Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim

Nhiều bệnh nhân tim mạch cho biết họ thường thấy xuất hiện một vài các triệu chứng dưới đây, nhưng chỉ thoáng qua rồi nhanh chóng bỏ qua các triệu chứng ban đầu đó. Khi bệnh đã trở nặng, họ mới tìm đến gặp bác sĩ. 
Điều này làm quá trình điều trị trở nên khó khăn và không đạt hiệu quả mong muốn, thậm chí nhiều bệnh nhân phải bỏ ra những khoản tài chính vô cùng lớn để chữa bệnh. Nếu phát hiện và can thiệp sớm, người bệnh không chỉ giảm chi phí y tế mà hiệu quả điều trị cao, nhất là trong các can thiệp tim mạch.
Người bệnh tim hoặc có nguy cơ mắc bệnh tim như người cao tuổi, thừa cân, béo phì hoặc bị bệnh tăng huyết áp nên được thăm khám định kỳ tim mạch. Nếu cùng lúc xuất hiện ít nhất 2 triệu chứng trong các triệu chứng dưới đây người bệnh cần đi khám bác sĩ.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Khó thở, đặc biệt là khi nằm xuống
Nếu bạn cảm thấy khó thở như có vật gì đó đè nén ngực hoặc gặp khó khăn khi hít thở sâu, bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa tim mạch để nhận được tư vấn và tìm nguyên nhân. Người mắc bệnh tim thường xuất hiện triệu chứng khó thở kể cả khi phải gắng sức hoặc không. 
Để phân biệt bệnh tim với bệnh COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), tình trạng khó thở này xảy ra ngay khi bạn nằm xuống hoặc đi ngủ. Khó thở cũng có khi xảy ra vào ban đêm,lúc bạn đang ngủ, đó là do việc đột ngột tim giảm khả năng co bóp, làm gián đoạn quá trình bơm máu từ tim đến phổi gây khó thở.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Cảm giác nặng trong ngực hoặc tức ngực
Thông thường, những người được chẩn đoán mắc bệnh tim hay phàn nàn về triệu chứng họ thường gặp là cảm giác bị đè nặng lên ngực hoặc tức ngực. Những cơn đau ngực là dấu hiệu của bệnh tim. Người bệnh có cảm giác đau thắt ngực ở khu vực dưới xương ức, phía trước, cơn đau thường kéo dài 10 phút và hay lặp lại. 
Khi bị đau ngực kéo dài, người bệnh cần nghỉ ngơi tuyệt đối và khẩn trương đi khám vì đây có thể là dấu hiệu của một cơn nhồi máu cơ tim. Đau thắt ngực hoặc đau ngực nói chung thường là do các tế bào cơ tim không nhận đủ ôxy do lưu lượng máu tới tim giảm.Trong suy tim, do khả năng bơm máu của quả tim bị suy giảm, việc lưu thông máu tới các cơ quan trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng. 
Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở, thậm chí người bệnh khó thở khi làm những công việc cá nhân hoặc cả khi ngồi nghỉ. Các cơn khó thở đến mức có cảm giác quần áo, giầy thít chặt vào cơ thể.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Hiện tượng phù
Hiện tượng suy tim xuất hiện cùng lúc với hiện tượng phù, cơ thể có dấu hiệu tích nước. Nếu thấy khi ngủ dậy mặt bị căng phù, mí mắt nặng, hoặc điển hình phù bàn chân vào thời điểm nhất định trong ngày cảm thấy đi dép chật...., tất cả đều cho thấy bạn đang có những triệu chứng của suy tim. 
Khi lượng máu ra khỏi tim chậm, máu trở về tim qua tĩnh mạch bị ứ lại, khiến dịch tích tụ tại các mô. Thận không thể đào thải muối và nước cũng gây giữ nước trong các mô làm bệnh nhân bị phù.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Cảm thấy mệt mỏi hoặc kiệt sức
Nếu thấy mệt mỏi hoặc kiệt sức nhiều lần trong ngày, thậm chí mệt mỏi cả sau khi ngủ dậy. Nếu hiện tượng này xảy ra một cách thường xuyên, nó báo hiệu bạn đang gặp vấn đề về tim mạch. Mệt mỏi không rõ nguyên nhân thường xuất hiện do các bộ phận trong cơ thể của bạn không nhận được đủ oxy cần thiết do tim bị suy giảm chức năng co bóp.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Ho dai dẳng hoặc khò khè
Người bị suy tim sung huyết là khi chức năng bơm máu của tim không đủ cung cấp cho cơ thể, máu bị ứ lại, gọi là ứ dịch. Nó ứ dịch ở nhiều cơ quan như phổi sẽ gây ho mạn tính, thở khò khè, nếu ứ dịch ở gan, ruột gây chán ăn, buồn nôn... 
Đối với trường hợp ho dai dẳng nhiều khi người bệnh dễ nhầm với bệnh phổi như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính... Tình trạng ho có thể xấu đi khi nằm hoặc mới dậy khỏi giường. Ho do bệnh tim thường ho khan hoặc có thể có đờm trắng hoặc chất nhầy đặc.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Chán ăn
Một trong những dấu hiệu chính của suy tim sung huyết là người bệnh lúc nào cũng có cảm giác no. Đó là do sự tích tụ của dịch trong gan hoặc hệ thống tiêu hóa của người bệnh. Kết quả là, người bệnh không còn cảm giác muốn ăn và ăn ít hơn. Nếu có thêm triệu chứng mệt mỏi đến mức không muốn ăn, người bệnh cần được đi khám chuyên khoa tim mạch.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Đi tiểu ban đêm
Đi tiểu thường xuyên vào ban đêm là một dấu hiệu quan trọng của suy tim. Điều này xảy ra do sự chuyển dịch lượng nước tích tụ trong cơ thể gây phù ở nhiều bộ phận đến thận thông qua các mạch máu. Để tránh hiện tượng này, người bệnh cần kiểm soát lượng nước đưa vào cơ thể vào buổi tối hoặc sử dụng thuốc lợi tiểu vào buổi sáng.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Nhịp tim có vấn đề
Trong suy tim, trái tim người bệnh thường đập với tốc độ nhanh hơn, hay cảm giác như đang chạy hoặc đập dồn dập. Nguyên nhân khiến tim đập nhanh là để bù đắp cho khả năng suy giảm chức năng bơm máu. Các biểu hiện như hồi hộp bất thường, nghe rõ tim đập như đánh trống ngực đều cần được người bệnh lưu tâm.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Lo lắng
Đây là một trong những dấu hiệu phổ biến cảnh báo bạn đang bị suy tim nhưng lại là dấu hiệu rất hay bị bỏ qua. Bệnh nhân thường có biểu hiện như thở nhanh, nhịp tim bất thường và lòng bàn tay đổ mồ hôi; nhiều người thường nhầm lẫn với các dấu hiệu như lo lắng hay căng thẳng. 
Do đó, nếu bạn hoặc người thân của bạn gần đây cảm thấy lo lắng hoặc cảm thấy bất an, cộng thêm một trong những triệu chứng đã nói ở trên cần đi kiểm tra bởi rất có thể đây là dấu hiệu của bệnh suy tim.
Theo Hà Nguyễn - Sức khỏe và Đời sống

Những cách đơn giản có thể phòng tránh đau tim

Đau tim là bệnh có thể xảy ra với bất cứ ai không kể tuổi tác.Vì vậy, duy trì sức khỏe là lựa chọn tốt nhất để tránh đau tim. Dưới đây là những cách giúp bạn phòng tránh được các cơn đau tim.
Tập luyện hàng ngày
Bạn nên hoạt động thể chất ít nhất 15 phút mỗi ngày. Đi bộ là hình thức tập luyện tốt nhất để duy trì sức khỏe cho tim bạn.
Tránh thực phẩm nhiều dầu
Đồ ăn nhanh thường chứa nhiều dầu mỡ không tốt cho tim. Vì vậy, tốt nhất là bạn nên nói "không" với các thực phẩm nhiều dầu để có trái tim khỏe mạnh.
happy-life-5822-1429243342.jpg
Luôn lạc quan, chăm hoạt động thể chất có thể giúp bạn tránh bệnh tim. Ảnh minh họa: Thrivehappinessmovement.org.
Tránh béo phì
Nếu bạn bị béo phì, bạn có thể gặp rắc rối. Béo phì có thể ảnh hưởng tới tim vì khiến tim bạn phải bơm nhiều máu hơn, vì vậy khiến cho cơ quan này phải hoạt động quá mức.
Tuân thủ chế độ ăn lành mạnh
Chế độ ăn lành mạnh nên được duy trì. Hơn thế nữa, một chế độ ăn cân bằng là quan trọng và nó là một trong những bí quyết giúp phòng tránh bệnh tim.
Không nhịn đi vệ sinh
Nếu bạn có nhu cầu đi vệ sinh, bạn cần đi ngay, không được kìm nén. Nếu bạn nhị đi sẽ gây ảnh hưởng tới tim và gây nhiễm trùng đường tiểu.
Tránh trầm cảm
Nếu bạn bị mất một người bạn yêu thương trong cuộc sống, hãy chia sẻ nỗi đau đó và mở rộng trái tim đón tình yêu một lần nữa.
Kiểm tra huyết áp
Huyết áp cần được kiểm tra thường xuyên nếu bạn muốn có trái tim khỏe mạnh. Huyết áp cao có thể rút ngắn cuộc sống của bạn.
Yêu thương
Hãy luôn yêu thương và tránh mọi xung đột để bảo vệ tim bạn.
Uống trà
So với cà phê, trà tốt hơn vì nó giúp bơm nhiều máu tới tim hơn và cũng giúp tim khỏe mạnh. Vì vậy hãy uống trà để tránh đau tim.
Ăn nhiều cá
Cá không chỉ tốt cho mắt bạn, nó còn tốt cho tim và có thể tránh được đau tim nếu bạn ăn ít nhất một lần trong tuần.
Nếu bạn bị tiểu đường
Người bị tiểu đường cần biết những gì là tốt cho họ và những gì không. Bệnh tiểu đường có nhiều ảnh hưởng tới tim và khi không được điều trị hợp lý, bạn dễ bị đau tim.
Ngủ đủ
Để tránh đau tim, bạn nên ngủ 8 tiếng mỗi ngày.
Tránh hút thuốc
Nguyên nhân là vì thuốc lá gây nhiều ảnh hưởng lên tim và phổi của bạn.
Theo Hải Ngân - VnExpress

Bạn có bệnh tim không?

Bệnh thường kết hợp với các bệnh khác của cơ thể như: tiểu đường, rối loạn chuyển hoá lipide, hội chứng thận hư…
Và ở những bệnh nhân có bệnh kết hợp này, tỉ lệ tử vong tăng lên từ 2-4 lần so với những người bị bệnh tim mạch đơn thuần.
Lồng ngực khó chịu, đau thắt ngực khi hoạt động
Có rất nhiều triệu chứng mà trong thuật ngữ chuyên môn các thầy thuốc thường gọi là triệu chứng cơ năng, gợi ý cho người bệnh cảm thấy mình bị bệnh tim mạch và thấy cần phải đi khám bệnh ở bệnh viện hay phòng khám. 
Những triệu chứng này thường do tình trạng thiếu máu cục bộ của cơ tim, tình trạng rối loạn vận động cơ tim, giãn các buồng tim và tổn thương của hệ thống van trong buồng tim gây ra.
Biểu hiện hay gặp nhất của thiếu máu cơ tim cục bộ là khó chịu ở lồng ngực bên trái và nặng hơn là đau thắt ngực. Còn giảm khả năng làm việc của cơ tim sẽ dẫn đến cảm giác yếu, dễ mệt, nhất là khi hoạt động hoặc nặng hơn là xanh tím, tụt huyết áp, ngất và tăng áp lực động mạch phổi, suy tâm thất trái điều này đưa đến phù và khó thở.
Các triệu chứng cơ năng mà người bệnh gặp phải thường tăng lên khi hoạt động nhiều, gắng sức, trong trạng thái xúc động … Hiếm khi xuất hiện lúc nghỉ ngơi, nếu triệu chứng đau ngực, khó thở, hồi hộp….xuất hiện lúc nghỉ ngơi cần phải nghĩ đến những bệnh của hệ thống thần kinh thực vật hơn là các tổn thương thực thể của tim.
Những lầm lẫn thường gặp trong khi chẩn đoán bệnh tim
Vì bệnh tim mạch rất phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân và có rất nhiều người không phải là thầy thuốc cũng đã quen nghe đến các triệu chứng chủ yếu của loại bệnh này. Chính vì vậy, rất nhiều người và cả thầy thuốc cứ gán bừa những triệu chứng cơ năng không phải của bệnh tim coi như là bệnh sự.
Hơn nữa sự kết hợp giữa tư tưởng sợ bệnh tim phổ biến trong xã hội với sự liên tưởng sâu đậm giữa bệnh tim và các rối loạn cảm xúc làm cho những người không bị bệnh tim, nhưng luôn luôn tưởng tượng ra những triệu chứng giống bệnh tim. Bản thân họ không biết những chuyện như vậy chỉ làm khổ bản thân họ, gia đình và thậm chí cho cả thầy thuốc nữa.
Trong các triệu chứng hay gặp ở bệnh tim thì hiện tượng khó thở là triệu chứng gây khó khăn nhiều nhất cho công việc chẩn đoán vì không chỉ đặc trưng cho bệnh tim, mà còn là dấu hiệu của nhiều loại bệnh khác như các bệnh về phổi, những người béo phì và những người có tình trạng cảm xúc bị rối loạn. 
Tương tự, triệu chứng đau và nặng ngực cũng do nhiều bệnh khác như đau cơ thành ngực, viêm dạ dày thực quản… gây ra chứ không riêng gì bệnh thiếu máu cơ tim. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ cách xuất hiện của cơn đau và các triệu chứng đi kèm, người thầy thuốc có thể chẩn đoán chính xác người bệnh có bị bệnh tim thật sự hay không?
Bệnh tim có di truyền hay không?
Khá nhiều bệnh tim có tính chất gia đình, nhất là những bệnh tim có kết hợp với các bệnh khác như tiểu đường, rối loạn chuyển hoá… Một số bệnh tim khác phải kể đến cũng có yếu tố gia đình như: hội chứng Marfan, bệnh cơ tim phì đại, đột tử trong hội chứng QT kéo dài…
Trong cao huyết áp không rõ nguyên nhân thì có yếu tố gia đình nhưng không rõ rệt lắm. Nhiều bệnh tim khác trong gia đình không những do di truyền mà còn do các thói quen về sinh hoạt và ăn uống của gia đình bệnh nhân như: ăn quá mặn, ăn nhiều mỡ và chất bột đường, hút thuốc lá, thuốc lào… 
Chính vì vậy, ở những gia đình có người bị bệnh tim, các thành viên khác trong gia đình cần phải chú ý khả năng mắc bệnh tim của mình. Việc phát hiện bệnh sớm là rất cần thiết cho điều trị, ở tuổi trên 40, những người có yếu tố nguy cơ cao trong gia đình có tiền sử bệnh tim mạch nên đi khám bệnh định kỳ mỗi sáu tháng để tầm soát sớm bệnh tim mạch.
Bạn có bị bệnh tim?
Sau khi khám bệnh tại một thầy thuốc chuyên khoa về tim mạch và được làm thêm một số xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán xác định cũng như loại trừ bệnh như đo điện tim, siêu âm tim, chụp x quang tim phổi…người bệnh có thể ở vào một trong ba trường hợp sau đây:
- Bạn hoàn toàn không bị bệnh tim, khi đó chính bản thân người thầy thuốc phải cương quyết khẳng định với người bệnh như vậy và không nên hẹn họ quay lại kiểm tra tim mạch định kỳ vì nếu quá quan tâm đến người bệnh, họ sẽ bị ám ảnh bởi bệnh tim và luông nghĩ mình đẵ mắc bệnh.
- Nếu không thấy dầu hiệu của bệnh tim thật sự, nhưng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh thiếu máu cơ tim: béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, tiền căn gia đình, hút thuốc lá, phụ nữ trên 40 tuổi… nên có kế hoạch điều trị để giảm các yếu tố nguy cơ đó và hẹn tái khám định kỳ nhằm tầm soát sớm bệnh tim mạch.
- Nếu thật sự mắc bệnh tim, cần phải điều trị ngay. Bệnh nhân cần phải yêu cầu thầy thuốc chuyên khoa tim mạch nói rõ hường điều trị cho mình: 
Điều trị nội khoa, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng lưu ý rằng: các điều trị cho bệnh tim mạch là rất tốn kém, là một gánh nặng về kinh tế cho xã hội, gia đình và bản thân người bệnh.
Theo PGS.TS Nguyễn Hoài Nam - Tuổi trẻ

Thuốc nào cứu mạng người thiếu máu cơ tim?

Đau thắt ngực do thiếu máu cục bộ cơ tim thường xảy ra sau khi bệnh nhân làm việc gắng sức, trải qua những stress nặng nề hoặc sau khi ăn quá no. Đau thắt ngực do bệnh này có hai dạng là đau thắt ngực ổn định và đau thắt ngực không ổn định. 
Cơn đau thắt ngực ổn định thường kéo dài từ 1 - 15 phút và giảm đi khi nghỉ ngơi hoặc đặt thuốc nitrates dưới lưỡi. Còn cơn đau thắt ngực không ổn định, mặc dù ít gặp nhưng nếu xuất hiện thì cơn đau ngực xuất hiện nhiều và dài hơn, không giảm khi nghỉ và ít đáp ứng với các nitrates.
Cơn đau thắt ngực có thể là triệu chứng của nhồi máu cơ tim.Cơn đau thắt ngực có thể là triệu chứng của nhồi máu cơ tim
Dấu hiệu cho biết đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim
Vị trí đau thường sau xương ức, đột ngột làm bệnh nhân đang gắng sức phải ngừng lại ngay. Bệnh nhân có cảm giác tức ngực như có gì bóp, có gì đè chẹn sau xương ức hoặc phía bên quả tim. Hoặc đau lan lên hai vai, lên hai bên quai hàm dưới ra phía trong tay trái, lên cổ.
Trường hợp không điển hình, cơn đau xuất hiện bên phải, ở vùng thượng vị mà có khi nhầm là cơn đau dạ dày cấp. Cũng có khi đau ở bả vai, cổ tay và cổ.
Tính chất đau có khi như dao đâm hoặc trái lại không đau mà chỉ có cảm giác tức ngực, khó thở, nghẹn thở, có vật gì chèn ép ở cổ, bỏng rát ở trước tim, hướng lan cũng khác, có khi xuống thượng vị hoặc ra sau lưng. Người bệnh bồn chồn, hốt hoảng, lo sợ có cảm giác sắp chết đến nơi không dám cử động vì sợ cơn đau dữ dội thêm. Thời gian đau kéo dài từ vài giây đến 10, 15 phút.
Dùng thuốc gì khi có cơn đau thắt ngực?
Khi đang đau, bệnh nhân cần phải đứng im, ngừng mọi cử động, nếu đang ở nhà hoặc không phải trong bệnh viện thì cần nằm yên hoặc theo tư thế nửa nằm nửa ngồi, tránh di chuyển, thường chỉ nghỉ ngơi như vậy cũng có thể hết đau, nhưng nếu đau nặng lên thì cần phải dùng thuốc và đi bệnh viện ngay.
Thuốc thường được sử dụng ngay, có thể dùng cấp cứu tại nhà là nitroglycerin ngậm dưới lưỡi. Nitroglycerin là một thuốc chống cơn đau thắt ngực và là dẫn xuất của nitrat. Thuốc dễ hấp thụ qua đường tiêu hóa, tuy nhiên lại bị chuyển hóa qua gan lần đầu nên sinh khả dụng thấp, vì vậy thường được sử dụng dưới dạng ngậm dưới lưỡi. 
Nếu đặt dưới lưỡi, thuốc có tác dụng ngay sau 1 - 2 phút và đạt nồng độ tối đa sau 4 phút. Ngoài dạng ngậm dưới lưỡi, thuốc còn có dạng uống, dạng tiêm hoặc dạng dùng ngoài da, tuy nhiên dùng các dạng thuốc này ở liều cao dễ dẫn đến quen thuốc.
Nitroglycerin làm giãn tất cả các cơ trơn, nhưng không ảnh hưởng đến cơ vân và cơ tim, đặc biệt tác dụng rất rõ trên cả động mạch và tĩnh mạch lớn nên làm giảm lượng máu tĩnh mạch trở về, đồng thời làm giãn động mạch lớn, vì vậy làm giảm sử dụng ôxy cơ tim và giảm công năng tim, làm giãn mạch vành và làm lưu lượng vành tăng tạm thời. 
Bên cạnh đó, thuốc còn làm thay đổi phân phối máu cho tim, tăng tuần hoàn phụ cho vùng tim thiếu máu có lợi cho vùng dưới nội tâm mạc, thuốc còn chống kết tập tiểu cầu cản trở fibrinogen bám vào tiểu cầu để hình thành huyết khối, nhất là ở vùng nội tâm mạc bị tổn thương, chính vì vậy thuốc có tác dụng để điều trị cơn đau thắt ngực. 
Ngoài ra, thuốc làm giãn mạch toàn thân trực tiếp và thoảng qua nên làm giảm lưu lượng tim, giảm sức cản ngoại vi và lưu lượng tâm thu nên thuốc còn có tác dụng gây hạ huyết áp.
Với điều trị cấp cứu cắt cơn đau thắt ngực thường dùng loại 0,25mg hoặc 0,75mg ngậm dưới lưỡi; để điều trị dự phòng thường dùng loại 2,5mg hoặc 7,5mg để uống; có thể dùng dạng dán ngoài da vùng ngực trái hoặc dạng mỡ bôi.
Tuy nhiên, cần chú ý khi sử dụng thuốc có thể gây ra tình trạng giãn mạch ngoại vi làm đỏ bừng da nhất là vùng ngực, mặt, mắt, có thể gây tăng nhãn áp; thuốc có thể gây giãn mạch não làm cho bệnh nhân bị nhức đầu, có thể làm tăng áp lực nội sọ; làm hạ huyết áp tư thế đứng; gây tăng tiết dịch vị, làm tăng nhịp tim; nếu sử dụng liều cao kéo dài sẽ gây quen thuốc; do đó thuốc không được sử dụng cho bệnh nhân huyết áp thấp (huyết áp tối đa < 100mmHg), bệnh nhân bị tăng nhãn áp hoặc tăng áp lực nội sọ.
Bên cạnh việc điều trị cấp cứu, cần tìm hiểu kỹ để điều trị nguyên nhân gây nên cơn đau thắt ngực. Điều trị lâu dài bằng các loại thuốc giãn mạch khác như: lenitral, isosorbit, tildiem, vastarel... hoặc bằng phẫu thuật động mạch vành, khoét mảng xơ vữa động mạch, bắc cầu nối, nong động mạch vành.
Bên cạnh việc dùng thuốc, người đau thắt ngực không cần nghỉ ngơi tuyệt đối nhưng cần hạn chế lao động chân tay và trí óc, tránh gắng sức, nhất là gắng sức đột ngột, đi bộ nhanh, lên dốc, lên cầu thang, ngược gió, tránh lạnh, tránh gió lùa, không được tắm đêm, sống điều độ, có giờ giấc nghỉ ngơi, tránh làm việc ngay sau bữa ăn. 
Tập thể dục nhẹ, đi bộ ngắn và chậm nhưng không chơi thể thao nặng như tập tạ, tennis, chú trọng giải trí, nghe nhạc... Không hút thuốc lá vì thuốc lá là nguyên nhân xuất hiện cơn đau, hạn chế cà phê đặc và nước chè đặc vì nó gây mất ngủ. 
Không nên ăn những bữa quá thịnh soạn, không uống rượu. Ăn hạn chế chất có nhiều lipid và cholesterol như mỡ động vật, bơ, lòng đỏ trứng, óc, gan, thận và nên dùng dầu thực vật thay mỡ động vật.
Theo ThS Nguyễn Thu Hiền - Sức khỏe và đời sống

Cảnh giác với tăng huyết áp thai kỳ

Tăng huyết áp (THA) khi mang thai là một bệnh lý nguy hiểm và cũng là nguyên nhân gây ra các biến chứng, thậm chí tử vong cho cả mẹ và thai nhi.

Tăng huyết áp (THA) khi mang thai là một bệnh lý nguy hiểm và cũng là nguyên nhân gây ra các biến chứng, thậm chí tử vong cho cả mẹ và thai nhi. Có khoảng 15% phụ nữ mang thai bị THA và 25% trường hợp đẻ non do THA. Trong đó, tiền sản giật và sản giật là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất.
Thế nào là tăng huyết áp thai kỳ?
THA thai kỳ có thể được chẩn đoán dựa vào trị số huyết áp đo được hoặc dựa vào sự tăng huyết áp tương đối so với trước khi mang thai. 
Khi huyết áp trên 140/90mmHg thì được gọi là THA. Nếu huyết áp tâm thu tăng trên 30mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng trên 15mmHg so với mức huyết áp đo được ở thời điểm trước khi mang thai thì cũng được gọi là THA thai kỳ.
Cảnh giác với tăng huyết áp thai kỳThai phụ nên kiểm tra sức khỏe và được tư vấn thường xuyên trong suốt thai kỳ
Muốn biết chính xác số đo huyết áp phải sử dụng máy đo huyết áp, tuy nhiên, nếu thai phụ chú ý quan sát sức khỏe của bản thân có thể nhận biết qua một số dấu hiệu như: cảm giác căng thẳng, khó chịu, nhức đầu, thấy ù ù trong tai, hoa mắt, chóng mặt, nếu nhìn thấy mờ đi thì bệnh đã nặng. Khi xuất hiện triệu chứng trên thì phải nghĩ ngay đến THA do nhiễm độc thai nghén. Bệnh này thường xảy ra sau tuần mang thai thứ 20.
Một số nguyên nhân gây ra chứng THA ở thai phụ: Tuổi của sản phụ quá cao (trên 35 tuổi). Gia đình có người bị THA. Thai phụ quá cân, trước khi mang thai đã bị bệnh THA, viêm thận mạn tính, đái tháo đường. Chế độ dinh dưỡng lúc mang thai chưa tốt, kèm theo đó là chứng thiếu máu trầm trọng. Chửa sinh đôi, sinh ba. Thai phụ có nước ối quá nhiều. Thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường...
Nguy cơ do THA thai kỳ
Hậu quả lâu dài trên hệ tim mạch: Những người bị THA ở lần mang thai đầu có nguy cơ cao bị THA ở lần mang thai sau. Họ còn có nguy cơ bị THA và đột quỵ cao sau này. Những người bị tiền sản giật hoặc chậm phát triển bào thai trong buồng tử cung sẽ tăng nguy cơ bị bệnh và nguy cơ tử vong do bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ. 
Thế nhưng, với những phụ nữ đã trải qua thời kỳ sinh nở mà không bị THA thì sẽ ít bị nguy cơ mắc bệnh tim mạch hơn những phụ nữ không sinh đẻ. Việc sinh đẻ cũng khiến phụ nữ giảm được nguy cơ mắc bệnh tim mạch về sau này, điều mà nam giới không thể có được.
Tiền sản giật và sản giật: Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thời kỳ thai nghén và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau. 
Trước đây người ta chẩn đoán tiền sản giật dựa vào ba triệu chứng: THA, phù và protein niệu nhưng quan niệm hiện đại thì cho rằng chỉ cần có THA thai nghén kèm với protein niệu nhiều là đủ để chẩn đoán tiền sản giật. Nguy cơ của thai nhi là chậm phát triển trong buồng tử cung và bị sinh non.
Tăng huyết áp có thể dự phòng được không?
Giới y khoa khuyên rằng, phụ nữ mắc các bệnh như hen suyễn, tim, bệnh viêm gan... thì không nên mang thai. Tuy nhiên, những phụ nữ bị chứng THA vẫn có thể mang thai. Nếu biết trước trong gia đình có người bị THA hoặc do các nguyên nhân khách quan, họ có thể chủ động phòng tránh bằng một số biện pháp như sau:
Tư vấn trước sinh: Phụ nữ bị THA trước khi mang thai cần được đánh giá kỹ lưỡng để loại trừ nguyên nhân gây THA thứ phát như bệnh lý thận, đánh giá hiệu quả điều trị huyết áp và chỉnh liều thuốc để đạt hiệu quả hạ áp tối ưu. 
Đặc biệt, họ cần được tư vấn về nguy cơ xuất hiện tiền sản giật và việc phải thay đổi một số thuốc nếu họ muốn mang thai an toàn. Phần lớn những phụ nữ bị THA đều có thể mang thai và sinh nở bình thường nếu họ được kiểm soát và theo dõi tốt tình trạng huyết áp của mình.
Điều trị bằng thuốc: THA cần phải điều trị cho dù cơ chế sinh bệnh là gì. Việc điều trị chủ yếu để phòng tránh biến chứng chảy máu nội sọ. Tuy nhiên không nên điều trị THA quá tích cực sẽ làm giảm việc cung cấp máu cho nhau thai và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. 
Điều trị những trường hợp THA nhẹ và vừa (dưới 155/100 mmHg) có lợi cho mẹ hơn là cho thai nhi trong những ngày đầu của thai kỳ. Một số phụ nữ đang được điều trị THA từ trước thì khi mang thai có thể giảm hoặc ngừng thuốc do trong nửa đầu của thai kỳ, huyết áp sẽ giảm một cách sinh lý. 
Tuy nhiên, sự giảm huyết áp này chỉ mang tính chất tạm thời, thai phụ cần được theo dõi sát và phải dùng thuốc lại khi cần thiết. Đối với trường hợp bị THA nặng (trên 170/110mmHg): Nguy cơ bị biến chứng và tử vong cho mẹ trong những trường hợp (trên 170/110mmHg) nặng và tiền sản giật rất cao. Điều trị hạ huyết áp không có tác dụng ngăn chặn tiền sản giật. 
Chỉ đình chỉ thai nghén mới có tác dụng trong trường hợp này nhưng điều trị hạ huyết áp lại có thể làm giảm biến chứng chảy máu nội sọ. Nếu huyết áp trên 170/110mmHg là nặng, điều trị bao gồm kiểm soát tốt huyết áp bằng các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch và cố gắng duy trì quá trình thai nghén đến mức tối đa mà không gây ảnh hưởng gì đến mẹ và thai nhi.
Dự phòng tiền sản giật khi mang thai: Tiền sản giật có thể dự phòng hoặc giảm bớt biến chứng nhờ khám thai định kỳ, thường xuyên. Cần tuân thủ việc điều trị đái tháo đường nghiêm ngặt hoặc các bệnh nội khoa khác đang có sẵn. Sản phụ có thể nghỉ ngơi tại nhà nếu bệnh nhẹ, tự đếm cử động thai, tự theo dõi các dấu hiệu trở nặng như phù tăng, lên cân nhanh, nhức đầu nặng, mắt nhìn mờ, đau vùng gan, buồn nôn, nôn nhiều.
Cần nhập viện ngay khi có một trong các dấu hiệu trên bởi thực tế lúc nào tiền sản giật biến thành sản giật khó đoán trước được. Nếu xảy ra sản giật, sản phụ có thể rơi vào hôn mê, phù não, xuất huyết não, phù phổi cấp, suy tim, rau bong non gây tử vong cho mẹ và con.
Lời khuyên của thầy thuốc
Bệnh THA ảnh hưởng lớn đến phụ nữ mang thai, thai nhi và trẻ sơ sinh sau này. Vì thế, việc chẩn đoán sớm và phòng ngừa bệnh có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ sức khỏe của phụ nữ mang thai, thai nhi, góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. 
Do đó, thai phụ cần đi khám thai đều đặn, theo dõi chặt chẽ mọi biến đổi của cơ thể, trong đó có vấn đề huyết áp. Nếu có những biểu hiện THA cần đi khám sản khoa và tim mạch để được điều trị kịp thời.
Theo BS Hạnh Nguyễn - Sức khỏe và đời sống

Ly hôn dễ dẫn đến đau tim?

Một cuộc khảo sát với 15.827 người tham gia cho thấy phụ nữ bị ảnh hưởng nặng nhất và thậm chí sẽ không thuyên giảm rủi ro nếu họ tái hôn. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Circulation đã cho rằng sự căng thẳng kinh niên liên quan đến vấn đề li hôn sẽ gây ảnh hưởng lâu dài đến cơ thể người.
Trong khi đó, tổ chức The Brishtish Heart của Anh đã kêu gọi nhiều nghiên cứu hơn nữa trước khi xếp việc li hôn làm một nguyên cơ lớn cho bệnh đau tim.
Li hôn làm nguy cơ đau tim tăng cao
Chúng ta đều biết rằng cái chết của người thương yêu là nguyên nhân chủ yếu làm bệnh đau tim tăng cao. Nhưng vẫn chưa rõ liệu sự đỗ vỡ của hôn nhân có tạo nên tác động tương tự hay không.
Hiện tại nhóm nghiên cứu của trường ĐH Duke đã đưa ra những triệu chứng tương tự với trường hợp sau khi li hôn. Trong suốt quá trình nghiên cứu tại Anh kéo dài từ năm 1992 đến 2010, cứ ba người thì có một trường hợp đã li hôn ít nhất một lần.
Theo bài phân tích, 24% phụ nữ li hôn một lần có xu hướng bị đau tim hơn những người đang có hôn nhân ổn định. Và con số này lên đến 77% đối với những người trải qua nhiều cuộc li hôn. Còn đối với đàn ông, có khoảng 10% có xu hướng đau tim khi trải qua một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Nhưng lại có đến 30% đàn ông bị đau tim khi ly hôn nhiều lần.
Tại sao li hôn dẫn đến đau tim?
Theo phân tích có đến 15.827 phụ nữ bị đau tim sau khi li hôn
Thành viên dự án chia sẻ với tờ BBC rằng: "Tất cả chúng ta đều biết sự căng thẳng tâm lí là một dạng căng thẳng kéo dài tác động lên hệ thống miễn dịch, sự kích động này càng cao thì hóc môn căng thẳng càng cao". Sự căng thẳng dễ dàng tạo nên chứng cao huyết áp.
"Chức năng miễn dịch (sau ly hôn - ND) đang dần bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi và nếu tình trạng này tiếp tục trong nhiều năm nó sẽ dẫn đến các tác hại về sinh lí ". Các nhà khoa học cũng đưa ra lập luận rằng sự khác biệt trong đời sống tình dục cũng là yếu tố dẫn đến trầm cảm và đối với phụ nữ li hôn trở thành một " gánh nặng tâm lí".
Người ta có thể dùng thuốc đẻ giảm nguy cơ cao huyết áp. Nhưng để chữa lành vết thương của một cuộc hôn nhân đổ vỡ không phải là việc đơn giản. Các nhà nghiên cứu đã gợi ý người thân và những người bạn nên động viên và an ủi họ để vượt qua vết thương lòng của họ.
GS Jeremy Pearson từ tổ chức The British Heart cũng đưa ra lời bình luận rằng: "Chúng ta biết rằng trong một số trường hợp, đời sống tinh thần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên, kết quả hiện nay vẫn chưa đủ chứng cứ để liệt li hôn trở thành một trong những nhân tố nguy hiểm dẩn đến đau tim".

Theo Tú Tú - Pháp luật TPHCM

5 món sinh tố cho người cao huyết áp

Theo Hoàng Minh - Kiến thức

Nhận diện nguy cơ bệnh tim ở phụ nữ

Tạp chí Circulation (Hiệp hội Tim mạch Mỹ) gần đây đăng tải, mỗi năm, hơn một triệu người Mỹ từng trải qua một cơn đau tim và gần một nửa trong số đó tử vong.




Bệnh tim được đánh giá là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với phụ nữ Mỹ.
Các nguyên nhân gây bệnh tim ở phụ nữ
Theo giải thích của các nhà khoa học, khi các cục huyết khối hình thành sẽ làm tắc nghẽn quá trình lưu thông máu về tim, gây nên các cơn đau tim.
Các yếu tố gây nên bệnh tim bao gồm: cao cholesterol, cao huyết áp và béo phì - ảnh hưởng đến cả đàn ông và phụ nữ. Bên cạnh đó, một vài yếu tố khác có thể được xem là nguy cơ làm phát triển bệnh tim ở phụ nữ bao gồm: hội chứng chuyển hóa; căng thẳng tinh thần và trầm cảm; hút thuốc lá; sụt giảm mức estrogen sau giai đoạn mãn kinh; có tiền sử gia đình mắc bệnh tim.
Thay đổi lối sống để giảm rủi ro
BS Marianne J. Legato, người sáng lập và là giám đốc bộ phận y học đặc thù về giới tính tại trường đại học (ĐH) Columbia (Mỹ) cho biết, điều đầu tiên chị em cần làm để ngăn ngừa nguy cơ bệnh tim là tầm soát căng thẳng và trầm cảm. 
Bất cứ khi nào phải đối diện với một vấn đề gây căng thẳng kéo dài, không thể giải quyết, chị em nên tâm sự với bạn bè hoặc các nhà tâm lý. Phương pháp này rất hiệu quả nhằm giúp giải tỏa căng thẳng.
Làm thế nào để nhận biết bạn có bị căng thẳng hay không? Hãy quan sát những việc bạn đang làm như có ăn quá nhiều hoặc không ăn, có thích mua sắm, uống rượu, cờ bạc… không? Tất cả những việc này khi vượt quá tầm kiểm soát, có thể được xem là chỉ dấu báo hiệu bạn đang bị căng thẳng.
BS Legato lưu ý, việc tập thể dục cũng là một giải pháp giúp giảm căng thẳng, ngay cả chỉ đơn giản là đi bộ. Chị em hãy thường xuyên thực hiện việc đi bộ để tăng cường hoạt động thể chất bất cứ khi nào có thể, như đi cầu thang bộ thay vì thang máy, đi bộ hoặc đi xe đạp khi cần đến những nơi gần, thường xuyên thay đổi tư thế hoặc rảo bước quanh phòng khi xemti vi…
Bên cạnh đó, việc thay đổi lối sống và thói quen hàng ngày có thể giúp chị em giảm nguy cơ phát triển bệnh tim, như không hút thuốc lá, duy trì thể trọng khỏe mạnh và tuân thủ chế độ ăn uống có lợi cho tim bao gồm:
- Trái cây và rau quả.
- 100% các loại ngũ cốcnguyên cám.
- Sữa và các loại sản phẩm từ sữa không béo hoặc ít chất béo.
- Protein từ thịt nạc, gia cầm, cá, đậu, trứng và các loại hạt.
- Thực phẩm chứa ít chất béo bão hòa, chất béo trans, cholesterol, muối, natri và đường.
Trong trường hợp chị em đang mắc phải một vài yếu tố góp phần gây bệnh tim, như cao huyết áp, cao cholesterol, hoặc bệnh tiểu đường, hãy tuân thủ thực hiện theo lời khuyên của bác sĩ, uống thuốc đúng liều lượng và thời gian theo toa, tầm soát mức huyết áp và đường huyết.
Theo Nguyễn Niệm - Phụ nữ TPHCM

Cách hạ mỡ máu không cần thuốc nhưng vô cùng hiệu quả

Mỡ máu cao hay còn được gọi là máu nhiễm mỡ, rối loạn mỡ máu,…là nguyên nhân dẫn đến các căn bệnh về tim mạch, huyết áp cao, xơ vữa động mạch, đột quỵ.




Ở Việt Nam có khoảng 29.1 % dân số mắc phải căn bệnh này. Trong đó, người cao tuổi chiếm 63%, độ tuổi trung niên từ 35-45 chiếm khoảng 41,7%.
Cholesterol tốt, cholesterol xấu và triglyceride là 3 thành phần chứa trong mỡ máu. Tỷ lệ cholesterol chiếm 60-70%, khi cholesterol xấu và triglyceride đột ngột tăng cao sẽ khiến lượng mỡ trong máu tăng.
Khi đó, tình trạng xơ vữa động mạch, các cụ máu đông tích tụ gây tắc nghẽn, vỡ động mạch máu dẫn đến hiện tượng đột quỵ, nguy hiểm đến tình mạng của người bệnh.
Mỡ máu cao gây ra xơ vữa và tắc nghẽn động mạch
Mỡ máu cao gây ra xơ vữa và tắc nghẽn động mạch
Nguyên nhân khiến mỡ máu cao
Nguyên nhân hàng đầu khiến mỡ máu cao được xác định là do béo phì. Tuy nhiên, còn những yếu tố kinh điển hơn mà bạn không ngờ có thể khiến bạn mắc phải căn bệnh nguy hiểm này.
Giới tính - tuổi tác
Giới tính và tuổi tác khác nhau sẽ có lượng Estrogen tăng giảm khác nhau.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở những phụ nữ trong độ tuổi từ 15 - 45 tuổi thường có tỉ lệ triglyceride thấp hơn so với nam giới. Tuy nhiên, khi tuổi tác tăng, bước vào giai đoạn mãn kinh thì lượng
triglyceride và cholesterol xấu sẽ tăng lên làm tăng khả năng mắc bệnh xơ vữa động mạch khi mỡ máu tăng cao.
Người béo phì
Đây được xác định là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mỡ máu cao. Khi cân nặng của chúng ta vượt quá mức cho phép thì tất nhiên lượng mỡ trong máu sẽ tăng vọt và các bệnh về tim mạch, huyết áp cao, xơ vữa động mạch sẽ rình rập bạn.
Vì vậy, hãy giữ cho trọng lượng cơ thể ở mức ổn định để tránh nguy cơ mắc bệnh mỡ máu.
Người bị Stress
Thường xuyên căng thẳng, stress hay thường xuyên cáu gắt, tâm trạng bất ổn cũng sẽ khiến lượng cholesterol tăng cao. Do khi đó bạn cảm thấy mình cần ăn nhiều hơn để giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi và tiếp năng lượng cho hoạt động.
Trong trường hợp này chúng ta cũng sẽ có xu hướng ăn nhiều đồ ăn ngọt, chất béo. Đây là nguyên nhân khiến lượng mỡ trong máu bị dư thừa.
Ngoài ra, việc ít vận động cũng là nguyên nhân khiến lượng mỡ tích tụ lại trong cơ thể và máu của bạn đó.
Làm gì để phòng tránh mỡ máu cao?
- Ổn định trọng lượng cho cơ thể để cân bằng lượng cholesterol tốt và xấu cũng như triglyceride trong mỡ máu.
- Tăng cường luyện tập để cơ thể khỏe mạnh, tiêu hao lượng mỡ dư thừa trong cơ thể.
- Ăn uống lành mạnh. Hạn chế các đồ ăn nhiều dầu mỡ, chất béo, tránh dùng những thực phẩm chứa chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, caffein,…
- Sinh hoạt điều độ, tránh làm việc quá sức, căng thẳng và stress, có thời gian vui chơi giải trí để giảm áp lực công việc,…
- Thường xuyên kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, nhất là ở những người ở độ tuổi từ 40 trở lên, phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh,…
Theo Tuyết Anh - Đại lộ

Người cao huyết áp thận trọng khi dùng thuốc gì?

Các thuốc thông thường dùng chữa các bệnh khác có thể gây tăng huyết áp làm giảm hiệu lực của thuốc hạ huyết áp đang dùng.
Khi điều trị cho người mắc cả hai bệnh cao huyết áp, đái tháo đường thì buộc phải dùng cùng lúc hai loại thuốc này. Thầy thuốc tính liều phối hợp thích hợp để không gây ra tụt huyết áp. 
Người bệnh cần tuân thủ liều này, đồng thời phải giữ chế độ ăn ổn định (không bỏ bữa, không ăn ít hơn) giữ chế độ luyên tập ổn định (không lao động nặng, không luyện tập quá mức) để tránh hạ đường huyết, tụt huyết áp.
Các thuốc thông thường gây tăng huyết áp
Corticoid: Tác động lên sự chuyển hóa giữ muối và nước, làm cho nước trong máu trong dịch gian bào tăng, làm tăng glucose - máu… dẫn tới tăng huyết áp. 
Các corticoid nội sinh như: cortisol do tuyến thượng thận sản xuất ra hay chất tương đương có tác động trên chuyển hóa mạnh, nên gây ra tác dụng không mong muốn này mạnh hơn các chế phẩm bán tổng hợp vốn ít tác động lên quá trình chuyển hóa. Cả hai loại khi dùng liều cao, kéo dài đều gây ra tác dụng không mong muốn này.
Cách khắc phục: nếu chỉ bị dị ứng nhẹ chỉ nên dùng các thuốc chống dị ứng như: chlopheniramin, alimemazin fexofenadin, cetirizin. 
Khi bị hen, không dùng corticoid tiêm, uống để kiểm soát hen mà dùng corticoid hít vì dạng bào chế này chỉ dùng với liều thấp, chủ yếu có tác dụng tại chỗ. 
Khi cần phải dùng corticoid thì chỉ dùng liều vừa đủ, dưới 10 ngày. Nếu bị bệnh tự miễn buộc phải dùng corticoid kéo dài thì chỉ dùng liều vừa đủ, trong từng đợt ngắn, cách quãng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
Các chất cường giao cảm, như: ephedrin trong thuốc chữa hen; phenylephrin, pseudoephedrin trong thuốc cảm OTC. Các chất này làm giãn phế quản nên đỡ nghẹt mũi, sổ mũi làm cho người bệnh dễ chịu, song có tính cường giao cảm làm cho tim đập nhanh, co mạch ngoại vi, gây tăng huyết áp.
Người cao huyết áp tránh và thận trọng dùng thuốc thông thường gì?
Cách khắc phục: khi bị hen nên kiểm soát hen bằng corticoid hít mà không dùng ephedrin, khi bị cảm nên dùng thuốc hạ nhiệt đơn paracetamol không nên dùng thuốc cảm OTC. Nếu cần thiết dùng thuốc cảm OTC chỉ nên dùng liều vừa đủ, một đợt ngắn 2 - 5 ngày, không nên dùng liều cao, kéo dài.
Thuốc chống trầm cảm IMAO: ức chế enzyme monoaminooxydase (MAO), là enzyme gây hủy các chất dẫn truyền thần kinh nên làm bền các chất này, làm cho các chất này trong synap phục hồi lại ngưỡng bình thường, có tác dụng chống trầm cảm. 
Nhưng enzyme MAO có ở nơi khác như enzyme MAO ức chế việc sản xuất tyramin. IMAO ức chế MAO ở các bộ phận khác làm tăng tyramin một chất làm tăng HA, gây cơn đau đầu dữ dội. 
Như vậy, bản thân IMAO vốn có tiềm năng làm tăng HA. Khi dùng IMAO liều vừa đủ thì IMAO chỉ phục hồi các chất dẫn truyền về ngưỡng bình thường mà không làm cho cơ thể sản xuất thêm các chất dẫn truyền thần kinh nên chỉ có tác dụng chống trầm cảm. 
Khi dùng IMAO liều cao thì IMAO còn ức chế các MAO ở các bộ phận khác, hay khi dùng IMAO với các chất cường giao cảm vốn có tính năng làm cho tim đập nhanh, co mạch ngoại vì… thì sẽ gây tăng HA.
Cách khắc phục: không dùng IMAO liều cao hơn liều tối ưu dùng chống trầm cảm, không dùng IMAO với các chất cường giao cảm.
Kháng viêm không steroid: một số nhóm thuốc chữa CHA như chẹn beta, ức chế men chuyển kích thích tổng hợp chất prosataglandin, một chất gây giãn mạch nên làm hạ HA. Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) sức chế sự sản xuất prostaglandin làm giảm hiệu lực hạ huyết áp của thuốc chẹn beta, ức chế men chuyển.
Cách khắc phục: nên tránh dùng chung hai loại thuốc này.
Thuốc co mạch: trừ phân nhóm 1 của chẹn beta có tác dụng chẹn chọn lọc beta-1, giảm lượng máu từ tim tống ra động mạch nên làm hạ huyết áp, còn hầu hết các nhóm thuốc chữa CHA còn lại đều làm hạ HA thông qua việc làm giãn mạch ngoại vi trực tiếp hay gián tiếp. 
Thuốc co mạch như ergotamin làm co mạch ngoại vi, ngược lại với cơ chế làm hạ huyết áp, nên làm giảm hiệu lực hạ HA của các nhóm thuốc trên.
Cách khắc phục: không nên dùng chung thuốc chữa cao huyết áp với thuốc co mạch.
Thức ăn và thuốc chứa nhiều ion natri (Na+): khi nghiên cứu nhóm chuột bị cao huyết áp di truyền thấy Na+ trong sợi cơ trơn thành tiểu động mạch của chúng có nhiều Na+ hơn trong cơ trơn thành tiểu động mạch của nhóm chuột chứng không bị cao HA. 
Na+ không gây co cơ trơn thành tiểu động mạch nhưng kéo theo Ca+2 vào nội bào. Chính Ca+2 khi vào nội bào nhiều thì sẽ gắn kết với phức tropomin C, làm thay đổi cấu trúc không gian của phức này, bộc lộ actin, tạo điều kiện cho actin kết hợp với myosin gây nên co cơ. 
Sự co cơ thành tiểu động mạch tăng sẽ cản trở lưu thông máu, dẫn tới cao huyết áp. Như vậy sự tồn tại nhiều Na+ trong nội bào cơ trơn thành tiểu động mạch không lợi cho chuột bị cao huyết áp.
Vì Na+ có vai trò gián tiếp làm tăng sự co cơ, có thể không có lợi cho người cao huyết áp, nên khuyến cáo người bị cao huyết áp không nên ăn mặn (muối Natrichlorid = NaCl). 
Ví dụ: một năm một người miền biển ăn khoảng 6.000g muối (16g/ngày), miền đồng bằng ăn khoảng 5.000g muối (13,5g/ngày). Người sinh ra lớn lên ở vùng nào thì không nên ăn muối vượt mức ăn trung bình của vùng đó. 
Thí dụ thang dinh dưỡng Việt Nam (2013) khuyến cáo mức ăn hạn chế muối dưới 10g/ngày. Nhiều người cao huyết áp chưa hiểu rõ điều này, tạo ra chế độ ăn nhạt, rất bất tiện, rất khổ vì ăn nhạt rất khó, không cảm thấy ngon. Cũng nên biết, người cao huyết áp cũng cần đủ Na+ để thiết lập hệ cân bằng nội môi, nên ăn quá nhạt, không đủ Na+ sẽ có hại.
Tất cả các chất chứa nhiều Na+ như các loại viên hay dung dịch sủi bọt (chưa NAHCO3) thuốc chữa đau dạ dày (chứa NAHCO3, Na2CO3), mì chính (chữa natriglutamat) đều làm tăng Na+, không lợi cho người cao HA chứ không riêng gì muối ăn (NaCl). 
Mỗi ngày giảm ăn 1g muối thì chỉ giảm được 390mg Na+ nhưng uống một viên sủi canxium sandor thì đưa thêm vào cơ thể 290mg Na+, dùng một thìa cà phê mì chính thì đưa vào cơ thể thêm tới 680mg Na+. Nhiều người kiêng ăn mặn (NaCl) mà vẫn thừa Na+ là vì dùng các chất này.
Cách khắc phục: ăn hạn chế muối, không dùng thái quá các loại viên sủi (như dùng viên sủi C để giải khát thường xuyên), không nên dùng thuốc chữa dạ dày chứa Na2CO3 mà nên làm giảm tiết dịch vị bằng chất khác.
Thuốc gây hạ huyết áp
Thuốc lợi tiểu: thuốc này dùng trong điều trị cao huyết áp. Nhưng trong điều trị cao huyết áp, người ta dùng cơ chế hạ HA do ức chế protein vận chuyển natri - chlor qua trung gian giãn mạch, nên chỉ cần dùng liều nhỏ là đã có hiệu lực hạ HA mà không gây mất nước, mất K+ nhiều, nên không gây tụt huyết áp, không hại cho tim mạch(thiazid dùng 100mg/ngày, indapamid dùng 2 - 5mg/ngày). 
Song nếu dùng lợi tiểu với liều cao hay khi phối hợp lợi tiểu với các thuốc chữa CHA khác không tính toán kỹ thì có thể gây mất nhiều nước mất nhiều K+ gây ra tụt huyết áp gây hại cho tim mạch.
Cách khắc phục: khi dùng lợi tiểu đơn trị liệu thì chỉ cần dùng liều nhỏ vừa đủ gây hạ HA (lúc đầu dùng liều thấp rồi tăng dần đến liều có hiệu lực). Khi dùng lợi tiểu trong trị liệu phối hợp thì cần tính toán kỹ để cộng hợp cả hiệu lực hạ HA của lợi tiểu và thuốc khác chỉ đưa HA về mức HA mục tiêu mà không gây tụt HA. 
Có hai cách: hoặc dùng lợi tiểu trước sau đó nghỉ dùng thuốc lợi tiểu vài ba ngày rồi mới dùng thuốc hạ HA khác (như chẹn beta) hoặc nếu phối hợp cùng lúc thì phải phối hợp dần dần thuốc lợi tiểu (lúc đầu phối hợp liều thấp, sau đó tăng dần liều phối hợp đến mức đạt được yêu cầu).
Thuốc giãn mạch: các thuốc chữa cao huyết áp do gây giãn mạch gián tiếp hay trực tiếp mà làm hạ HA. Các thuốc như glyceryl trinitrat, isosorbid cũng gây giãn mạch. Nếu phối hợp thuốc chữa cao huyết áp với thuốc giãn mạch thì hai thuốc này cộng hợp cơ chế giãn mạch, gây ra tụt HA đột ngột.
Cách khắc phục: số thuốc giãn mạch được dùng trong bệnh tim mạch như dùng trong bệnh mạch vành. Nếu người cao huyết áp có nhu cầu dùng cả thuốc hạ HA lẫn thuốc giãn mạch thì cần dùng liều phối hợp thận trọng để không gây ra tụt HA đột ngột.
Thuốc đái tháo đường: thuốc đái tháo đường týp 1 (insulin tiêm) hoặc thuốc đái tháo đường týp 2 (uống) đều làm hạ glucose - máu dẫn đến làm hạ HA, nếu dùng liều cao (quá liều chỉ định) có thể gây tụt HA mạnh.
Cách khắc phục: khi điều trị cho người mắc cả hai bệnh cao huyết áp, đái tháo đường thì buộc phải dùng cùng lúc hai loại thuốc này. Thầy thuốc tính liều phối hợp thích hợp để không gây ra tụt HA. 
Người bệnh cần tuân thủ liều này, đồng thời phải giữ chế độ ăn ổn định (không bỏ bữa, không ăn ít hơn) giữ chế độ luyên tập ổn định (không lao động nặng, không luyện tập quá mức) để tránh hạ đường huyết, tụt HA.
Những thuốc thông thường gây tăng hay gây giảm HA nói trên không phải là chống chỉ định với người cao huyết áp nhưng không lợi cho người cao huyết áp, có trường hợp nên tránh dùng nếu có thể được), có trường hợp phải dùng thận trọng (nếu cần) nhằm hạn chế tác dụng không mong muốn, gây ảnh hưởng không lợi đến việc điều trị cao huyết áp.
Theo DS.CKII Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống

Những hiểm họa đe dọa bạn khi tim đập quá nhanh

Chứng tim đập nhanh thường bị tưởng nhầm là hồi hộp, căng thẳng, trong khi nó cực kỳ nguy hiểm, có thể gây chết người.

Nhũng hiẻm họa de dọa bạn khi tim dạp quá nhanh
Chứng tim đập nhanh có thể là bẩm sinh hoặc gây ra bởi một số bệnh.

Nguyên nhân của chứng bệnh này có thể do bẩm sinh và hoặc điều kiện ngoại cảnh tác động như uống nhiều rượu, cocaine hay mất cân bằng điện giải.
Tuy nhiên, đôi khi tim đập nhanh có thể là một dấu hiệu của vấn đề sức khỏe nghiêm trọng tiềm ẩn, chẳng hạn như tuyến giáp hoạt động quá mức (cường giáp) hay nhịp điệu bất thường (loạn nhịp tim).
Nếu như để tình trạng tim đập nhanh kéo dài mà không thăm khám để tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị, sức khỏe của bạn sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát với vô vàn bệnh sau:
Huyết áp giảm. Nếu tim đập rất nhanh, huyết áp sẽ giảm. Ngoài ra, nhiều khả năng sẽ phát triển các vấn đề tim từ chứng tim đập nhanh này.
Đột quỵ. Nếu nhịp tim đập quá nhanh, tim rung thay vì đập đúng cách có thể gây ra các cục máu đông hình thành. Nếu cục máu đông bị vỡ rời, nó có thể đi lạc đến các bộ phận khác và cản trở một động mạch não, gây ra cơn đột quỵ. Điều này làm thiệt hại một phần của bộ não hoặc dẫn đến tử vong.
Suy tim. Suy tim là trạng thái bệnh lý, trong đó cơ tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể, lúc đầu xảy ra khi gắng sức rồi sau đó là cả khi nghỉ ngơi. Vì vậy, cần làm mọi cách để kiểm soát chức năng tim mạch của bạn.
Nhũng hiẻm họa de dọa bạn khi tim dạp quá nhanh-Hinh-2
Hãy kiểm soát tình trạng tim đập liên hồi để không xảy ra tình trạng xấu với sức khỏe.

Để tránh tình trạng tim đập nhanh, bạn có thể làm một vài bài kiểm tra sau:
Xét nghiệm máu. Giúp xác định liệu các vấn đề về tuyến giáp hoặc các chất khác có thể là yếu tố góp phần vào nhịp tim quá nhanh của bệnh nhân hay không. Xét nghiệm máu cũng có thể phát hiện liệu có thiếu máu hoặc có gặp vấn đề về chức năng thận hay không. Điện giải trong huyết thanh cũng có thể được kiểm tra để xác định mức độ natri và kali trong đó.
Điện tâm đồ (ECG). Là bài kiểm tra ghi lại các xung điện làm cho tim đập nhanh. Các xung sẽ được hiển thị trên màn hình và bác sĩ sẽ phát hiện có sự bất thường nào trong nhịp tim khiến nó đập nhanh bất thường.
Theo dõi Holter. Màn hình Holter là một thiết bị di động ghi lại tất cả những hoạt động của tim trong vòng 24 đến 72 giờ. Thiết bị nhỏ này được đặt trong quần áo, sau đó bác sỹ sẽ lấy kết quả và chẩn đoán bệnh chính xác.
Chụp X - quang. Chụp X - quang có thể được thực hiện để xem kích thước và hình dạng của trái tim để giúp xác định cấu trúc tim bất thường.
Siêu âm tim. Cho thấy hình ảnh chi tiết của cấu trúc tim và chức năng. Sóng siêu âm được truyền đi, và tiếng tim được ghi lại để lấy kết quả chẩn đoán bệnh.

Theo Mi Trần - Kiến Thức/ Medicalnewstoday

10 sự thật thú vị về trái tim

Phổi trái nhỏ hơn lá phổi bên phải để nhường chỗ cho tim. Các cặp tình nhân có thể đập cùng nhịp tim sau khi nhìn chằm chằm vào mắt nhau trong 3 phút

Một khối cơ chứa đầy máu nằm ở ngực trái được gọi là trái tim. Con người không thể sống hay yêu thương mà không có trái tim. Người Hy Lạp tin rằng trái tim là chỗ ngồi của tinh thần, người Trung Quốc nói rằng trái tim là trung tâm của hạnh phúc còn người Ai Cập nghĩ những cảm xúc và trí tuệ phát sinh từ trái tim.
Mỗi ngày 2.700 người chết vì bệnh tim. Nhiều nghiên cứu cho thấy nam giới độ tuổi 49 - 54 cực khoái trong tình dục ít nhất ba lần một tuần giảm một nửa khả năng tử vong do bệnh tim mạch vành. Ăn chay làm giảm khả năng bị bệnh tim khoảng 19%. Ăn chocolate đen mỗi ngày làm giảm 1/3 nguy cơ bệnh tim.
Người ít vận động có nguy cơ bệnh tim gấp đôi so với người tập thể dục thường xuyên.Để giảm nguy cơ bệnh tim, Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo nên dành ít nhất 30 phút tập thể dục vừa phải hầu hết các ngày trong tuần. Khi bạn cười, niêm mạc của thành mạch máu giãn ra, lưu lượng máu từ tim chảy qua toàn bộ cơ thể tăng 20%. Vì vậy nụ cười tốt cho tim.
Trái tim được xem là biểu tượng của tình yêu. Ảnh minh họa: funnfun
Trái tim được xem là biểu tượng của tình yêu. Ảnh minh họa: funnfun
Dưới đây là 10 điều có thể khiến bạn ngạc nhiên về trái tim mình:
1. Tim có kích thước bao nhiêu? Nếu là trẻ em thì nó bằng một cái nắm tay của bạn, với người lớn tim bằng 2 cái nắm tay người đó.
2. Khi thụ thai được 4 tuần, trái tim bắt đầu đập những nhịp đập đầu tiên và sẽ dừng lại khi con người chết đi.
3. Khi cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi không vận động thể lực và trí não, chỉ mất 6 giây cho máu từ tim đến phổi và trở về, mất 8 giây cho máu từ tim đến não và trở về, mất 16 giây cho máu từ tim đến ngón chân và trở về.
4. Mỗi này một trái tim khỏe mạnh bơm 2.000 lít máu đi qua 96.500 km của toàn bộ chiều dài hệ thống mạch máu trong cơ thể. Mỗi ngày trái tim tạo ra đủ năng lượng để lái một chiếc xe tải chạy khoảng 32 km. Áp lực tạo ra từ tim trong một nhịp tim là đủ để phun máu đi xa khoảng 9 mét.
5. Trái tim người lớn trung bình đập 72 lần một phút; 100.000 lần một ngày; 3.600.000 lần một năm và 2,5 tỷ lần trong suốt cuộc đời. Trái tim phụ nữ đập trung bình khoảng 78 lần một phút còn đàn ông là 70 lần một phút.
6. Tim bơm hơn 1 lít máu mỗi 10 giây hoặc khoảng 5 lít máu mỗi phút. Trong ba tháng cuối của thai kỳ, tim bơm 7 - 9 lít máu mỗi phút và nỗ lực cao nhất, trái tim có thể bơm 20 - 35 lít máu mỗi phút.
7. Trái tim có thể tiếp tục đập thậm chí nếu tách rời khỏi cơ thể vì nó có xung điện riêng của mình.
8. Phổi trái nhỏ hơn lá phổi bên phải để nhường chỗ cho tim.
9. Các cặp tình nhân đang trong giai đoạn hạnh phúc có thể đập cùng nhịp tim với nhau sau khi nhìn chằm chằm vào mắt nhau trong 3 phút.
10. Tim bơm máu đến gần như tất cả nơi của cơ thể. Khoảng75 nghìn tỷ tế bào cơ thể nhận máu từ tim ngoại trừ giác mạc không nhận được nguồn cung cấp máu.
Theo BS Lê Nguyễn Khánh Duy - VnExpress

5 bí quyết giúp tầm soát huyết áp

Cao huyết áp hiện đã trở thành một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến và thường là hậu quả của lối sống hối hả, căng thẳng và thói quen ăn uống thiếu lành mạnh.

Mọi người, thuộc mọi lứa tuổi, đều có thể mắc phải chứng cao huyết áp cần phải được theo dõi cũng như kiểm soát chặt chẽ.
Theo các chuyên gia, nếu không được điều trị kịp thời, bệnh cao huyết áp có thể gây nên các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như bệnh mạch vành, suy tim, suy thận, đột quỵ, mất thị lực…
Để tầm soát huyết áp, ngoài việc sử dụng thuốc, bạn cũng có thể thực hiện các biện pháp tự nhiên sau:
1. Tuân thủ chế độ ăn uống lành mạnh
Các chuyên gia cho biết, thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm nhiều trái cây và rau quả tươi hàng ngày là phương pháp hiệu quả trong việc giúp ổn định huyết áp. Ngoài ra, các sản phẩm sữa ít béo và ngũ cốc nguyên hạt cũng mang lại nhiều lợi ích cho những người cao huyết áp.
2. Giảm tiêu thụ muối
Muối ăn (NaCl) có chứa natri, vì thế nếu tiêu thụ quá nhiều có thể làm tăng huyết áp, gây nguy hiểm cho sức khỏe.
3. Duy trì thể trọng lý tưởng
Duy trì thể trọng khỏe mạnh được đánh giá là một trong những phương pháp tuyệt vời giúp ngừa cao huyết áp. Vì tình trạng thừa cân có thể làm phát sinh nhiều vấn đề sức khỏe khác nhau, trong đó có tăng huyết áp. 
Để tăng cường sức khỏe và giảm cân, bạn cần thường xuyên hoạt động thể chất, trong đó tập tạ hoặc nâng nhấc vật nặng từ 30 - 45 phút/ngày được chứng minh mang lại hiệu quả cao nhất.
4. Ngủ đủ giấc
Theo các chuyên gia, tình trạng thiếu ngủ (ngủ ít hơn 6h mỗi đêm) có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh cao huyết áp. Vì thế, để đảm bảo sức khỏe và ngăn ngừa nguy cơ cao huyết áp, bạn cần phải duy trì thời lượng ngủ từ 7-8h mỗi ngày.
5. Kiểm tra sức khỏe định kỳ
Thường xuyên khám sức khỏe và kiểm tra huyết áp là cách tốt nhất nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời những vấn đế về sức khỏe, đặc biệt là tình trạng cao huyết áp, vốn là tác nhân gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng.
Theo Nguyễn Niệm - Phụ nữ TPHCM

Liệu pháp mới chữa cơn đau tim, đột quỵ

Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Học viện Y khoa Icahn Mount Sinai cho thấy một liệu pháp y khoa siêu nhỏ có khả năng ngăn chặn sự tăng trưởng các tế bào mảng xơ vữa mạch máu.

Trong nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Science Advances, các nhà khoa học ứng dụng kỹ thuật y khoa siêu nhỏ, lợi dụng sự di chuyển liên tục từ gan đến mạch máu của các phần tử "cholesterol tốt" tức cholesterol có lipoprotein tỉ trọng cao (HDL), nhờ chúng chuyển tải các phân tử siêu nhỏ của thuốc hạ cholesterol simvastatin vào mạch máu được họ gọi là S-HDL.
Các thành phần S-HDL nhắm vào tế bào miễn dịch được gọi là đại thực bào bị viêm có nguy cơ cao trở thành mảng vữa mạch máu. Những đại thực bào này vốn chất chứa cholesterol và bắt đầu sinh sôi thành mảng làm tăng chứng viêm, thúc đẩy mảng xơ vữa hình thành và vỡ ra tạo nguy cơ đau tim hay đột quỵ.
Mảng xơ vữa bám bên trong thành mạch máu. Ảnh: Medical Xpress
Mảng xơ vữa bám bên trong thành mạch máu. Ảnh: Medical Xpress
Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm S-HDL trong 1 tuần trên chuột đã bị biến đổi trở thành bệnh mạch vành giống như người, kết hợp với 8 tuần điều trị thuốc uống bình thường và phát hiện nguy cơ viêm giảm đáng kể.
Trưởng nhóm nghiên cứu, GS Zahi Fayard, bày tỏ: "Chúng tôi hy vọng liệu pháp y khoa siêu nhỏ có thể sớm được thử nghiệm trên người bằng liều tiêm ngắn hạn cho bệnh nhân bị cơn đau tim và đột quỵ nhằm khống chế nhanh chứng viêm đồng thời vẫn duy trì thuốc uống statin".
Theo Trúc Lâm - Người lao động

Thực phẩm giúp đẩy lùi bệnh tim

Các bệnh lý tim mạch như xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, hẹp mạch vành... ngày càng nhiều và phổ biến ở xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, tạo dựng thói quen sinh hoạt và ăn uống khoa học kết hợp lựa chọn những thực phẩm quen thuộc dễ kiếm có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch sẽ giúp đẩy lùi căn bệnh có tỉ lệ người mắc đứng hàng đầu thế giới.
Nguyên tắc dinh dưỡng đề phòng bệnh tim tới "hỏi thăm"
Tuân thủ nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng: Nên ăn 3 bữa/ngày (người già 4-5 bữa/ngày), ăn đúng giờ quy định để tạo cho cơ thể hình thành phản xạ: dạ dày tiết nhiều dịch vào khoảng thời gian nhất định, khiến sự tiêu hóa thức ăn diễn ra nhanh và dễ dàng.
Hạn chế dùng muối ăn: Thói quen ăn mặn rất có hại, là một trong những nguyên nhân gây bệnh tăng huyết áp. Huyết áp cao làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, suy thận, suy tim và xuất hiện các cơn đau tim. 
Giảm muối natri: nghiên cứu dịch tễ học cho thấy ở các quần thể dân cư có tập quán ăn mặn thì tỷ lệ người bị tăng huyết áp cao hơn hẳn với các quần thể có tập quán ăn nhạt hơn. Vì vậy, chỉ nên ăn dưới 6 gam muối/ngày.
Ăn vừa đủ no: Để tránh bị thừa cân và phòng ngừa bệnh tật, mỗi người nên ăn vừa đủ no, không ăn nhiều, ăn cố.
Thực phẩm giúp đẩy lùi bệnh timTạo dựng thói quen ăn uống khoa học sẽ tốt cho sức khỏe tim mạch.
Hạn chế thức ăn có nhiều chất béo: Hạn chế sử dụng các loại thịt, cá xuống còn 150-200 gam/ngày. Sử dụng thịt thăn, thịt bắp không dính mỡ. Loại bỏ tất cả những phần mỡ nhìn thấy trước khi chế biến và lượng mỡ được tạo ra trong quá trình đun nấu. Không ăn nước xào, nước ninh xương ống, xương cục; không ăn da, đầu, cổ, cánh, chân của các loại gia cầm; hạn chế ăn phủ tạng động vật.
Những thực phẩm giúp bạn tránh xa khỏi bệnh tim
Hoa quả chín: Các nghiên cứu phát hiện ra rằng các loại hoa quả sau khi ăn vào sẽ được cơ thể hấp thu. Tại đường tiêu hóa, nó có thể "bao vây" chất cholesterol và những chất có chứa cholesterol và thải ra theo phân. Các chuyên gia tin rằng, nếu giảm được 1% lượng cholesterol trong máu thì sẽ giảm được 2% khả năng phát sinh ra bệnh tim mạch. Đây chính là nguyên lý ăn hoa quả để phòng bệnh tim mạch. Những hoa quả như táo, hạnh đào, cam quýt... đều rất tốt.
Bưởi: Kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy, bưởi làm hạ lượng cholesterol nên có thể phòng bệnh tim. Ăn bưởi giúp hạ cholesterol mà còn giảm bớt mức độ tổn hại của thành mạch. Đặc biệt, chất tinh dầu trong vỏ bưởi có thể ngăn cản việc hấp thụ cholesterol của ruột non, để tăng hiệu quả có thể trộn lẫn với bột đậu để dùng.
Táo: Người Hy Lạp cổ coi táo là "thuốc thanh xuân". Y học hiện đại cũng khuyên bệnh nhân tuỳ theo bệnh mà ăn các loại táo khác nhau, riêng để phòng bệnh xơ cứng động mạch thì tất cả các loại táo đều tốt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người bệnh xơ cứng động mạch sau khi mỗi ngày ăn 300g táo trong thời gian dài, hiện tượng xơ cứng đã giảm.
Khoai tây: Người bị bệnh tim đều bị phù thũng ở các mức độ khác nhau nên thường dùng thuốc lợi tiểu, dễ gây mất kali cho cơ thể. Do vậy, những người này cần thường xuyên ăn khoai tây giàu chất kali, vừa bổ sung kali lại bổ sung protid, khoáng chất và vitamin.
Hành tây: Hành tây là một loại gia vị thông dụng, chứa nhiều vitamin, khoáng chất, canxi, phốtpho, sắt... Theo kết quả đã nghiên cứu 5.132 đối tượng trong 25 năm và thấy rằng, hành tây giúp phòng chống bệnh động mạch vành rất tốt. 
Trong hành có chứa chất chống ôxy hoá, nó có tác dụng giảm tích tụ tiểu cầu, giảm thiếu máu cục bộ, tránh tổn thương mạch và từ đó có tác dụng phòng bệnh tim. Ngoài ra, một số loại quả khác như cà rốt, cải thảo, bí xanh, cà tím, cà chua, nho đỏ cũng có tác dụng tương tự.
Cà chua: Theo các nhà khoa học Mỹ thì cà chua có tác dụng bảo vệ tim và hạ tỷ lệ phát bệnh tim. Lý do vì trong cà chua có một chất chống ôxy hoá rất mạnh, có thể phòng chống tổn thương cho tế bào cơ tim. Các nhà dinh dưỡng học khuyên mỗi ngày ăn một quả cà chua sống là đủ, nếu uống nước cà chua thì không quá 200ml/ngày. 
Tuy nhiên, không nên ăn cà chua lúc đói vì cà chua có lượng axit lớn, nếu ăn vào nó sẽ kết hợp với dịch chua trong dạ dày trở thành hợp chất không hoà tan làm áp lực trong dạ dày tăng cao, dễ dẫn tới đau dạ dày.
Theo BS Trần Anh Ngọc - Sức khỏe và Đời sống

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Có thể tái sinh tế bào cơ tim

Ông đã cùng cộng sự của mình làm tái sinh số lượng tế bào cơ tim đến 45% bằng cách tăng số lượng hormon điều phối sự phát triển của các tế bào. Họ đã tập trung vào hệ thống tín hiệu ở tim do hormon neuregulin điều khiển, sau đó họ đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn cách thay thế mô bị hư hại và kích thích quá trình này bằng các loại thuốc. Khi tái tạo được mô tim tổn thương, việc điều trị các cơn đau tim sẽ có nhiều lựa chọn hơn.

TS. Sydney Morning Herald cũng cho biết: “Nghiên cứu này phải qua lộ trình thêm vài năm nữa mới có thể xác định tế bào cơ tim tái sinh có hoạt động được trong cơ thể người hay không và ít nhất 5 năm nữa trước khi phát triển bất kỳ ứng dụng điều trị nào”.
Lê Anh (Theo The Time, 4/2015)