơ thể bị mất nhiệt. chính vì thế, dù là mùa đông hay mùa hè người bệnh cũng nên kiêng kị tuyệt đối với loại đồ uống này.

Trái lại với rượu bạn nên kết thân với nước lọc, nước trái cây lại mang đến những “điểm cộng” tích cực cho cơ thể.
Cai thuốc lá
Trong thành phần của khói thuốc có chứa đến hơn 4000 chất độc, thành phần nicotine trong khói thuốc sẽ khiến cho áp lực máu tăng lên nhanh chóng, đến mức 10 mmHg hoặc thậm chí là hơn trong vòng 1 giờ sau khi hút thuốc. Kể cả những người hít phải khói thuốc cũng có nguy cơ bị tăng huyết áp và phải đối mặt với hàng tá những rắc rối khác liên quan đến sức khỏe.

Vì thế bệnh nhân cao huyết áp hãy kiên quyết nói không với môi trường có khói thuốc lá để tránh những rủi ro không mong muốn.
Theo Khổng Thu Hà - Infonet

6 cách phát hiện sớm cơn đau tim

Bệnh tim là "kẻ giết người" hàng đầu ở phụ nữ. Tuy nhiên, triệu chứng của các cơn đau tim ở phụ nữ lại thường bị chẩn đoán nhầm, dẫn đến sự chậm trễ trong điều trị.


1. Mất ngủ và mệt mỏi bất thường
Mệt mỏi bất thường (cảm giác kiệt sức hay cơ thể mệt mỏi mà không phải do hoạt động thể chất) là một trong những triệu chứng sơ bộ của cơn đau tim ở phụ nữ. Dấu hiệu này xuất hiện khoảng một tháng trước khi cơn đau tim xảy ra.
Theo Viện Tim Texas, một cuộc khảo sát trên 500 phụ nữ bị đau tim cho thấy: Khoảng 71% cảm thấy mệt mỏi bất thường, suy nhược cơ thể. Phụ nữ từng bị các cơn đau tim tấn công cũng cho biết họ gặp chứng khó ngủ trong vài tuần trước khi cơn đau xảy ra.
2. Thở gấp
Đôi khi đau tim xảy ra không phải do các cơn đau ngực, tức ngực nhưng người bệnh cảm thấy vô cùng khó thở. Nó giống như bạn vừa chạy marathon trong khi thực tế bạn chẳng làm gì. 

Đó là cảm giác đau đớn khi hít vào, tức ngực hoặc thở không ra hơi; nhịp thở ngắn, thở hổn hển; hoặc cảm giác như không nhận đủ ôxy vào phổi hay có vật gì đó đang mắc nghẹn trong cổ họng.
Theo Viện Tim Texas (Mỹ) 58% phụ nữ trong cuộc khảo sát đã có triệu chứng này trước khi bị đau tim.
3. Đau thắt ngực
Thực tế cho thấy phụ nữ thường không có kinh nghiệm nhận biết dấu hiệu này. Những phụ nữ đã trải qua cơn đau ngực mô tả họ cảm thấy như ngực bị đè lên hoặc có cảm giác đau thắt. Cơn đau xảy ra ở phía sau xương ức, nó có thể di chuyển đến cổ, cánh tay, quai hàm hay phía trên lưng nên dễ bị nhầm là cơ bị kéo.
Chứng đau thắt ngực liên quan đến bệnh tim diễn ra thường xuyên, nhưng cơn đau thường rất ngắn. Nguyên nhân là do các mảng bám tích tụ ở động mạch vành, sẽ làm ảnh hưởng đến lượng máu cung cấp cho cơ tim, khiến cơ tim bị ép lại. Triệu chứng này xuất hiện nhiều hơn khi tim chịu thêm áp lực trong quá trình tập thể dục hoặc căng thẳng.
4. Khó tiêu, buồn nôn
Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng các dấu hiệu bệnh tim chỉ xảy ra ở vùng ngực nhưng trên thực tế, bất thường ở vùng bụng cũng có liên quan đến đau tim. Một số người, nhất là ở phụ nữ cảm thấy khó chịu ở dạ dày hoặc khó tiêu, ợ nóng, kèm theo đó là hiện tượng buồn nôn.
Theo các nghiên cứu, số phụ nữ bị nôn, buồn nôn và khó tiêu nhiều tháng trước khi cơn đau tim xảy ra lớn gấp đôi đàn ông. Nguyên nhân là do chất béo lắng đọng trong động mạch đã khiến lượng máu cung cấp cho tim giảm xuống, tạo cảm giác co thắt hay đau ở ngực và đôi khi là ở bụng.
5. Chóng mặt
Đau tim có thể gây ra do cảm giác chóng mặt, choáng váng, mất thăng bằng hoặc ngất xỉu. Người bệnh rơi vào trạng thái đầu đang quay quay, mất ý thức, muốn ngất xỉu giống như hiện tượng sợ độ cao.
6. Đổ mổ hôi
Cơ thể đột nhiên đổ mồ hôi mà không có sự vận động hoặc trong điều kiện nhiệt độ bình thường. Khuôn mặt nhợt nhạt, tái mét kèm theo cảm giác khó chịu ở ngực, cổ, cánh tay, hàm có thể là những dấu hiệu báo trước cơn đau tim chuẩn bị tấn công.
Theo Sức khỏe gia đình

Đậu nành + nấm hương = hạ huyết áp


Ảnh minh họa
Từ xưa, các bà nội trợ đã chế biến ra nhiều món ăn như đậu hũ, tương, sữa và nhiều loại bột, thực phẩm bổ sung khác rất có lợi cho sức khoẻ.
Theo y học cổ truyền, đậu nành có vị ngọt tính bình, tác dụng tư âm, bổ huyết, thanh nhiệt, hóa đàm. Chữa trị âm hư hỏa vượng, gây hoa mắt chóng mặt, miệng khô khát. Đậu nành ăn rất tốt cho người gầy khó lên cân, phụ nữ tiền mãn kinh hay bị bốc hoả.
Theo dược tính hiện đại, trong 100g đậu có tới 34g protein, so với thịt lợn, thịt bò khoảng 19 - 21g, đậu cũng giàu chất béo (lipit) có tới 18,4g chất béo. Ngoài ra, đậu nành còn có nhiều vitamin các chất khoáng đa vi lượng rất cần thiết cho cơ thể.
Tài liệu gần đây cho rằng, mỗi ngày uống một ly sữa đậu nành có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá, tăng khả năng miễn dịch và ngừa ung thư, ngừa bệnh tiểu đường, tim mạch, huyết áp cao, loãng xương. Ngày càng có thêm nhiều tài liệu cho thấy, đậu nành là loại thực phẩm giàu dưỡng chất ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.
Đậu nành được ví như nguồn bổ sung chất phytoetrogen, như dùng liệu pháp hormon thay thế, làm chậm hội chứng tiền mãn kinh cho phụ nữ như bốc hỏa, viêm teo âm đạo, loãng xương, cũng như kích thích tố nữ (nữ hóa), tuy nhiên nam giới có nhiều nữ tính không nên dùng nhiều.

Vị thuốc đậu nành còn gọi đại đậu, cổ phương thường dùng đậu nành làm thuốc như trị sinh xong trúng phong, các chứng bệnh sau sinh (cát căn, đại đậu, độc hoạt, phòng kỷ). Liều vừa đủ, sắc uống.
Trị phong thử, toàn thân phù: Bạch truật 48g, hạnh nhân 90g, hoàng kỳ 30g, ma hoàng 60g, phòng kỷ 60g, phòng phong 48g, xích phục linh 60g. Bằng cách sắc lấy nước thuốc cho đại đậu 30g và rượu ngon hầm nhừ ăn tuần vài lần.
Trị trúng phong xây xẩm, sợ gió, mồ hôi tự ra, nôn ra nước: Đại đậu 250g, thanh tửu 1 lít. Sao đậu, cho thật đen cho rượu vào, chưng, bỏ đậu đi. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 - 40ml. Tác dụng: Khứ phong, tiêu huyết kết.
Chữa bệnh tim mạch và cholesterol cao: Hằng ngày nên uống 2 - 3 ly sữa đậu nành.
Chữa chứng đau đầu chóng mặt miệng khô khát (huyết áp cao): Dùng đậu phụ 200g, nấm hương 40g, tôm 25g, cho thêm dầu vừng và gia vị vừa đủ tuần ăn vài lần.
Lưu ý, sữa đậu nành khi dùng phải đun sôi nấu chín vì trong sữa sống có chứa mentrypsin, saponin là chất nếu dùng sống dễ bị buồn nôn đau bụng đi ngoài. Tài liệu khuyến cáo không nên uống sữa đậu nành cùng với trứng, cũng như với đường nhiều cơ thể sẽ khó hấp thu dễ bị đầy bụng.

Theo Lương y Nguyễn Minh - Kiến thức

Viêm tim vì mụn nhọt ngoài da

Mụn nhọt không chỉ gây ngứa và xấu xí vẻ bề ngoài như bạn tưởng. Sự thực gánh nặng có thể đè lên tim nếu bạn chủ quan.


Mụn ngoài, bệnh trong
Mụn nhọt là hiện tượng thường xảy ra vào mùa hè và dường như ai cũng ít nhất một lần phải đối diện với mụn nhọt. Nhưng trên thực tế, tại bệnh viện, chúng tôi đã gặp một số bệnh nhân nhập viện khi đã sốt cao, khò khừ mà nguyên nhân chỉ vì mấy mụn nhỏ ngoài da. 
Nhiều người luôn cho những mụn ngoài da như viêm nang lông, chốc lây, chốc loét, viêm quầng, đinh nhọt… chỉ là vấn đề nhỏ của riêng da. 
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mụn nhọt trên da lại gây ra những biến chứng nguy hại, nguy hiểm nhất là biến chứng vào tim như viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, có thể viêm cơ tim nhưng cũng có thể viêm tim toàn bộ.
Nguyên nhân chính ở đây là do sự phản ứng lầm lẫn của cơ thể, giữa một bên là vi khuẩn và một bên là màng tim. Màng tim và vỏ vi khuẩn có sự tương đồng về cấu trúc. 

Do vậy, trong quá trình miễn dịch tấn công vi khuẩn, cơ thể đã tạo ra những kháng thể tấn công nhầm lẫn vào cả màng tim dẫn đến viêm tim nghiêm trọng. Mặt khác độc tố của vi khuẩn xâm nhập vào máu gây ra biến đổi cấu trúc màng tim trở nên tương tự hoặc giống y hệt với lớp vỏ vi khuẩn.
Người ta thấy, biến chứng trên tim hay xảy ra ở độ tuổi từ 5-15 tuổi. Những người có bệnh tim, điều kiện vệ sinh không đảm bảo, nhiễm trùng ngoài da nặng, mụn nhọt xuất hiện trên diện rộng càng dễ bị biến chứng này.
Dễ tái phát, tử vong nhanh
Chúng không chỉ là ổ bệnh gây ra bệnh trên tim mà còn là ổ chứa bệnh cho các đợt tái phát về sau.
Mụn nhọt trên da chỉ gây đau, ngứa và chảy nước nhưng khi đã biến chứng lại hoàn toàn có thể gây ra tử vong. Khi bị viêm tim, bệnh nhân có thể xuất hiện các ổ áp xe trong tim, màng tim, van tim thì bị sùi, loét, thủng và bị xé nhỏ ra từng mảnh bay lật phật trong dòng máu mỗi khi tim co bóp. 
Tình hình nguy cấp, bệnh nhân sẽ bị suy tuần hoàn cấp tính, do huyết tắc mạch vành, mạch thận và mạch não. Ở những bệnh nhân dùng van tim nhân tạo thì van tim có thể bong ra khỏi ổ tim và tử vong ngay tức khắc.
Vì vậy sau khi cơ thể nổi mụn nhọt mà kèm thêm biểu hiện sốt cao rõ rệt, sốt cả ngày, khó thở, tĩnh mạch ở cổ, ở mặt, ở thân mình nổi rõ, cần đưa bệnh nhân tới bệnh viện ngay.
Xử lý mụn nhọt đúng cách
Để phòng chống biến chứng, bạn chớ coi thường những mụn nhọt ngoài da, nên điều trị theo quy trình:
- Không được cào gãi làm xây xát trên da. Trong trường hợp bị bệnh chốc lây thì chủ động chọc thủng dịch tránh để lây lan.
- Ngay từ những ngày đầu tiên phát mụn, bệnh nhân cần phải bôi dung dịch sát như xanh metylen, cồn iốt, dung dịch thuốc tím pha loãng.
- Khẩn trương nhập viện nếu bị mụn nhọt trên diện rộng.
- Khi bác sĩ kê đơn kháng sinh thì bắt buộc phải dùng đủ liều phòng biến chứng tối đa.
.


Theo Sức khỏe gia đình

8 loại thực phẩm giúp ngừa chứng xơ cứng động mạch



Theo Gia Linh - Kiến thức

Phụ nữ độc thân dễ tử vong do bệnh tim

Kết quả một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Huffington Post (Mỹ) cho thấy, phụ nữ độc thân có thể tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim hơn so với phụ nữ đã lập gia đình.


Nghiên cứu khoa học cho thấy, phụ nữ độc thân có nguy cơ tử vong do bệnh tim hơn phụ nữ đã lập gia đình. Ảnh minh họa: internet
Các nhà nghiên cứu đã xem xét dữ liệu và theo dõi 734.626 phụ nữ, có độ tuổi trung bình là 60, trong khoảng thời gian gần 9 năm. Khi nghiên cứu bắt đầu, tất cả số phụ nữ tham gia không ai bị bệnh tim, ung thư và đột quỵ.
Sau thời gian nghiên cứu, khoảng 30.747 phụ nữ đã được ghi nhận nhập viện hoặc tử vong do bệnh tim. Qua phân tích, các nhà nghiên cứu cho biết, phụ nữ độc thân tăng 28% nguy cơ tử vong do bệnh tim hơn so với những phụ nữ đã lập gia đình.
Kết quả vẫn không thay đổi, ngay cả sau khi các nhà nghiên cứu đã loại trừ các yếu tố khác có thể gây bệnh tim ở phụ nữ, như mức độ kinh tế và địa vị xã hội. Phụ nữ độc thân trong nghiên cứu này bao gồm phụ nữ chưa lập gia đình hoặc ly dị.
Vậy, điều gì giúp phụ nữ đã lập gia đình giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim? Theo giải thích của các nhà nghiên cứu, sở dĩ vậy là do tác động tích cực từ cuộc sống gia đình, tạo cho chị em luôn có ý thức duy trì tình trạng sức khỏe tốt hơn so với phụ nữ độc thân hoặc ly dị…
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng, nghiên cứu này là lần đầu chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân, gia đình với sức khỏe của phụ nữ, trong khi các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào nam giới.

Theo Nguyễn Niệm - Phụ nữ thành phố

4 loại dầu ăn tốt cho tim

Bệnh tim là một trong số những “sát thủ” nguy hiểm đối với loài người và đang trở thành mối đe dọa toàn cầu.

Vì thế, việc bảo vệ và duy trì sức khỏe tim mạch là hết sức cần thiết và quan trọng đối với mỗi người.

Theo các chuyên gia, bạn có thể duy trì sức khỏe tim mạch bằng nhiều cách, một trong số đó là thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, bao gồm các loại chất béo có lợi cho tim.
Theo trích dẫn của tạp chí Women’s Health Mag (14/10), dưới đây là bốn loại dầu ăn đã được chứng minh không chỉ mang lại nhiều lợi ích về mặt dinh dưỡng mà còn rất tốt cho sức khỏe tim mạch
1. Dầu hạt mè
Nghiên cứu cho thấy, dầu chiết xuất từ hạt mè (vừng) có thể giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, sâu răng và nguy cơ da bị cháy nắng. Ngoài ra, loại dầu này còn là nguồn giàu chất chống oxy hóa mạnh, có thể giúp kiểm soát mức đường huyết cũng như cholesterol - những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh tim.
2. Dầu bơ
Dầu bơ đã được biết đến là nguồn phong phú các chất chống viêm và chống oxy hóa, có tác dụng giúp ngừa bệnh tim, khắc phục tình trạng đau khớp và rất có ích cho sức khỏe làn da. Trong trường hợp không có dầu bơ, bạn có thể thường xuyên ăn quả bơ cũng sẽ mang lại những lợi ích tương tự. 
3. Dầu quả óc chó
Dầu quả óc chó được đánh giá có tác dụng tốt cho sức khỏe tương tự như dầu cá. Dầu quả óc chó rất giàu axít béo omega-3 và ALA, có công dụng tăng cường sức khỏe hệ miễn dịch và hệ thần kinh. Ngoài ra, loại dầu này còn được chứng minh có khả năng ngăn ngừa tâm trạng căng thẳng và tình trạng cao huyết áp, nhờ thế có thể giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch. 
4. Dầu dừa 
Theo các chuyên gia, dầu dừa có chứa chất chống oxy hóa uberoil, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, như bảo vệ sức khỏe răng miệng, kiểm soát cholesterol và thậm chí giảm béo - những tác nhân quan trọng dẫn đến bệnh tim. Bên cạnh đó, loại dầu này còn được chứng minh có thể giúp cải thiện sức khỏe hệ tiêu hóa.
AloBacsi.vn
Theo Nguyễn Niệm - Phụ nữ thành phố

Điều hòa cholesterol làm giảm 74% nguy cơ nhồi máu cơ tim

Đối mặt với bệnh lý nguy hiểm này không phải chỉ ở độ tuổi 45 - 55 như trước kia mà hiện nay có nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim chỉ mới độ tuổi 20.

Song song đó, tỷ lệ đột tử cũng ngày càng gia tăng, ước tính mỗi năm trên thế giới có 7,3 triệu người chết do nhồi máu cơ tim và nếu may mắn được cứu sống, bệnh nhân phải chịu những di chứng nặng nề cũng như nguy cơ tái phát cao.
Rối loạn mỡ máu là nguyên nhân chính gây nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Chị N.H.L (nhân viên văn phòng, Q10, TPHCM) vẫn chưa quên được cái chết của anh bạn đồng nghiệp tuổi đời mới chỉ 33. Cơn nhồi máu cơ tim xảy ra với anh quá nhanh không một dấu hiệu rõ ràng. 
Thậm chí trước đó, anh vẫn còn bình thường trêu đùa đồng nghiệp, nhưng chỉ sau 1 giờ anh đã ra đi dù được bạn bè đồng nghiệp đưa ngay đến bệnh viện chuyên khoa cấp cứu.
 Lý giải về những trường hợp này, TS.BS Lê Thúy Tươi cho biết: “Theo Quỹ Tim mạch Mỹ, gần 50% trường hợp đột ngột bị nhồi máu cơ tim không hề có dấu hiệu báo trước. Bệnh nhân gặp phải cơn nhồi máu cơ tim thầm lặng, không thể hiện triệu chứng thông thường và nguy cơ đột tử cao. Những trường hợp này xảy ra chủ yếu ở người già, phụ nữ hoặc người bị tiểu đường.”
Cũng theo BS Tươi, rối loạn mỡ máu là nguyên nhân chính gây nguy cơ nhồi máu cơ tim và 90-95% nguyên nhân liên quan đến quá trình xơ vữa động mạch, do lắng đọng cholesterol trong thành mạch. Tất cả là do lối sống, chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý, rượu bia, thức khuya, căng thẳng… làm rối loạn các thành phần mỡ máu và nguy hại đến sức khỏe con người. 
Cholesterol là thành phần cần thiết cho sự sống và hoạt động của cơ thể. Nó tham gia cấu tạo màng tế bào và sản xuất các hormone, vitamin. Tuy nhiên, sự cao thấp bất thường và không cân bằng các thành phần cholesterol sẽ tạo nên các mảng xơ vữa, cục máu đông trong lòng mạch máu làm hẹp và tắc mạch máu nuôi tim.
Đồng thời, hoạt động tế bào suy giảm, cơ thể khó hấp thu cholesterol sẽ làm dư thừa cholesterol trong máu. Trong khi đó, gan vẫn có nhiệm vụ sản xuất đến 80% lượng cholesterol trong cơ thể, nên dù không nạp cholesterol bằng đường ăn uống, nhiều người vẫn có nguy cơ bị thặng dư cholesterol và rối loạn mỡ máu.

GDL-5 thiên nhiên giúp cơ thể khỏe mạnh, tự điều hòa cholesterol nhờ cơ chế hoạt hóa receptor tế bào.  
Vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát tốt mỡ máu, điều hòa cholesterol để giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim. Hiện nay, Faz chứa tinh chất GDL-5 thiên nhiên được xem là giải pháp an toàn giúp cơ thể khỏe mạnh có thể tự điều hòa được lượng cholesterol trong máu, giữ các thành phần mỡ máu ở mức cần thiết và có lợi cho cơ thể.
GDL-5 được tinh chiết theo công nghệ độc quyền của Mỹ, giữ lại được nhiều nhất các thành phần sinh học quý của policosanol, sẽ giúp tế bào hoạt động khỏe, tiếp nhận cholesterol được tốt hơn. 
Với cơ chế tăng hoạt hóa receptor tế bào, GDL-5 giúp chuyển hóa LDL thành HDL, ngăn cholesterol bám vào thành mạch, từ đó giảm nguy cơ xơ vữa động mạch và sự hình thành các cục máu đông trong mạch máu, ngăn ngừa bệnh nhồi máu cơ tim và tránh nguy cơ tái phát lại.
Lời khuyên từ các chuyên gia tim mạch là song song với bổ sung dưỡng chất thiên nhiên GDL-5, bệnh nhân cần thay đổi lối sống, giảm các yếu tố nguy cơ thì sẽ có cuộc sống lâu dài hơn. 
Cụ thể nên hạn chế những yếu tố tăng khả năng mắc bệnh như thuốc lá, uống nhiều rượu bia, stress… Bên cạnh đó, thiết lập cho mình chế độ ăn hợp lý, giữ cân nặng ở mức độ thích hợp và tập thể dục đều đặn để bảo vệ bản thân trước nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Theo Lam Quỳnh - Lao động

Nguy cơ mắc chứng run từ bệnh huyết áp

Những người mắc bệnh huyết áp cao, huyết áp thấp hoặc xơ vữa động mạch cảnh, rối loạn mỡ máu, vôi hóa đốt sống cổ đều có nguy cơ gặp phải chứng run, rung giật chân tay.

Khi nhắc đến chứng run, chúng ta thường nghĩ đến bệnh Parkinson. Nhưng thực tế có một tỷ lệ lớn người mắc bệnh run lại xuất phát từ các vấn đề liên quan đến tình trạng giảm tưới máu não mạn tính do tăng, hạ huyết áp hoặc trong bệnh xơ vữa động mạch cảnh, rối loạn mỡ máu, vôi hóa đốt sống cổ.
Tăng huyết áp có thể gây run
Theo quan điểm của Y học cổ truyền, tăng huyết áp gây run theo cơ chế “Dương vượng sinh phong”. Ngày nay, y học hiện đại cũng lý giải quan điểm này dựa trên những bằng chứng khoa học rõ ràng. Tăng huyết áp là nguyên nhân chính gây xơ vữa mạch, làm hẹp động mạch cảnh, động mạch não, làm thiếu máu não mạn tính. 
Đồng nghĩa với việc não bộ không được cung cấp đầy đủ oxy, chất dinh dưỡng, sẽ dẫn đến teo não và suy giảm chức năng. Cùng với nguy cơ tắc mạch máu não tiềm ẩn bởi mảng xơ vữa bị nứt vỡ và hình thành cục máu đông làm tăng nặng thêm tình trạng này. Việc suy giảm hoặc mất một phần chức năng rơi vào vùng não điều khiển vận động sẽ gây nên chứng run, rung giật.
Thực tế cho thấy, một tỷ lệ lớn người mắc bệnh run đều có tăng huyết áp. Run do tăng huyết áp gặp nhiều hơn ở nam giới, đặc biệt là những đối tượng có tiền sử tăng huyết áp lâu ngày, kết hợp với mỡ máu cao, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia và ít vận động.
KuongLvStudio
Huyết áp cao có thể gây run
Huyết áp thấp - nguy cơ gây run tiềm ẩn
So với huyết áp cao, huyết áp thấp thường ít được quan tâm hơn, do trước mắt nó không gây ra các biến chứng cấp tính nguy hiểm. Tuy nhiên, với chứng run, huyết áp thấp cũng là một mối họa tiềm ẩn không kém gì huyết áp cao. Y học cổ truyền từ lâu đã nhận thức được rõ vấn đề này và giải thích theo cơ chế “Huyết hư sinh phong” (máu kém sinh run).
Theo y học hiện đại, nguyên nhân gây run ở những người huyết áp thấp chính là do thiếu máu não kéo dài gây thoái hóa, lão hóa, suy giảm chức năng hệ thần kinh, trong đó có hệ thần kinh vận động. Đồng thời, huyết áp thấp làm cho việc nuôi dưỡng các cơ kém đi, sự dẻo dai và khả năng hoạt động, cử động của cơ - xương - khớp bị suy giảm. 
Kết hợp cả hai nguyên nhân này khiến cho việc rối loạn vận động và run giật là khó tránh khỏi. Mặt khác, huyết áp thấp còn có thể dẫn tới nhồi máu não làm tổn thương hệ thần kinh vận động, từ đó dẫn đến chứng run khó hồi phục.
KuongLvStudio
Nguy cơ run tiềm ẩn do huyết áp thấp
Điều trị chứng run liên quan đến huyết áp từ xưa đến nay vẫn không dễ dàng, do thuốc chủ yếu làm giảm run thông qua việc ức chế thần kinh giao cảm - điều này chỉ giải quyết được triệu chứng và không phải là phương án lâu dài. 
Do đó, những năm gần đây, nhiều thầy thuốc đã tìm đến Đông y như một giải pháp an toàn, hiệu quả. Việc kết hợp bài thuốc cổ truyền câu đằng, thiên ma giúp “Bình can, tiềm dương” cùng các vị thuốc “bổ huyết” như câu kỳ tử, hà thủ ô được xem như một giải pháp toàn diện giúp hỗ trợ điều trị run cả hai thể bệnh (dương vượng và huyết hư) và mở ra hy vọng cho những người bệnh đang mắc phải chứng run.

Theo VnExpress

Kiểm soát mỡ máu bằng chế độ thực phẩm hợp lý

Dư thừa chất béo có thể gây ra các vấn đề về tim mạch, xơ vữa mạch máu, gây ra các vấn đề cho gan, thận, gây ra chứng cao huyết áp hay nặng hơn là nhồi máu cơ tim.

Cứ 3 người Việt Nam được hỏi thì sẽ có 1 người có vấn đề liên quan đến mỡ trong máu. Mỡ trong máu tăng cao hay còn gọi là rối loạn lipit máu. Các loại lipit trong cơ thể bao gồm: triglyceride, phospholipid và cholesterol. 
Có 10% triglyceride được tổng hợp ở gan và mô mỡ, 90% còn lại có nguồn gốc từ thức ăn. Cholesterol có hai nguồn gốc: 30% ngoại sinh từ các thức ăn có nguồn gốc động vật và 70% nội sinh do gan tổng hợp.

Đi tìm nguyên nhân

Nguyên nhân gây ra tình trạng này là những mảng cholesterol. Khi những mảng Cholesterol này trôi trong mạch máu của chúng ta, gặp nơi thích hợp sẽ lắng đọng, bám vào thành của các mạch máu. 
Những mảng xơ vữa này ngày càng nhiều làm cho thành mạch máu trở nên cứng, giòn, mất tính đàn hồi mềm dẻo và gây hẹp lòng mạch máu, làm dòng máu. Vậy nguyên nhân chính là dư thừa Cholesterol.
Dư thừa Cholesterol trong cơ thể là do thiếu vận động và chế độ ăn uống chưa hợp lý. Thiếu vận động làm cơ thể không đốt cháy được lượng Cholesterol dư thừa trong cơ thể. 
Lượng Cholesterol này được dự trữ trong tế bào mỡ, tích tụ ở dưới da, khi lượng mỡ dư, nó sẽ tái phân bố. Mỡ dư thường tích tại vùng bụng, thành ruột, thành tim, thành mạch máu, máu, tim, gan, tụy, não là những cơ quan đích của quá trình này.
Việc có thói quen ăn nhiều mỡ động vật và nội tạng động vật cũng như các chất có Cholesterol toàn phần cũng làm tăng lượng mỡ dư thừa trong cơ thể.

Biểu hiện của tăng mỡ máu

Thường người ta đánh giá nồng độ mỡ máu bằng hai xét nghiệm là định lượng nồng độ triglycerid toàn phần và nồng độ cholesterol toàn phần. Trong giới hạn bình thường, nồng độ cholesterol toàn phần có giá trị từ 4-5 mmol/l và triglycerid toàn phần có giá trị nhỏ hơn 2,3 mmol/l. 
Vượt quá chỉ số này được xem là tăng mỡ máu. Tuy nhiên, cũng không phải mọi sự vượt quá giá trị bình thường đều được coi là bệnh lý vì nó cũng bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, chẳng hạn như ăn uống.

Phòng và điều trị tăng mỡ máu

Chế độ dinh dưỡng với nhiều rau xanh sẽ làm giảm Cholesterol trong máu
Chế độ dinh dưỡng với nhiều rau xanh sẽ làm giảm Cholesterol trong máu
Trước tiên, cần đạt và duy trì cân nặng lý tưởng: BMI 20 – 22 kg/m2(BMI = cân nặng (kg)/chiều cao2 (m)); ăn mỡ (lipit), cholesterol dưới 200mg/ngày. 
Trong tự nhiên, lipit có nhiều loại: lipit bão hoà (mỡ động vật, dầu dừa, dầu cọ...), lipit không no một nối đôi (dầu ôliu, mỡ cá, hải sản, tảo...), lipit không no nhiều nối đôi (dầu bắp, dầu hạt bông, dầu đậu nành, dầu mè…), người tăng mỡ máu nên hạn chế lipit bão hoà. 
Đặc biệt, người thừa cân béo phì, cao huyết áp, tăng mỡ máu… nên chú ý lượng mỡ trong khẩu phần vì lipit cung cấp nhiều năng lượng.
Không lạm dụng rượu, bia và thuốc lá: Ngừng thuốc lá là việc làm cần thiết, quan trọng với bệnh nhân rối loạn mỡ trong máu, thuốc lá là yếu tố góp phần làm thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch và làm tăng cholesterol gây hại LDL. Uống rượu quá nhiều dễ bị tăng triglyceride hơn.
Luyện tập thể thao thường xuyên: Ngoài việc kiêng cữ trong ăn uống thì việc tập thể dục thể thao sẽ góp phần tăng tác dụng của việc kiêng ăn. Bác sĩ điều trị sẽ đề nghị hình thức tập thể dục chơi thể thao phù hợp với sức khỏe của từng người. 
Tập thể dục thể thao nhịp nhàng dưới các hình thức: đi bộ, chạy bộ, đạp xe đạp… ở mức độ không gắng sức là phù hợp. Mỗi lần tập cố gắng đủ 30 – 45 phút, ít nhất tập thường xuyên 3 lần/1 tuần. 
Nếu bạn bị béo phì, dư cân nặng và không tập thể dục nhiều năm nay, nên quyết tâm luyện tập, lúc đầu tập ít, sau tăng dần, cố gắng tập đều đặn. Lúc đầu có thể thấy mệt, buồn ngủ vào buổi sáng sau tập nhưng bạn sẽ quen dần và thấy khỏe hơn. 
Duy trì và phát triển vận động: cố gắng xây dựng thời khóa biểu tập thể dục thể thao, coi đó như là một thú vui. Có thể xây dựng nhóm cùng tham gia chương trình tập thể dục thể thao.
Hoạt động thể dục thể thao sẽ đốt cháy lượng Choleterol dư thừa. Ảnh minh họa
Hoạt động thể dục thể thao sẽ đốt cháy lượng Choleterol dư thừa. Ảnh minh họa
Điều trị mỡ máu: Hiện nay, có nhiều nhóm thuốc hạ mỡ trong máu: nhóm fibrate, nhóm statin, nhóm resin, nhóm niacin. Mỗi nhóm có tác dụng hạ mỡ theo những cơ chế khác nhau. Việc lựa chọn sử dụng loại nào phù hợp trong điều trị cho bệnh nhân sẽ do thầy thuốc chuyên khoa quyết định.

Theo Bảo An - VietQ.vn

Mối liên quan giữa suy tim và thịt đỏ

Hợp chất trimethylamine-N-oxide (TMAO) trong máu cao có liên quan với bệnh tim mạch và đột quỵ theo kết quả nghiên cứu trước đây.





Thịt đỏ ảnh hưởng đến tim. Ành: BBC
Tuy nhiên, gần đây các nhà khoa học còn phát hiện thêm chất này cũng có liên quan với tình trạng suy tim và tiên lượng lâu dài trên bệnh nhân.
Qua theo dõi trên 720 bệnh nhân suy tim trong năm năm, các nhà khoa học thuộc khoa phân tử tế bào của Trung tâm Y khoa Cleveland (Mỹ) nhận thấy nhóm bệnh nhân có TMAO trong máu cao thì khả năng tử vong do suy tim cũng cao, và chỉ số này độc lập với các yếu tố nguy cơ khác đã biết trước đây.
Ðược biết, các loại vi khuẩn đường ruột có thể chuyển đổi chất carnitine có nhiều trong các loại thịt đỏ, trứng, một số loại nước uống tăng lực thành hợp chất TMAO.
Tác giả nghiên cứu cho rằng theo dõi TMAO có thể giúp phát hiện những bệnh nhân nguy cơ cao, từ đó đưa ra hướng trị liệu cũng như chế độ ăn thích hợp.
Theo BS Huỳnh Khiêm - Tuổi Trẻ/ onlinejacc.org

Cách xử trí khi bị hạ đường huyết

Chế độ ăn kiêng quá mức ở người đái tháo đường, hay người tập luyện vận động quá mức cũng đều dễ xảy ra hạ đường huyết.

Thiếu hụt đường huyết trầm trọng có thể dẫn đến hôn mê, nếu tình trạng này không được bù đắp glucose kịp thời, nhất là hạ đường huyết nặng sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Nhịn ăn quá mức là một nguyên nhân dẫn đến hạ đường huyết
Nếu xảy ra trên người đái tháo đường: đây thường là những trường hợp người bệnh mắc sai lầm trong điều trị, họ dùng thuốc hạ đường huyết quá nhiều, đó là insulin hay sulfamid. Hoặc là giai đoạn đầu của đái tháo đường, đường huyết chưa ổn định. 
Đặc biệt nếu người bệnh đái tháo đường nhịn ăn quá mức, hoạt động thể lực nhiều, có kèm theo bệnh suy thận, bệnh tim mạch (dùng thuốc chẹn bêta và giãn mạch vành). Càng nguy hiểm hơn nếu có bệnh dạ dày, bệnh nội tiết.
Hôn mê hạ đường huyết cũng có thể xảy ra ở người không bị đái tháo đường do những nguyên nhân sau: Cơ thể tiết ra nhiều insulin (do tăng sản, u tế bào bêta đảo langergans) hoặc quá trình xuất hiện u ngoài tụy tạng. 
Những người nhịn ăn, suy dinh dưỡng, những người nghiện rượu...bệnh cũng xuất hiện ở những người có bệnh nội tiết như bệnh ở tuyến thượng thận hay mắc bệnh cơ năng, có sự bất thường về chuyển hoá... Thậm chí có những người bị hôn mê hạ đường huyết do lạm dụng insulin để tự tử.
 Suy tuyến thượng thận có thể dẫn đến hạ đường huyết
Suy tuyến thượng thận có thể dẫn đến hạ đường huyết.
Cảnh giác với các dấu hiệu hôn mê do hạ đường huyết
Trước khi có dấu hiệu hôn mê người bệnh thường có những biểu hiện sau: Về tiêu hoá, bệnh nhân thấy đói cồn cào, xót ruột, đau bụng…Đối với tim mạch xuất hiện những cơn đau thắt ngực, có các dấu hiệu vận mạch. 
Toàn thân người bệnh vã mồ hôi, xuất hiện cảm giác mệt mỏi. Đặc biệt là về tinh thần kinh, người bệnh thấy cơ thể bạc nhược, giảm hoạt động trí tuệ, lú lẫn, thay đổi tính tình, dễ bị kích động, xuất hiện hiện tượng dị cảm, nhìn một hoá hai, có các động tác bất thường, thậm chí có rối loạn giấc ngủ.
Những trường hợp hạ đường huyết nặng sẽ có thể xuất hiện lú lẫn cấp tính, người bệnh bị kích động mạnh, có dấu hiệu liệt nửa người (giả đột qụy) hoặc dấu hiệu thần kinh khu trú. Bệnh nhân có những cơn co giật, có thể ngắt quãng hoặc liên tục. 
Khi hôn mê sâu có rối loạn ý thức, có thể kèm theo tình trạng vật vã, các động tác bất thường, có những dấu hiệu đặc biệt như tăng trương lực cơ toàn thân, dấu hiệu Babinski hai bên, vã mồ hôi nhưng không có biểu hiện mất nước.
Ngoài ra người bệnh còn có thể có phản xạ tăng, dấu hiệu mút tay, níu áo, đầu và mắt quay sang một bên, giãn đồng tử hoặc đồng tử dao động. Biểu hiện hội chứng vận mạch và tim là điện tim đồ có thể hiện thiếu máu cơ tim. Bệnh có thể tiến triển thành hôn mê kéo dài (phù não) hoặc di chứng tinh thần kinh vĩnh viễn (bệnh não sau cơn hạ đường huyết).
Làm gì khi bị hạ đường huyết?
Đối với những bệnh nhân khi thấy có dấu hiệu hạ đường huyết phải nhanh chóng ăn nhẹ như cháo loãng, súp hoặc uống một cốc nước đường (200ml), để người bệnh nằm nghỉ ngơi yên tĩnh, khi người bệnh tỉnh táo trở lại nên được ăn đầy đủ chất dinh dưỡng. 
Đối với người bệnh đái tháo đường bị hạ đường huyết nên sử dụng dung dịch ngọt ưu trương 30% ngay từ khi có nghi ngờ hạ đường huyết, đặc biệt trước một rối loạn thần kinh cấp xảy ra trên bệnh nhân đang được điều trị bằng insulin hoặc sulfamid.
Khi tiêm cần tiêm rất chậm, liều sử dụng không quá 60ml, sau đó thay bằng truyền nhỏ giọt dung dịch ngọt 10-15%. Tiêm glucose tĩnh mạch đồng thời cũng là test chẩn đoán có giá trị lớn, các dấu hiệu hôn mê sẽ mất ngay tức thì. 
Cũng có thể tiêm glucagon (tiêm bắp hay tĩnh mạch cũng có tác dụng tương tự). Nếu được điều trị sớm, bệnh nhân có thể tự khỏi không để lại di chứng gì, tuy nhiên sau cơn hạ đường huyết có giảm đi một phần. Tiến triển của bệnh phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng bệnh nhân có được điều trị kịp thời hay không.
Để phòng bệnh, mọi người không nên nhịn đói, hoặc để cơ thể bị đói quá lâu, không nên nhịn ăn mà hoạt động thể lực quá mức. Nhất thiết không được bỏ bữa sáng, đặc biệt là người già, trẻ em, những người có bệnh mạn tính, cơ thể yếu. 
Đối với bệnh nhân đái tháo đường không nên quá nóng vội mà dùng quá liều insulin mà phải tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ. Những bệnh nhân này cũng cần có chế độ tập luyện thể lực điều độ, nên mang sẵn những thứ như kẹo gừng để khi cảm thấy có dấu hiệu hạ đường huyết cần sử dụng ngay. 
Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở người đái tháo đường là phải luôn kiểm soát đường huyết chặt chẽ, tránh những biến chứng đáng tiếc xảy ra.

Theo BS Đặng Quốc Nam - Sức khỏe và Đời sống

Những thực phẩm hàng đầu người bệnh tim nên ăn

Các bệnh liên quan đến tim mạch đang đe dọa nhiều người, tuy nhiên bạn không nhất thiết phải quá lo lắng. Hãy tận dụng những phương thuốc quý từ thiên nhiên để trái tim bạn luôn khỏe mạnh.


Tỏi
Tỏi giúp làm giảm LDL (cholesterol xấu) tăng HDL (cholesterol tốt), do đó làm giảm các rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu, chống xơ cứng động mạch vành, động mạch não, động mạch ngoại vi. Ngoài ra, tỏi còn có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, không cho kết tụ thành cục máu đông nên ngừa tai biến tim mạch và làm hạ huyết áp.
Chỉ nên ăn tỏi 2 lần/ngày (1 thìa cà phê) bằng cách cho vào món ăn, không nên dùng nhiều vì nó có thể dẫn đến rối loạn dạ dày, ức chế tuyến giáp… Đặc biệt, nếu uống nhiều rượu tỏi lại gây hại cho tim như loạn nhịp tim, giãn các buồng tim, giảm sức co bóp của tim và suy tim.
Vừng
Dầu vừng trắng và đen rất giàu acid amin, (đặc biệt là vừng đen) có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh về nội khoa, nhất là các bệnh về tim mạch.
Uống hàng ngày 10-25ml dầu vừng hoặc bạn có thể rang chín vừng rồi giã nhỏ ăn kèm cơm.
Hành tây đỏ
Là loại gia vị thông dụng chứa nhiều protit, mỡ, đường, vitamin, caroten, canxi, phospho, sắt… những chất này làm giảm sự lắng đọng cholesterol trên thành mạch máu, chúng có thể phá hủy các chất gây tắc nghẽn mạch máu, làm giảm các cơn đau tim, xơ cứng động mạch vành.
Làm gia vị để các món ăn thêm thơm và ngon hơn.
Hành ta
Có khả năng loại bỏ cholesterol LDL và giữ cholesterol HDL nên hành ta rất tốt để ngừa các bệnh về tim và đột quỵ.
Dùng để tẩm ướp hay phi giòn lên để tạo mùi vị cho món ăn hằng ngày.
Cà chua
Chất Lycopen, thành phần tạo nên màu đỏ của cà chua là chất chống ôxy hóa tự nhiên không chỉ tốt cho cơ thể mà còn có khả năng giảm nguy gây nên bệnh tim.
Cho cà chua vào món ăn hoặc uống nước ép cà chua đều đặn hằng ngày. Nếu bạn không thích cà chua thì cũng đừng lo, đã có dưa hấu, cà rốt, đu đủ và bưởi hồng. Tất cả các loại quả này .đều chứa nhiều lycopen.
Ớt
Chất capsaicin có nhiều trong ớt tươi đem lại lợi ích rất lớn cho tim mạch, bao gồm tác dụng làm giảm nồng độ cholesterol "xấu" trong máu và cân bằng huyết áp. Chất capsaicin còn có tác dụng loại bỏ hay giảm bớt các mảng bám tồn tại trong thành động mạch. Máu sẽ lưu thông dễ dàng hơn, nhờ đó giúp cải thiện các triệu chứng của các bệnh về động mạch vành hiện nay.
Mỗi bữa có thể ăn một vài lát ớt nhưng không nên ăn quá nhiều vì nó có thể ảnh hưởng đến dạ dày của bạn.
Quế
Giúp giảm lượng cholesterol trong máu, chống lại quá trình oxy hóa, ngăn chặn sự phá hủy của các tế bào bởi các gốc tự do có trong máu tạo nên các mảng mỡ tích tụ trên thành động mạch. Từ đó, giúp bệnh nhân tim mạch giảm được các cơn đau, khó thở.
Mỗi ngày có thể dùng 1 thìa cà phê quế cho vào các món ăn.
Dầu olive
Là một trong những loại dầu tốt nhất cho sức khỏe của tim vì nó rất giàu acid béo không bão hòa dạng đơn thể (monounsaturated). Ngoài ra dầu olive còn có các chất chống oxy hóa như Vitamin E, chất Polyphénol giúp làm giảm các Cholesterol LDL và ngừa nghẽn mạch máu.
Để có hiệu quả cao nhất, bạn nên dùng dầu olive để nấu ăn thay vì chỉ thêm dầu olive vào các món ăn sống.
Giấm hoa quả
Loại giấm hoa quả đã lên men trong vòng 8 tuần có thể giúp cơ thể bạn tăng lượng cholesterol HDL, rất tốt cho hệ tim mạch.
Nên uống 1 hoặc 2 thìa cà phê giấm hoa quả mỗi ngày.
Khoai tây
Tăng khoai tây trong khẩu phần ăn sẽ giảm được lượng cholesterol LDL trong máu, phòng được nhồi máu cơ tim, đồng thời giảm được nồng độ kali trong máu, một trong những nguyên nhân góp phần làm nghẽn mạch.
Nên ăn khoai tây luộc và ăn thường xuyên.
Táo
Khi bạn ăn táo đều đặn, chất lipoprotein - một loại cholesterol "xấu" gây xơ vữa động mạch và tăng rủi ro hình thành cục máu đông làm nghẽn các động mạch nuôi tim và não sẽ giảm.
Nên ăn 2 quả táo mỗi ngày.
Lá sen
Về dược lý, lá sen đã được chứng minh có tác dụng an thần, chống co thắt cơ trơn, chống choáng phản vệ, ức chế loạn nhịp tim.
Lá sen phơi khô, rửa sạch, sắc nước uống hằng ngày.
Củ tam thất
Ðối với tim mạch, tam thất có tác dụng tiêu huyết ứ, bổ huyết, chữa các chứng đau do huyết ứ trệ (như co thắt động mạch vành, rối loạn tuần hoàn ngoại biên...).
Ăn sống bằng cách nghiền bột hoặc mài với nước uống trực tiếp. Có thể cắt lát để ngậm, nhai rồi nuốt hoặc sắc nước uống hằng ngày.
Nước trà xanh
Chất epigallocatechin-3-gallate (EGCG) có hàm lượng cao trong trà xanh có thể giảm số tế bào bị chết sau khi đau tim hoặc đột quỵ. Đồng thời, EGCG cũng đẩy nhanh quá trình phục hồi của tế bào tim, giúp giảm nhẹ tổn thương của cơ quan này.
Dùng nước trà xanh làm nước uống hằng ngày của bạn.

Theo Sức khỏe gia đình

Ngưng tim đột ngột: mất cơ hội sống do cấp cứu sai

Dùng biện pháp dân gian: cạo gió, vắt chanh vào miệng hoặc ép tim theo kiểu... đạp, nhảy thình thịch trên ngực bệnh nhân ngưng tim sẽ làm mất cơ hội vàng cứu mạng sống của họ.


Cấp cứu một bệnh nhân đột quỵ, ngưng tim
Thực tế nhiều trường hợp bệnh nhân bị ngưng tim không được cứu sống là do người chứng kiến ban đầu không có kiến thức và kỹ năng về cấp cứu hồi sinh tim phổi cơ bản cho người bệnh - TS.BS Đỗ Quốc Huy (chủ nhiệm Bộ môn Hồi sức cấp cứu chống độc, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TPHCM) cho biết.
95% tử vong
Theo TS Quốc Huy, phần lớn các trường hợp ngưng tim (còn gọi là ngưng tuần hoàn - hô hấp) trước nhập viện không được cấp cứu đúng cách, kịp thời và có hiệu quả. 
Đặc biệt, việc cấp cứu sai, cấp cứu theo cách dân gian như bấm huyệt, cạo gió, vắt chanh vào miệng… còn khá phổ biến. Cách đây khoảng hai tháng, giới bác sĩ chuyên khoa hồi sức cấp cứu không tin vào mắt mình khi xem clip cấp cứu một thanh niên bị ngưng tim nằm trên đường phố.
“Kiểu cấp cứu thật kinh hoàng! Có người cầm 2 tay nạn nhân cho ngồi dậy rồi dùng chân đạp thẳng vào ngực của nạn nhân. Sau đó lại đặt nạn nhân nằm xuống rồi dùng chân nhảy thình thịch trên ngực. Chúng tôi không thể tưởng tượng nổi..." - TS Quốc Huy chia sẻ.
Thực tế, do không hiểu biết, nhiều người thấy người bệnh bị ngưng tim đã không sơ cứu tại chỗ đúng cách cho họ mà lại tìm mọi cách để đưa ngay nạn nhân đến bệnh viện (phần lớn đều tử vong trên đường đi).
Hoặc cũng có người sơ cứu cho bệnh nhân nhưng lại thực hiện những biện pháp thiếu khoa học.
Theo TS Quốc Huy, dù ngưng tim trước nhập viện do nguyên nhân gì, nếu người bệnh không được những người xung quanh hoặc nhân viên cấp cứu ngoài bệnh viện thực hiện ngay kỹ thuật hồi sinh tim phổi cơ bản và nâng cao kịp thời và đúng cách thì khả năng sống của nạn nhân gần như không còn.
89-96% không được ép tim, thổi ngạt
Một nghiên cứu của nhóm bác sĩ về tình hình ngưng tim trước nhập viện tại khoa cấp cứu BV Trưng Vương được báo cáo tại hội nghị khoa học giữa tháng 10/2014 cho thấy ngưng tim trước nhập viện có thể xảy ra tại nhà, nơi làm việc, ngoài đường, nơi công cộng, …
Tuy nhiên, việc hồi sinh tim phổi cho người ngưng tim trước nhập viện còn nhiều bất cập.
Thời gian từ lúc khởi phát triệu chứng (khó thở, hôn mê, đau ngực, nôn máu) đến khi ngưng tim khoảng 15-60 phút. Hơn 75% người bệnh ngưng tim được phát hiện ngay.
Tuy nhiên, trong cấp cứu ban đầu chỉ có gần 11% người bệnh được ép tim và chỉ có 4% được thổi ngạt.
Vì thế sau khi được các bác sĩ cấp cứu, có đến 51,5% người bệnh không có nhịp tim trở lại (chết trước nhập viện); 43,6% có nhịp tim trở lại nhưng sau đó tử vong và chỉ có 5% người bệnh được cứu sống.
Vấn đề được đặt ra qua nghiên cứu này là nếu có nhiều người dân biết cách hồi sinh tim phổi cơ bản cho người thân của mình (ở các nước phát triển kỹ thuật này được phổ cập cho mọi người dân từ bậc tiểu học) và thật nhiều người dân biết gọi ngay cho số điện thoại cấp cứu y tế 115 để được hướng dẫn - trợ giúp khi có người thân bị ngưng tim thì có thể số người bệnh được cứu sống sẽ nhiều hơn rất nhiều.
Sơ cứu, ép tim đúng cách
Theo TS Quốc Huy, khi tình cờ thấy hay chứng kiến một người có khả năng bị ngưng tim đột ngột (tự nhiên bất tỉnh) thì người chứng kiến cần thực hiện ngay biện pháp sơ cứu cơ bản.
Trước tiên, đánh giá xem người bệnh có đáp ứng không bằng cách vỗ mạnh vào vai người bệnh và gọi to (hình dưới) đồng thời quan sát nhanh xem người bệnh còn thở hay không.
Đánh giá người bệnh có đáp ứng?
Đánh giá người bệnh có đáp ứng?
Nếu người bệnh không đáp ứng, không thở hay thở ngáp thì ngay lập tức phải gọi lớn tìm hỗ trợ của mọi người xung quanh và gọi ngay cho số điện thoại cấp cứu 115 (miễn phí) báo có người bị ngưng tim và yêu cầu trợ giúp.
Trong khi chờ đợi người trợ giúp đến, phải thực hiện ngay động tác ép tim ngoài lồng ngực.
Chỉ cần dùng tay để ép tim ngoài lồng ngực cho người bệnh mà không cần thổi ngạt nếu không biết cách thổi ngạt hoặc không có dụng cụ bảo vệ cá nhân như màng lọc, mặt nạ...
Kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực gồm các bước:
Đặt người bệnh nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng. Nếu người bệnh nằm sấp thì cẩn thận lật người bệnh lại. Nếu nghi ngờ người bệnh có chấn thương cột sống cổ thì cố gắng lật người bệnh trong khi kiểm soát di chuyển của đầu, cổ, thân, chân cùng lúc.
Khi thực hiện ép tim, người sơ cứu quỳ hoặc đứng bên cạnh người bệnh, đặt gót bàn tay vào giữa ngực bệnh nhân, ở nửa dưới xương ức, gót bàn tay còn lại đặt lên trên bàn tay trước (xem hình dưới).
Ép tim ngoài lồng ngực
Ép tim ngoài lồng ngực
Duỗi thẳng khuỷu tay sao cho vai, khuỷu và bàn tay của người cấp cứu tạo thành đường thẳng. Sau đó tiến hành ép mạnh (ép sâu xuống ít nhất 5cm), ép nhanh (với tốc độ ít nhất 100 nhịp/phút) và để cho lồng ngực nở trở lại vị trí bình thường sau mỗi nhịp ép.
Hạn chế tối đa việc dừng ép tim. Thời gian ép và thời gian để lồng ngực nở lại hoàn toàn phải bằng nhau.
AloBacsi.vn
Theo Lê Thanh Hà - Tuổi trẻ