Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Rối loạn mỡ máu làm tăng nguy cơ biến chứng

Rối loạn mỡ máu kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng nguy hiểm khó lường, nhất là ở người cao tuổi (NCT). Trong đó, là biến chứng nguy hiểm nhất là biến chứng về tim mạch.

Rối loạn mỡ máu có nghĩa là lượng mỡ trong máu không ổn định, tăng cao hoặc thấp. Đáng lo ngại nhất là mỡ máu tăng cao liên tục trong thời gian dài.
Một số nguyên nhân
Thành phần chính của mỡ máu là cholesterol, triglycerit, lipoprotein, apoprotein, axít béo tự do và phospholipide có hệ số nhất định ở người bình thường. Trong các thành phần này,cholesterol, lipoprotein, apoprotein và triglycerit đóng một vai trò hết sức quan trọng và cholesterol và triglycerít là đáng lưu ý nhất. 
Cholesterol là một chất mềm, bóng như chất sáp, chủ yếu do gan tạo ra từ các chất béo bão hòa. Mỗi ngày có khoảng 1g cholesterol được tạo ra và hòa cùng trong dòng máu đi khắp cơ thể. Ngoài ra, một phần nhỏ cholesterol cũng được hấp thu từ các loại thức ăn (sữa, lòng đỏ trứng, mỡ động vật, não, lòng động vật, tôm…). 
Triglycerit được tạo ra khi các axít béo sau khi hấp thu qua gan, được gan chuyển hóa thành cholesterol, lượng axít béo tự do không được gan chuyển hóa sẽ dư thừa và trở thành triglycerit. 
Thành phần lipoprotein được hình thành tại gan do triglycerit kết hợp với apoprotein (apoprotein do gan tạo ra). 
Lipoprotein gồm hai dạng: lipoprotein có tỉ trọng thấp (LDL-c: Low density lipoprrotein - cholesterol) và còn có cả dạng rất thấp (VLDL - c) và lipoprotein tỉ trọng cao (HDL - c: Hight density lipoprotein - cholesterol). 
Loại LDL - c và VLDL - c là 2 loại cholesterol xấu và rất xấu vì chúng có khả làm xơ vữa động mạch nhất là động vành tim và động mạh não. Ngược lại, loại HDL - c là loại cholesterol tốt vì chúng có khả năng đưa cholesterol ra khỏi thành động mạch, trở về gan rồi đào thải chúng ra khỏi cơ thể.
Mỡ máu cao có nghĩa là các thành phần cholesterol toàn phần, cholesterol thấp (LDL-C), rất thấp (VLDL-C) tăng cao so với chỉ số bình thường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh mỡ máu cao, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng (ăn quá nhiều, lặp lại nhiều lần các loại thịt đỏ như: thịt chó, thịt bò hoặc ăn nhiều phủ tạng động vật, tiết canh, tôm, uống nhiều rượu bia…), hoặc do chế độ sinh hoạt hoạt không hợp lý (ít hoặc lười vận động), và có thể có yếu tố di truyền, yếu tố gia đình, hoặc do lão hóa (các cơ quan trong cơ thể bị lão hóa bởi thời gian, trong có các bộ phận như gan, mật).
Những biến chứng khó lường
Mỡ máu cao là một loại bệnh không gây tử vong ngay trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, nếu mỡ máu cao kéo dài sẽ gây nên nhiều biến chứng, thậm chí biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là biến chứng về hệ tim mạch, nếu không phát hiện sớm, điều trị và dự phòng tốt.
Bởi vì, mỡ máu cao sẽ lắng đọng vào trong lòng mạch máu (động mạch), tạo ra các mảng xơ vữa làm hẹp lòng động mạch cản trở sự lưu thông hoặc tắc nghẽn mạch máu, đặc biệt là mạch máu nuôi tim (động mạch vành), mạch máu nuôi não (mạch máu não). 
Nếu mảng xơ vữa dày sẽ làm tắc mạch máu hoặc làm vỡ mạch máu. Nếu mảng xơ vữa bị bong ra đi theo dòng máu đến cơ quan nào mạch máu nhỏ sẽ gây tắc mạch máu (nhồi máu cơ tim, nhồi máu não) gây nên các tai biến, nếu không kịp thời cấp cứu có thể tử vong hoặc nếu qua khỏi cơn nguy kịch (tai biến mạch máu não) sẽ để lại di chứng nặng nề (liệt, rối loạn tâm thần…).
Ngoài ra, mỡ máu cao còn có thể gây tắc mạch ở ruột gây hoại tử ruột, ở chi gây tắc mạch máu chi hoặc gây viêm tụy, bệnh lý đái tháo đường týp 2, tê chân, bệnh gan nhiễm mỡ...
Phòng rối loạn mỡ máu
Rối loạn mỡ máu làm tăng nguy cơ biến chứng
Mảng xơ vữa bị bong ra đi theo dòng máu có thể làm tắc mạch máu nhỏ
Mỡ máu cao, nếu phát hiện sớm, đa số các trường hợp chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn, sinh hoạt điều độ là tỉ lệ mỡ trong máu gần như trở lại bình thường. Trường hợp không đáp ứng được phải dùng thuốc, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt cho hợp lý. 
Vì vậy, để hạn chế mỡ máu cao, người cao tuổi cần có chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý, nên hạn chế ăn các loại thức ăn có chứa các chất béo và cholesterol như: bơ, sữa toàn phần, thịt xông khói, dầu dừa, dầu quả cây cọ, các phủ tạng động vật, da gà, da vịt, da ngỗng. 
Hạn chế dùng các loại thực phẩm có chứa trans fat (các loại chiên rán, nhất là chiên rán với loại dầu, mỡ đã sử dụng nhiều lần như quẩy, thịt rán, mì ăn liền). Hạn chế ăn các loại thịt đỏ (thịt chó, trâu, bò, dê), tôm, tiết canh. 
Với người bị béo phì nên có chế độ giảm béo. Nên giảm béo một cách từ từ, không nóng vội, không dùng các loại dược phẩm, thuốc nam, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc, chưa được phép của nhà chức trách. Hạn chế hoặc bỏ rượu, bia khi đã tăng mỡ máu.
Bên cạnh chế độ dinh dưỡng hợp lý NCT cần vận động cơ thể thường xuyên và đúng bài bản. Muốn giảm béo, thông dụng là tăng cường vận động như: tập thể dục buổi sáng, chơi các môn thể thao nhẹ hoặc đi bộ. 
Đi bộ nên thực hiện khoảng 60 phút hàng ngày, chia làm 3 - 4 lần, mỗi lần từ 15 - 20 phút, không nên đi bộ một lúc 60 phút, không đi bộ vào lúc trời nắng hoặc mưa, lạnh. Nên đi bộ quanh bờ hồ, đường mát mẻ không có xe ô tô, xe máy đi qua là tốt nhất. Ngoài ra, người cao tuổi cần đi khám bệnh định kỳ để biết được tình trạng mỡ máu của mình, trên cơ sở đó sẽ được bác sĩ khám bệnh điều chỉnh liều lượng sử dụng thuốc giảm mỡ máu hợp lý.
Lời khuyên của thầy thuốc
Với người bị béo phì nên có chế độ giảm béo. Nên giảm béo một cách từ từ, không nóng vội, không dùng các loại dược phẩm, thuốc nam, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc, chưa được phép của nhà chức trách. Hạn chế hoặc bỏ rượu, bia khi đã tăng mỡ máu.
Theo PGS.TS Bùi Khắc Hậu - Sức khỏe và Đời sống

Đau lưng đột ngột: cảnh giác bệnh tim chết người

Đột ngột đau ngực hoặc đau lưng dữ dội, cảm giác đau như xé, lan lên cổ hoặc lan ra sau lưng, có thể bạn đã bị bóc tách động mạch chủ - một dạng bệnh tim rất nguy hiểm.




Tử vong nếu không điều trị kịp thời
Động mạch chủ là mạch máu lớn nhất cơ thể, xuất phát từ tim và dẫn máu đi nuôi các cơ quan. Nó cấu tạo bởi ba lớp: lớp ngoài (ngoại mạc), lớp giữa (trung mạc) và lớp trong (nội mạc). Bóc tách động mạch chủ xảy ra khi lớp trong của động mạch chủ bị rách, máu đi qua chỗ rách này dưới áp lực cao sẽ tách rời lớp trong và lớp giữa, tạo thành một lòng giả cùng chứa máu song song với lòng thật ban đầu.
Đây là bệnh lý rất nặng: 33% bệnh nhân sẽ tử vong nếu không điều trị kịp thời trong 24 giờ đầu tiên. Tỷ lệ này tăng lên 50% trong 48 giờ đầu và 75% trong hai tuần đầu tiên.
Tử vong trong bóc tách động mạch chủ là do bóc tách lan đến các động mạch nuôi tim (động mạch vành), động mạch nuôi não và các tạng quan trọng của cơ thể, do vỡ lòng giả...
Ai dễ bị bóc tách động mạch chủ?
Những người có nguy cơ cao bị bóc tách động mạch chủ: nam có tỷ lệ gấp đôi nữ; Bệnh nhân lớn tuổi, tỷ lệ bóc tách động mạch chủ cao nhất ở người 60-70 tuổi; Người tăng huyết áp, rối loạn lipid máu kéo dài không điều trị hoặc điều trị kém; Người hút thuốc lá; Bệnh nhân bị các bệnh ảnh hưởng đến thành động mạch chủ: van động mạch chủ hai mảnh, hội chứng Marfan, hội chứng Ehlers - Danlos...
Dấu hiệu cần cảnh giác
Triệu chứng của bóc tách động mạch chủ gần giống với các triệu chứng của bệnh mạch vành. Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bao gồm: đột ngột đau ngực hoặc đau lưng dữ dội, cảm giác đau như xé, lan lên cổ hoặc lan ra sau lưng; Khó thở; Vã mồ hôi; Ngất; Dấu hiệu giống tai biến mạch máu não: đột ngột khó nói, nhìn mờ, yếu liệt một bên cơ thể.
Khi có những dấu hiệu trên, người bệnh nên lập tức gọi cấp cứu hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán và điều trị thích hợp cũng như chuyển đến những bệnh viện lớn kịp thời.
Điều trị và phòng ngừa
Bóc tách động mạch chủ là tình trạng cấp cứu, đòi hỏi phải điều trị càng sớm càng tốt. Điều trị phẫu thuật hay điều trị nội khoa (uống thuốc) tuỳ thuộc vào phần động mạch chủ bị ảnh hưởng.
Vì bóc tách diễn ra khi áp lực trong lòng động mạch chủ tăng cao nên cách tốt nhất để phòng bệnh là kiểm soát huyết áp trong ngưỡng điều trị: tăng huyết áp (uống thuốc điều trị tăng huyết áp hàng ngày theo hướng dẫn của bác sĩ tim mạch, đo huyết áp thường xuyên để đánh giá hiệu quả của thuốc; Ngưng hút thuốc lá; Giữ cân nặng lý tưởng, tập thể dục đều đặn; Nếu trong gia đình có người bị bóc tách động mạch chủ, chúng ta nên đi khám để tầm soát các yếu tố nguy cơ nhằm phòng ngừa bệnh.
Theo TS.BS Nguyễn Hoàng Định - Người đô thị

Liên quan giữa ác mộng và bệnh tim

Các cơn mơ về ác mộng khác nhau trên mỗi người. Một vài nghiên cứu thấy rằng một số bệnh lý tim mạch cũng hay gặp ở người hay có ác mộng. Bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến nguyên nhân gây ác mộngÁc mộng ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch như thế nào? Cách nào có thể làm để giảm các cơn ác mộng?
Có ai trong đời không có một lần ngủ không mơ thấy ác mộng? Ác mộng có thể là những con ma tưởng tượng trong giấc ngủ thời tuổi thơ hay những giấc mơ về tai nạn chúng ta nhìn thấy khi đi đường, hoặc giả chúng ta thấy như có ai đó đè lên lồng ngực làm chúng ta không thở được, muốn vùng dậy khi đang ngủ, rồi chúng ta có thể mơ thấy người xưa tái hiện về.
Tại sao lại xuất hiện ác mộng?
Ác mộng thường liên quan đến những gì chúng ta đã trải qua hoặc nghe kể. Những hình ảnh này sẽ tái hiện lại trong giấc ngủ của chúng ta. Ác mộng khiến chúng ta phải bật dậy khi đang ngủ say. Sau cơn ác mộng, mọi người thường lo sợ và tim đập nhanh khi tỉnh giấc. Ác mộng thường hay gặp ở trẻ em, hơn một nửa trẻ em thỉnh thoảng có những cơn ác mộng. Với người lớn, cơn ác mộng có tần suất từ 2-8%.
Ác mộng ở người lớn thường không rõ nguyên nhân. Nhưng nó cũng có thể gây ra từ một số nguyên nhân sau:
Một số người có ác mộng thường sau những bữa ăn muộn về đêm. Điều này làm tăng chuyển hóa và các tín hiệu chuyển đến não nhiều hơn và não cũng hoạt động nhiều hơn. Một số thuốc dùng cũng có thể làm cho dễ gây ác mộng, nhất là những thuốc tác động lên não như các thuốc chống trầm cảm và các thuốc giảm đau dạng narcotics, các loại ma túy và một số thuốc hạ huyết áp cũng là nguyên nhân gây ra ác mộng. Rượu cũng là một nhân tố kích thích gây ra ác mộng. Mất ngủ cũng góp phần làm dễ bị ác mộng. Một số trạng thái tâm lý cũng góp phần gây nên mất ngủ như căng thẳng, trầm cảm là nguyên nhân của ác mộng. Những rối loạn căng thẳng sau chấn thương thường cũng hay có các cơn ác mộng kéo dài, nhất là những người bị những bệnh lý mạn tính. Một số cơn ác mộng là do các rối loạn giấc ngủ như hội chứng ngừng thở lúc ngủ hoặc hội chứng “chấn động khi ngủ”. Nếu các nguyên nhân trên được loại trừ đa phần ác mộng là do rối loạn giấc ngủ.
Có mối tương quan với bệnh lý tim mạch
Một nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy những người lớn tuổi có nhiều cơn ác mộng sẽ làm ngoại tâm thu xuất hiện nhiều hơn và những người này cũng thường hay có những cơn đau ngực do co thắt. Cũng nghiên cứu này, đau ngực và ngoại tâm thu tăng lên ở phụ nữ từ 40 - 64 tuổi hay có ác mộng và ngủ kém. Đau ngực do co thắt cũng xuất hiện tăng lên ở phụ nữ trung niên hay có ác mộng và đặc biệt cao ở những người tiền mãn kinh.
Hầu hết cơn đau ngực do nhồi máu cơ tim xuất hiện vào sáng sớm. Việc thức dậy đột ngột với tần số tim nhanh sau ác mộng cũng làm xuất hiện nhiều hơn nhồi máu cơ tim vào thời điểm này.
Những người hay có ác mộng có thể do hội chứng ngừng thở lúc ngủ gây ra. Với những bệnh nhân có hội chứng này, tỷ lệ rối loạn nhịp tăng lên cao, đặc biệt là nhịp chậm và tình trạng rung nhĩ. Những tình trạng này có thể làm gia tăng đột tử và tăng tỷ lệ tai biến mạch não cũng như suy tim ở những bệnh nhân này.
Một số bệnh lý tim mạch như bệnh tim hoặc béo phì cũng gây nên mất ngủ và gây ra những giấc ngủ nhiều ác mộng.
Điều trị ác mộng như thế nào?
May mắn là chúng ta có thể từng bước làm giảm được các cơn ác mộng. Nếu cơn ác mộng là do thuốc gây ra, bạn có thể trao đổi với bác sĩ để thay đổi thuốc hoặc giảm liều để tránh các tác dụng phụ của thuốc.
Nếu ngủ ác mộng không phải do bệnh mạn tính hay liên quan đến thuốc, việc thay đổi thói quen chứng minh có hiệu quả đến 70% những người ngủ gặp ác mộng như mệt mỏi, trầm cảm. Giữ cho ngủ và dậy đúng giờ là rất quan trọng. Tập thể dục đều đặn sẽ giúp làm giảm và hết ác mộng do nguyên nhân mệt mỏi và căng thẳng. Tập Yoga và một số thuốc cũng góp phần loại bỏ ác mộng. Cần lưu ý, việc bỏ rượu, cà phê và thuốc lá có thể giúp cho giấc ngủ tốt hơn.
TS.BS. Phạm Như Hùng (Viện Tim mạch Việt Nam)

Hội chứng rối loạn trương lực và cách điều trị

Hội chứng loạn trương lực (LTL) nguyên phát gây ra bởi bệnh của hệ thần kinh trung ương khởi phát từ các hạch nền (các nhân xám trong não).
LTL thứ phát xảy ra do một số các nguyên nhân: các yếu tố liên quan đến sinh đẻ, tác dụng phụ của thuốc nhất là thuốc an thần, nhiễm độc, di chứng bại não, di chứng viêm não hay viêm màng não, di chứng chấn thương sọ não, đột quỵ, bệnh thần kinh (bệnh Wilson, bệnh Segawa…). LTL có thể do các bệnh lý di truyền. Trường hợp không tìm thấy nguyên nhân được gọi là LTL vô căn.
Cơ chế gây bệnh chính: viêm các mạch máu gây ra hạn chế dòng máu đi tới các hạch nền.
Ngoài ra có các cơ chế khác như: tổn thương trực tiếp dây thần kinh do nhiễm khuẩn (vi khuẩn, siêu vi, nấm), nhiễm độc tố, hoặc do cơ chế tự miễn.
Chẩn đoán
Chẩn đoán LTL dựa vào:
Hỏi bệnh sử, tiền sử bản thân, gia đình.
Khám thần kinh và khám tổng quát.
Đánh giá tính chất của LTL, bao gồm:
- Tuổi khởi phát triệu chứng.
- Phân bố vùng cơ thể ảnh hưởng.
- Tiến triển của bệnh.
- Yếu tố ảnh hưởng lên tình trạng LTL
Tùy trường hợp phải cần đến hình ảnh học (đặc biệt là chụp hình cộng hưởng từ não bộ - MRI), điện cơ, điện não, xét nghiệm gen và các xét nghiệm máukhác…
Phân loại
LTL được phân loại căn cứ theo: các đặc điểm lâm sàng như: tuổi phát bệnh, vùng cơ thể bị, bản chất các triệu chứng, và các đặc điểm phối hợp; nguyên nhân (bao gồm các thay đổi hoặc tổn thương của hệ thần kinh và tính di truyền). Các thầy thuốc sử dụng cách phân loại này để hướng dẫn cho chẩn đoán và điều trị.
Các loại LTL căn cứ trên các vùng cơ thể bị ảnh hưởng bao gồm:
Toàn thể ảnh hưởng đến đa số các vùng hay toàn bộ cơ thể.
Khu trú hay cục bộ giới hạn ở một vùng của cơ thể:
- Mi mắt: co cơ vùng mắt làm hai mắt thường xuyên nhắm lại, khó mở.
- Hàm - miệng: co cơ vùng hàm-miệng gây cử động bất thường vùng này.
- Cổ: co cơ vùng cổ tạo tư thế cổ bất thương như vẹo cổ, gập hay ngửa cổ…
- Bàn tay viết: viết khó khăn dù rằng các động tác khác của tay có thể bình thường.
- Phát âm: phát âm khó khăn, ngắt quãng dù rằng khám tai mũi họng bình thường.
LTL nhiều vùng ảnh hưởng tới ≥ 2 vùng xa nhau và không liên quan với nhau của cơ thể.
LTL từng đoạn ảnh hưởng tới ≥ 2 vùng kế tiếp nhau của cơ thể.
LTL nửa người ảnh hưởng đến một tay và một chân cùng bên của cơ thể, thí dụ gặp sau đột quỵ.
Các yếu tố ảnh hưởng
LTL thường nặng lên hoặc thuyên giảm:
Khi người bệnh có những cử động đặc thù, ví dụ: khi viết gây ra LTL khu trú ở bàn tay người viết.
Khi người bệnh có những cử động không đặc hiệu, ví dụ: khi đi thấy rõ LTL ở cổ…
Khi mệt mỏi, lo lắng, stress…; giảm khi nghỉ ngơi, ngủ hoặc khi sờ vào vùng cơ bị ảnh hưởng.
Điều trị như thế nào?
Cho đến nay, chưa có phương pháp điều trị chữa khỏi chứng LTL.
Nếu tìm được nguyên nhân gây ra LTL, điều trị nguyên nhân sẽ giúp giảm triệu chứng bệnh.
Ngoài việc điều trị nguyên nhân, điều trị triệu chứng LTL sẽ hỗ trợ cải thiện tình trạng bệnh nhân, làm thuyên giảm sự tàn phế và tăng cường chất lượng sống của người bệnh (kể cả LTL vô căn hoặc có nguyên nhân).
Có 3 phương pháp chính điều trị LTL gồm: thuốc uống, tiêm botulinum toxin vào cơ bị LTL, và phẫu thuật.
Thuốc uống: một số thuốc uống có thể có hiệu quả ở bệnh nhân LTL như: Trihexyphenidyl, Levodopa, thuốc đồng vận Dopamine, Baclofen, Clonazepam… Tuy nhiên, hiệu quả thường thấp và tùy theo từng bệnh nhân cụ thể. Các thuốc này thường có tác dụng phụ nên khi điều trị cần có sự theo dõi kỹ của các bác sĩ.
Botulinum toxin: độc tố của vi trùng Clostridium botulinum và có tác dụng gây liệt cơ. Botulinum toxin đã được áp dụng lần đầu tiên tại Mỹ trong cuối thập niên 80 của thế kỷ XX để điều trị một số bệnh của cơ mắt và từ đó đến nay đã ngày càng được ứng dụng mở rộng cho nhiều loại bệnh LTL khác nhau. Các nghiên cứu ứng dụng botulinum toxin trong điều trị LTL đã cho thấy là nhóm thuốc này là có hiệu quả hơn hẳn các thuốc uống đã được dùng xưa nay cho nhóm bệnh này. Hơn thế nữa, botulinum toxin cũng là phương tiện điều trị an toàn một khi được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa về rối loạn vận động. Botulinum toxin A là loại thuốc điều trị thông dụng trên thế giới và ở Việt Nam và có tên biệt dược được biết rộng rãi là Dysport, Botox và Xeomin. Botulinum toxin B có tên biệt dược là Myobloc và Neuroloc.
Phẫu thuật: được chỉ định cho những trường hợp nặng không đáp ứng với điều trị thuốc. Các loại phẫu thuật có liên quan gồm cắt cơ bị ảnh hưởng, cắt dây thần kinh, phẫu thuật đốt nhân não hoặc kích thích não sâu. Hiện nay, phương pháp phẫu thuật kích thích não sâu đã được ứng dụng thành công ở Việt Nam trong điều trị một số trường hợp LTL toàn thể không đáp ứng với thuốc.
Tập vật lý trị liệu và phục hồi chức năng: cũng có hiệu quả một phần, đặc biệt khi phối hợp với 3 phương pháp điều trị đã nêu ở trên.
PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM
(Cố vấn BV. Quốc tế Minh Anh)

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Nguyên nhân nào gây ra bệnh động mạch vành?

Khi nói về các bệnh nhiễm, chúng ta có một lập luận: một vi khuẩn = một bệnh! Trong trường hợp bệnh động mạch vành, nhiều yếu tố phối hợp lại làm hư hại các động mạch của bạn.
Các yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy cơ tim mạch:
Yếu tố nguy cơ tim mạch đơn giản là một đặc điểm cá nhân khiến cho một ngày nào đó bạn dễ bị một tai biến tim mạch hơn.
Các yếu tố nguy cơ đã được nhận diện bởi các nghiên cứu dịch tễ. Các nghiên cứu này tìm hiểu lối sống (hút thuốc lá, thể thao, chế độ ăn…) và tình trạng sức khỏe (cân nặng, huyết áp, cholesterol) của rất nhiều người dựa vào bảng câu hỏi phỏng vấn và các khám nghiệm y khoa. Những người này sau đó được theo dõi trong nhiều năm để ghi nhận xem có điều gì xảy ra với họ.
Nguyên nhân nào gây ra bệnh động mạch vành?Nhánh động mạch vành trái bị tắc nghẽn
Kết quả của các nghiên cứu dịch tễ là thông tin chi tiết về tình trạng sức khỏe và lối sống của những người bị tai biến tim mạch. Người ta cũng tiến hành so sánh điều gì xảy ra cho những người hút thuốc so với những người không hút thuốc, cho người quá cân so với người mảnh mai…
Xét nghiệm lipid máu bao gồm nồng độ trong máu của 4 loại chất béo: cholesterol LDL (còn được biết dưới tên gọi là "cholesterol xấu"), cholesterol HDL (còn được biết dưới tên gọi là "cholesterol tốt"), cholesterol toàn phần và triglyceride. Khi nồng độ trong máu của các chất béo này bất thường, bác sĩ sẽ điều chỉnh chế độ ăn của bệnh nhân và cho bệnh nhân dùng thuốc, thường là sự giúp đỡ của một chuyên viên tiết thực.
Mảng xơ vữa:
Mảng xơ vữa là mảng lắng đọng chất béo (cholesterol). Đặc trưng của xơ vữa động mạch là sự kết hợp mảng vữa với sự xơ hóa.
Kết quả của sự kết hợp cholesterol, các tế bào và canxi là sự hình thành mảng xơ vữa động mạch ở thành động mạch. Các mảng này làm giảm thiết diện của các động mạch và làm cho các động mạch bị hẹp dần.
Mảng xơ vữa động mạch không phải bao giờ cũng phát triển từ từ, đôi khi nó có thể vỡ một cách đột ngột. Khi mảng xơ vữa ra quá trình động máu bị hoạt hóa. Quá trình này khởi đầu với sự tích tụ của các tiểu cầu là những tế bào máu đặc biệt nay tại chỗ vỡ.
Sau đó, các tiểu cầu và thành phần chất béo từ mảng xơ vữa có thể bị bong ra và gây tắc một động mạch có đường kính nhỏ hơn, tai biến này gọi là thuyên tắc mạch. Hoặc một cục máu đông có thể được tạo thành ngay chỗ mảng xơ vữa và đột ngột làm tắc nghẽn động mạch, tai biến này gọi là huyết khối. Sự hình thành các mảng xơ vữa động mạch là kết hợp mảng vữa với sự xơ hóa.
Các mảng xơ vữa động mạch, nhất là khi chúng bị vỡ, gây ra hầu hết các tai biến tim mạch, hoặc do hiện tượng tắc nghẽn động mạch nơi có mảng vữa hoặc do hiện tượng thuyên tắc một động mạch nhỏ hơn ở hạ lưu dòng máu. Tai biến có thể xảy ra ở một động mạch vành (hội chứng động mạch vành cấp), ở một động mạch não (tai biến mạch máu não dạng thiếu máu cục bộ) hoặc ở một động mạch chi (thiếu máu cục bộ cấp của chi).
Ai có khả năng bị bệnh mạch vành?
Hút thuốc lá: làm tăng đáng kể nguy cơ của bạn (không chỉ là nguy cơ bị một tai biến tim mạch mà cả nguy cơ bị ung thư phổi, ung thư miệng hoặc hầu, ung thư cổ tử cung hoặc ung thư bọng đái…).
Lối sống ít vận động thể lực: những người không vận động thể lực thường xuyên, ví dụ đi bộ nhanh ít nhất một lần mỗi tuần, có tuổi thọ ngắn hơn những người thường xuyên vận động thể lực.
Tăng cholesterol máu: nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh một cách thuyết phục tác động có hại của cholesterol. Nguy cơ bị các tai biến tim mạch tăng khi mức cholesterol trong máu cao hơn 1,8 - 2g/l.
Ở người lớn, nếu mức cholesterol trong máu cao hơn 10% trị số bình thường nguy cơ bị một tai biến tim mạch tăng 30%. Đôi khi cần phải làm một xét nghiệm lipid máu chi tiết chứ không dừng ở việc đo nồng độ cholesterol toàn phần. Việc diễn giải kết quả lipid máu chi tiết là một công việc phức tạp.
Ngoài ra, những người béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường… cũng có nguy cơ bệnh mạch vành.
Làm thế nào để phát hiện bệnh mạch vành?
Để biết cơn đau ngực của bạn có phải do bệnh động mạch vành hay không bác sĩ của bạn có thể làm thêm một số khám nghiệm bổ sung. Các khám nghiệm đơn giản nhất sẽ kiểm tra xem dấu hiệu thiếu máu cục bộ có lộ rõ hay không khi tim của bạn phải đáp ứng với một sự gắng sức thể lực.
Điện tim:
Nếu trước đây bệnh nhân chưa từng bị nhồi máu cơ tim, điện tim ghi ngoài cơn đau ngực thường là bình thường. Chỉ có trên điện tim ghi trong cơn đau ngực người bác sĩ tim mạch mới có thể thấy được những bất thường chứng tỏ sự hiện diện của thiếu máu cục bộ và vị trí thiếu máu cục bộ.
Nghiệm pháp gắng sức:
Nội dung của nghiệm pháp gắng sức là ghi điện tim khi đang gắng sức. Nghiệm pháp này được thực hiện trên một chiếc xe đạp gọi là xe đạp "đo năng lượng" (giống như một chiếc xe đạp luyện tập thể lực) hoặc trên một tấm thảm lăn có vận tốc lăn và độ dốc có thể điều chỉnh được. Cường độ gắng sức được tăng dần cho đến khi tần số tim của bạn đạt mức độ tối đa hoặc cho đến khi xuất hiện đau nhực hoặc xuất hiện các bất thường trên điện tim.
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Hoài Nam - Sức khỏe và Đời sống

Phòng bệnh tim bằng cách... đập lưng!

Việc đập lưng giúp cải thiện tuần hoàn máu, làm tăng cường chức năng hệ nội tiết và tiêu hoá, hỗ trợ hệ miễn dịch.

Chạy dọc theo hai bên cột sống của bạn là rất nhiều dây thần kinh và huyệt vị chi phối tứ chi và các cơ quan nội tạng. Ngoài ra còn có đường năng lượng chính hay kinh lạc chạy dọc lưng.
Túc thái dương bàng quang kinh toạ lạc ngay giữa đường lưng, là đường kinh mạch chính chứa đựng năng lượng dương của cơ thể, nguồn năng lượng chính của sự sống. Nhánh kinh bàng quang tách từ đường kinh trên đi dọc hai bên cột sống, là đường kinh dài nhất chứa nhiều huyệt nhất.
Kích thích những đường kinh này mỗi ngày sẽ giúp cải thiện tuần hoàn máu, làm tăng cường chức năng hệ nội tiết và tiêu hoá, hỗ trợ hệ miễn dịch.
Việc đập lưng giúp cải thiện tuần hoàn máu
Việc đập lưng giúp cải thiện tuần hoàn máu
Hướng dẫn
Đầu tiên đứng quay lưng về phía tường, cách tường 1 khoảng 6-8 inch (15-20 cm). Cơ thể thả lỏng, sau đó tự đập lưng bạn vào tường. Cứ mỗi giây đập một cái, mỗi lần đập vào tường hãy hô tiếng "A".
Đập lưng cần mạnh nhưng trong giới hạn sức chịu đựng, và lần lượt theo các vị trí của lưng: lưng trên, lưng dưới, ngang eo, vai trái, vai phải, sau đó là toàn bộ vai trái rồi vai phải. Cố gắng đập đều khắp lưng.
Đập lưng trên kích thích huyệt Phế du để chữa bệnh phổi, huyệt Tâm du chữa bệnh tim, huyệt Can du chữa bệnh gan, huyệt Đảm du chữa các vấn đề thận-niệu, huyệt tỳ du giúp điều hoà tụy.
Vỗ các huyệt vị bên vai trái và vai phải có thể giúp chữa đau đầu, các vấn đề của mặt mặt, đau cột sống cổ và cứng vai. Vỗ hai bên lưng giúp điều hoà nhịp thở và kích thích sinh năng lượng, trong khi vỗ các phần khác của lưng giúp điều trị bệnh ở cổ và vai.
Cường độ tăng dần
Lần đầu nên thực hành khoảng 5-10 phút và dần dần tăng bài tập lên 30 phút cho đến khi bạn cảm thấy có nhiệt ở lưng.
Thỉnh thoảng bạn sẽ trung tiện thành tiếng khi thực hành- đây là dấu hiệu tốt cho thấy hệ tiêu hoá và tuần hoàn bắt đầu được thanh lọc. Đây không chỉ đơn thuần là bài tập xoa bóp thư giãn mà còn giúp bạn có sức khoẻ tốt và tinh thần sung mãn.
Lưu ý
Người lớn tuổi không nên làm động tác này kéo dài hơn 3-5 phút. Những người bị bệnh tim nặng cũng không nên tập theo.
Một số ít người khi làm sẽ cảm thấy chóng mặt, khó chịu, đó là dấu hiệu bình thường cho thấy các kinh mạch đang được điều chỉnh. Những triệu chứng này có thể điều chỉnh bằng cách tập ngắn lại và lực yếu hơn.
Theo ND - Đất Việt

5 việc cần làm để huyết áp ổn định

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới. THA không chỉ ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà còn ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới. THA không chỉ ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà còn ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu. 
Tỷ lệ người bị bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện đang ở mức rất cao. Các biến chứng của THA thường rất nặng nề như tai biến mạch máu não (TBMMN), nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa... 
Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh THA trong cộng đồng như: tuổi cao, hút thuốc lá, uống nhiều rượu/bia, khẩu phần ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều chất béo), ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, tiền sử gia đình có người bị THA... Phần lớn những yếu tố nguy cơ này có thể kiểm soát được khi người dân có hiểu biết đúng và biết được cách phòng tránh.
Hiện nay còn khá nhiều người dân hiểu sai về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ của THA. Thực hiện lối sống lành mạnh, phù hợp là một biện pháp chính để phòng ngừa THA cũng như góp phần điều trị bệnh THA. Điều chỉnh lối sống bao gồm các vấn đề:
1. Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì
Tăng 5 - 10kg trọng lượng cơ thể so với cân nặng chuẩn sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện THA. Tăng cân trong thời gian dài là yếu tố nguy cơ (chiếm tới 48%) khả năng mắc bệnh. Trọng lượng cơ thể của mỗi người được theo dõi bằng chỉ số khối cơ thể (BMI - Body Mass Index): lấy cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m). 
Chỉ số khối cơ thể ở người Việt Nam khác với các dân tộc có tầm vóc to lớn, nếu con số này bằng hoặc lớn hơn 23 đã là thừa cân và trên 25 được coi là béo phì. Tốt nhất phải duy trì chỉ số khối cơ thể từ 18 - 22,9 tức là giữ trọng lượng cơ thể ở mức bình thường. Với người thừa cân hoặc béo phì, cứ giảm 10kg cân nặng sẽ làm giảm 5 - 10mmHg mức huyết áp tâm thu.
5 việc cần làm để huyết áp ổn định
2. Tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau, các thực phẩm ít chất béo, giảm ăn các loại mỡ bão hòa và mỡ toàn phần
Nên ăn 3 bữa một ngày với khẩu phần thức ăn cân đối. Khoảng một nửa thực phẩm là chất bột, rau xanh, trái cây. Không dùng nhiều mỡ động vật và chất ngọt. Cố gắng ăn các thức ăn có nhiều chất xơ hòa tan như: đậu xanh quả, đậu hạt các loại, măng, rau xanh,...
5 việc cần làm để huyết áp ổn định
Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân. Axit béo omega-3 trong cá và các loại hạt có tác dụng làm hạ cholesterol xấu, tăng lượng cholesterol tốt và giảm nguy cơ máu đông. 
Nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau đều cho thấy, chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lứt, bắp, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp. Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những axit mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột. 
Ăn nhiều rau quả giúp bảo đảm chế độ nhiều kali và ít natri là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc ổn định huyết áp. Ăn nhiều cá, hải sản, giảm các loại thịt đỏ và mỡ động vật. Các loại đậu, nhất là đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành với nhiều chất xơ, chất khoáng và những chất chống ôxy hóa là một nguồn chất đạm và chất béo lý tưởng cho phòng chống THA.
Với người đã bị THA thì tốt nhất là nên có ý thức ăn hơi nhạt.
3. Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và canxi
Nhu cầu muối ăn trung bình của một người khoảng 15g/ngày, trong đó có tới 10g sẵn có trong thực phẩm tự nhiên, vì vậy chỉ nên bổ sung thêm một thìa cà phê muối ăn/ngày là đủ. Ngoài việc giảm lượng muối trong khi nấu nướng, hạn chế dùng thêm muối hoặc nước chấm ở bàn ăn, cần cẩn thận với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao.
5 việc cần làm để huyết áp ổn định
4. Tăng cường hoạt động thể lực
Tăng hoạt động thể lực làm giảm béo phì, người sống tĩnh tại cần tập thể dục đều đặn ở mức vừa phải như đi bộ nhanh hoặc bơi lội trong vòng 30 - 45 phút, 3 - 4 lần/tuần. Các hoạt động thể dục này hiệu quả hơn chạy hoặc nhảy và có thể làm giảm huyết áp tâm thu từ 4 - 8mmHg.
5 việc cần làm để huyết áp ổn định
5. Bỏ thói quen xấu
Ngưng hút thuốc lá, thuốc lào là biện pháp hữu hiệu để phòng bệnh THA và các bệnh lý tim mạch.
5 việc cần làm để huyết áp ổn định
Bớt uống rượu: Có nhiều bằng chứng cho thấy có mối tương quan giữa uống rượu và tăng huyết áp trong cộng đồng. Uống nhiều rượu dễ làm THA.
Nên hạn chế tối đa các stress: Sống thanh thản, hòa nhập với cộng đồng, tránh lo âu hay căng thẳng, bực tức quá mức,...
Tóm lại, điều chỉnh lối sống để điều trị bệnh THA là việc hoàn toàn có thể thực hiện ở gia đình, là phương pháp không tốn kém và khả thi, giúp giảm được tỷ lệ người mắc bệnh THA và các biến cố tim mạch do THA.
Theo GS.TS Nguyễn Lân Việt - Sức khỏe và Đời sống

Tác hại do tăng mỡ máu và cách kiểm soát

Cholesterol, triglycerid là thành phần cơ bản của mỡ máu và có liên quan mật thiết đến thói quen ăn uống cũng như chế độ sinh hoạt của mỗi người, đặc biệt là người cao tuổi. Tác hại của tăng cholesterol và triglycerid máu gây ảnh hưởng xấu rất lớn đến sức khỏe của người cao tuổi. Làm thế nào và cách gì để hạn chế nguy cơ này?
Những thực phẩm giúp làm giảm mỡ máu: quả bơ, quả việt quất, các loại đậu, hạt hạnh nhân, yến mạch...
Nguồn gốc tạo nên cholesterol và triglycerid
Cholesterol là một chất béo có tên steroid có ở màng tế bào của tất cả các mô tổ chức trong cơ thể và được vận chuyển trong huyết tương của con người.
Phần lớn cholesterol không có nguồn gốc từ thức ăn mà được gan tổng hợp nên từ các chất béo bão hòa, một phần nhỏ cholesterol được hấp thu từ thức ăn như trứng, sữa, não, thịt đỏ, mỡ động vật, lòng lợn, lòng bò, tôm...
Đặc điểm của cholesterol kém tan trong nước, vì vậy, nó không thể tan và di chuyển trong máu mà phải nhờ vào lipoprotein (lipoprotein do gan tổng hợp và tan trong nước, do đó mang theo cholesterol).
Cholesterol rất cần cho sự hoạt động của màng các tế bào trong cơ thể, cần cho sự hoạt động của cơ thể để sản xuất một nội tiết tố và cũng là thành phần rất quan trọng của muối mật...Tuy vậy, khi dư thừa thì rất nguy hiểm cho sức khỏe.
Khi axit béo loại tự do được hấp thu qua gan sẽ được chuyển thành cholesterol, nếu lượng axit béo bị dư thừa thì sẽ trở thành triglycerid.
Tại gan, chất triglycerid sẽ kết hợp với chất apoprotein (do gan sản xuất) và được đưa ra khỏi gan dưới dạng lipoprotein có tỷ trọng thấp.
Khi có sự mất cân bằng giữa lipid vào gan và lipid ra khỏi gan thì mỡ sẽ tích lại trong gan gây nên gan nhiễm mỡ. Và khi gan bị nhiễm mỡ, sẽ hạn chế chức năng sản xuất chất apoprotein làm cho lượng axit béo vào gan quá lớn càng làm cho gan nhiễm mỡ nặng hơn. Và khi tăng quá cao triglycerid máu, lúc đó gan vừa bị nhiễm mỡ nặng vừa có nguy cơ gây viêm tụy cấp tính.
Khi nào được gọi là tăng cholesterol và triglycerid máu?
Qua các công trình nghiên cứu cho thấy, khi có một trong các chất sau đây không nằm trong giới hạn bình thường thì được gọi là tăng cholesterol hoặc triglycerid hoặc tăng cả 2 loại.
Khi triglycerid máu trên 1,88mmol/l được gọi là triglycerid cao. Còn khi tăng cả cholesterol và triglycerid thì được gọi là tăng mỡ máu hỗn hợp.
Những nguyên nhân gây tăng mỡ máu
Hay gặp nhất trong tăng cholesterol máu là do chế độ ăn không hợp lý như ăn nhiều mỡ, lòng và phủ tạng động vật, da gà, vịt, thịt đỏ, trứng (nhất là lòng đỏ trứng), sữa toàn phần, bơ trong các bữa ăn hàng ngày.
Tiếp đến là người béo phì, ngoài ra, có thể gặp do di truyền hoặc mắc một số bệnh về rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường.
Tăng triglycerid máu hay gặp nhất là do uống quá nhiều rượu, béo phì, di truyền, lười vận động hoặc rối loạn gen chuyển hóa...

Những nguyên nhân không ngờ có thể gây bệnh tim mạch

Thời tiết
Thời tiết thay đổi, thất thường cũng sẽ làm tăng số lượng tiểu cầu, hồng cầu, tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành hay tai biến mạch máu não. 
Khi nhiệt độ xuống thấp, người mắc bệnh tim mạch dễ bị hạ thân nhiệt do không có khả năng tạo đủ năng lượng để duy trì nhiệt độ bên trong cơ thể. Điều này có thể dẫn tới tử vong, chủ yếu là do suy tim.
Mặt khác, khi thời tiết thay đổi chuyển sang nắng nóng sẽ khiến cho lượng bệnh nhân tim mạch phải nhập viện tăng lên. Nguyên nhân là do thời tiết nóng làm tim phải gắng sức co bóp, gây quá tải, tình trạng suy tim tăng lên, có thể gây tử vong với người mắc bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, bệnh mạch vành…
Riêng với bệnh mạch vành, tim gắng sức làm tăng nhu cầu ôxy nên dễ gây thiếu máu cơ tim, gây ra triệu chứng đau thắt ngực, mệt, khó thở và gây nhồi máu cơ tim.
Không tiêm phòng bệnh cúm
Tiêm phòng cảm cúm sẽ có tác dụng làm giảm khả năng phát tác của các bệnh tim mạch. Ngoài ra, do thời tiết lạnh, động mạch thường co lại, làm huyết áp tăng lên, dễ gây bệnh tim mạch.
nhung-nguyen-nhan-khong-ngo-co-the-gay-benh-tim-machStress làm cho thần kinh tiết ra nhiều adrenalin làm tăng huyết áp dẫn tới tổn thương thành mạch
Stress
Có thể làm tăng nhịp tim và tăng huyết áp. Người bệnh tim mà liên tục chịu ảnh hưởng của stress thì tần số cơn đau thắt ngực tăng lên; stress làm cho thần kinh tiết ra nhiều adrenalin làm tăng huyết áp dẫn tới tổn thương thành mạch; làm tăng kết tập tiểu cầu tạo cục máu đông, dễ bị nhồi máu cơ tim.
"Yêu" bừa bãi
Các nhà nghiên cứu của Ý chỉ ra rằng, nam giới đã kết hôn nếu làm chuyện đó bừa bãi sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng cao.
Một trong những nguyên nhân là do những người này có cuộc sống gia đình không viên mãn, xuất hiện chứng trầm cảm, khiến nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng lên. Ngược lại, cuộc sống gia đình viên mãn, hạnh phúc sẽ rất có lợi cho sức khoẻ tim mạch của nam giới.
Ít uống nước trắng
Các nhà nghiên cứu Mỹ đã tiến hành điều tra hơn 2 vạn người khoẻ mạnh, cả nam và nữ. Kết quả cho thấy, những người mỗi ngày chỉ uống khoảng 2 ly nước có nguy cơ tử vong vì các bệnh liên quan đến tim mạch cao hơn nhiều so với những người mỗi ngày uống 5 ly nước.
Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, về cơ bản, việc uống không đủ nước cũng gây nguy hại cho sức khoẻ tim mạch tương đương với việc hút thuốc, và thiếu vận động.
Biện pháp làm giảm nguy cơ mắc bệnh
Muốn tránh nguy cơ bệnh tim mạch, cách tốt nhất là loại bỏ các yếu tố nguy cơ đã nêu trên, bao gồm: bỏ hút thuốc lá ngay tức thì bằng nghị lực chứ đừng suy tính giảm hút dần dần.
Giữ cân bằng cholesterol, cần giảm ăn chất béo có nguồn gốc động vật, ăn nhiều rau và trái cây các loại.
Giảm cân nặng chống béo phì bằng giảm khẩu phần ăn hằng ngày.
Tăng cường hoạt động thể lực như tập thể dục đều đặn, đi bộ, chơi một môn thể thao thích hợp…
Phòng và chữa tăng huyết áp; cân bằng đường huyết ở mức trung bình; tránh những cảm xúc bất lợi, những căng thẳng hằng ngày…
Theo Thanh Lê - Phunutoday.vn

5 nguyên tắc vàng với bệnh nhân tăng huyết áp

Bất cứ khi nào thấy các biểu hiện như mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, dị cảm, yếu chi, nói khó, đau tức ngực… đều phải kiểm tra ngay huyết áp xem có gì bất thường không.

Hậu quả của tăng huyết áp
THA được chia làm 3 cấp độ: tiền THA là khi huyết áp tâm thu giới hạn từ 120 - 139 mmHg và huyết áp tâm trương giới hạn từ 80 - 89 mmHg. Tăng HA giai đoạn 1 là khi HA tâm thu từ 140 - 159 mmHg và HA tâm trương từ 90 - 99 mmHg. Tăng HA giai đoạn 2 là khi HA tâm thu từ 160 mmHg và HA tâm trương từ trên 100 mmHg trở lên.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây tai biến mạch não với tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao. Bên cạnh đó, THA còn gây nhiều biến chứng như phồng tách động mạch chủ (động mạch lớn nhất cơ thể chạy từ ngực xuống bụng), biến chứng về mắt, biến chứng suy thận, nhồi máu cơ tim… nên kiểm soát huyết áp là mục tiêu phải đạt được ở một bệnh nhân bị THA. Trong quá trình theo dõi điều trị, để đạt được mục tiêu này, người bệnh cần chú ý một số điểm dưới đây.
Chế độ điều trị và theo dõi
5 nguyên tắc vàng với bệnh nhân tăng huyết áp
Cần tuân thủ đúng chế độ điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc. Uống thuốc đúng vào một giờ nhất định trong ngày vì có như vậy mới đảm bảo được nồng độ thuốc đều đặn có trong máu để kiểm soát tốt huyết áp. Uống đều đặn, tránh quên thuốc rồi lại uống "bù".
Lập một cuốn sổ theo dõi huyết áp hàng ngày hoặc cách ngày (nếu huyết áp ổn định thì có thể đo hàng tuần hoặc xa hơn). Ghi chép đầy đủ những cơn THA bất thường cũng như những phản ứng của cơ thể xuất hiện khi dùng thuốc hạ huyết áp như đau đầu, chóng mặt, phù mắt cá chân, ngứa, nổi ban…để thông báo cho thày thuốc điều chỉnh thuốc.
Không tự ý thay đổi thuốc, tự ý uống tăng liều thuốc hoặc uống các loại thuốc khác theo "kinh nghiệm" hoặc theo "đơn" của bệnh nhân khác bởi vì cùng là bệnh THA nhưng phương pháp và đáp ứng điều trị ở các đối tượng khác nhau sẽ khác nhau và không thể áp dụng đơn của người này cho người khác một cách tùy tiện được. Tuyệt đối không tự bỏ thuốc khi huyết áp đã về trị số bình thường mà không có ý kiến của thày thuốc chuyên khoa.
Ăn uống thế nào?
Người bệnh tăng huyết áp nên ăn nhiều rau xanh và quả tươi.
Người bệnh tăng huyết áp nên ăn nhiều rau xanh và quả tươi.
Ăn nhạt là một vấn đề hết sức quan trọng bởi vì chỉ cần ăn nhạt (lượng muối dưới 3g/ ngày - khoảng 1 thìa cà phê nhỏ gạt bằng) thì huyết áp có thể đã giảm được từ 20 - 30 mmHg. Ăn mặn là một thói quen rất khó bỏ, nhất là đối với những người làm việc nặng nhọc mất nhiều muối qua mồ hôi và thực tế cũng rất khó kiểm soát chặt chẽ lượng muối từ thức ăn đưa vào cơ thể vì vậy người bệnh tăng huyết áp hoặc người chăm sóc, nấu ăn cho người bệnh cần nêm nếm hợp lý.
Ăn ít mỡ, đường, các loại thịt đỏ xem ra có vẻ dễ thực hiện hơn cả. Một chế độ ăn nhiều rau xanh, quả tươi, ngũ cốc nguyên hạt cũng nên được áp dụng để góp phần duy trì một HA ổn định.
Rượu bia tuy không phải là nguyên nhân gây tăng HA nhưng lại là yếu tố nguy cơ hàng đầu trong việc khởi phát cơn THA cũng như các biến chứng do THA như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, gout, tăng triglyceride máu nên uống rượu bia càng ít càng tốt.
Thay đổi lối sống
5 nguyên tắc vàng với bệnh nhân tăng huyết áp
Tập luyện đều đặn và phù hợp với sức khỏe là rất quan trọng đối với người bị THA. Tập luyên giúp cho cơ thể khỏe mạnh, tăng tiêu thụ đường, giảm nguy cơ kháng insulin ở bệnh nhân tiểu đường có THA, giúp duy trì một HA ổn định hơn.
Bỏ thuốc lá là điều bắt buộc phải làm nếu như người đã bị THA không muốn tử vong nhanh do những tác hại của thuốc lá gây ra đối với cơ thể như xơ vữa động mạch. Một hệ thống động mạch đã luôn phải chịu áp lực cao (do HA cao) lại bị xơ vữa sẽ dễ dàng phình, tách và…vỡ gây xuất huyết não, vỡ phình động mạch chủ hết sức nguy hiểm.
Giữ cân bằng tâm lý bằng cách sống thoải mái, thư dãn, tránh căng thẳng lo âu cũng vô cùng hữu ích bởi vì những stress là nguyên nhân khiến cho cơ thể mệt mỏi, tim đập nhanh, huyết áp tăng cao.
Khám sức khỏe đều đặn
Có kế hoạch kiểm tra định kỳ những thông số cơ bản như điện tim, đường máu, mỡ máu, chức năng gan thận, acide uric 6 tháng hoặc 1 năm một lần tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu có rối loạn về các thông số trên, phải điều trị tốt để đưa về mức bình thường.
Dự phòng cấp hai
Đối với bệnh nhân THA đã bị tai biến mạch não, việc dự phòng cấp hai (sau khi đã bị tai biến) càng phải chặt chẽ hơn bao gồm: kiểm soát tốt huyết áp, mỡ máu, đường máu, acide uric; uống thuốc chống kết tập tiểu cầu…theo chỉ định của thày thuốc.
Đặt chế độ gọi khẩn cấp ở điện thoại di động để khi cần có thể liên lạc ngay với người thân hoặc bác sĩ đang theo dõi điều trị trong những tình huống khẩn cấp.
Theo TS.BS Vũ Đức Định - Sức khỏe và Đời sống

Thuốc tim mạch: Không được dùng bừa bãi

Khi bị cảm, ho, viêm họng, tiêu chảy, nôn ói..., nói chung là bệnh nhẹ, bạn có thể dùng thuốc vài ngày sẽ khỏi bệnh. Thế nhưng, với bệnh tim mạch thì khác.

Thuốc để chữa các bệnh tim mạch (gọi tắt là thuốc tim mạch) không thể uống một sớm một chiều trong thời gian ngắn để khỏi bệnh mà cần có quá trình điều trị lâu dài, công phu, với sự thận trọng đúng mực. Thậm chí, nhiều bệnh lý tim mạch đòi hỏi bạn phải dùng thuốc suốt đời, ví dụ như bệnh tăng huyết áp, suy tim...
Thuốc tim mạch được chia thành các nhóm: điều trị suy tim, điều trị tăng huyết áp, điều trị loạn nhịp tim, điều trị cơn đau thắt ngực...
Đối với thuốc tim mạch, cần lưu ý những điều sau:
Không tự ý mua để chữa trị
Một thực tế thường xảy ra là nhiều người thấy mình có vẻ bị bệnh tim mạch giống với một người nào đó nên tự ý mua thuốc như họ để uống mà không hề đi khám. Điều này hết sức nguy hiểm. Cần nhớ rằng việc dùng thuốc là cho từng cá thể và dùng phải hết sức tinh tế, không thể áp dụng một cách máy móc, lấy đơn thuốc người này cho người kia dùng, dùng không đúng sẽ xảy ra những sự cố đáng tiếc.
Tập thể dục với cường độ thích hợp là một trong những biện pháp giúp trái tim khỏe Ảnh: Hoàng Triều
Tập thể dục với cường độ thích hợp là một trong những biện pháp giúp trái tim khỏe Ảnh: Hoàng Triều
Nếu bệnh nhân tự ý mua thuốc uống mà không có sự đánh giá, theo dõi của bác sĩ thì có thể xảy ra một số điều không hay gọi là bị tai biến do thuốc. Ví dụ:
- Một số thuốc lợi tiểu: Nếu sử dụng tùy tiện có thể làm rối loạn điện giải gây vọp bẻ, mỏi cơ, thậm chí rối loạn chuyển hóa mỡ.
- Thuốc trợ tim (digital): Tự ý dùng mà không có sự đánh giá, chỉnh liều của bác sĩ có thể dẫn đến ngộ độc, loạn nhịp tim.
- Thuốc hạ áp: Nếu dùng không đúng cách, quá liều có thể gây tụt huyết áp, dẫn đến nhiều hậu quả không hay.
- Thuốc chống đông dùng trong một số bệnh tim mạch (rung nhĩ, bệnh nhân có bệnh van tim đã được thay van nhân tạo...): Nếu không được bác sĩ theo dõi có thể gây rối loạn đông máu, chảy máu, xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết ngoài da, xuất huyết não.
Phải có chỉ định, theo dõi của bác sĩ
Chỉ có bác sĩ mới nắm vững tính năng của thuốc, cũng như qua khám bệnh trực tiếp sẽ lựa chọn thuốc thích hợp và hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc dùng. Ví dụ, đối với bệnh tăng huyết áp (THA), sự lựa chọn thuốc trị THA sẽ tùy thuộc vào: yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, có sự tổn thương các cơ quan (như suy thận, suy tim, dày thất trái...), có kèm bệnh đái tháo đường... Đặc biệt, đối với việc dùng thuốc trị THA, bác sĩ sẽ giúp tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trước hết, dùng liều thấp ban đầu và tăng liều dần dần với chỉ 1 loại thuốc. Nếu không hiệu quả, mới kết hợp 2 loại thuốc. Nếu thuốc được chọn đầu tiên có hiệu quả kém và nhiều tác dụng phụ thì đổi nhóm thuốc khác, không cần tăng liều hoặc kết hợp loại thuốc thứ hai.
Không tự ý ngưng thuốc
Nhiều người bị THA, sau một thời gian điều trị, huyết áp trở về bình thường. Họ cho rằng mình đã khỏi bệnh và tự ý ngưng thuốc. Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Khi huyết áp của bạn về bình thường có nghĩa là huyết áp đang được kiểm soát tốt bởi chế độ dùng thuốc. 
Vì vậy, bạn cần điều trị duy trì với liều lượng thích hợp mà không tự ý ngưng dùng. Nếu được, bạn nên tái khám và ngõ ý muốn ngưng thuốc với bác sĩ đang điều trị cho mình. Thông thường, bác sĩ không cho ngưng thuốc mà có thể điều chỉnh chế độ dùng thuốc của bạn. Tự bạn không thể quyết định được loại thuốc, liều lượng và thời gian dùng trong sự điều chỉnh này. 
Chỉ bác sĩ mới có thể điều chỉnh liều thuốc thấp nhất, an toàn nhất và hiệu quả nhất. Phải có chương trình theo dõi, tái khám với bác sĩ tim mạch thì trái tim bạn mới được chăm sóc một cách cẩn thận và hiệu quả nhất.
Không tự ý đổi thuốc
Lấy trường hợp một bệnh tim mạch phổ biến là THA. Thuốc trị THA có nhiều loại (hiện có 7 nhóm thuốc và mỗi nhóm có cả chục loại thuốc) nên vấn đề sử dụng khá phức tạp. Chỉ bác sĩ điều trị mới là người có thẩm quyền chỉ định, hướng dẫn dùng thuốc an toàn và hiệu quả. Đặc biệt, bác sĩ sẽ là người quyết định có nên thay thuốc điều trị bấy lâu nay bằng một thuốc mới hay không. 
Mọi sự thay đổi về dùng thuốc phải hỏi ý kiến của bác sĩ và thay đổi như thế nào là thuộc thẩm quyền của bác sĩ điều trị. Bệnh nhân không được tự ý thay đổi thuốc vì việc làm này rất nguy hiểm, dùng không đúng sẽ bị độc hại do thuốc hoặc bệnh THA nặng hơn đến mức nguy hiểm.
Một số biện pháp khác
Song song với chế độ điều trị dùng thuốc, hầu hết các bệnh nhân tim mạch cần phải thay đổi, điều chỉnh lối sống, chế độ làm việc sao cho bớt stress; nên tập thể dục với cường độ thích hợp, ngưng hút thuốc lá, chế độ ăn giảm muối, giảm chất béo... Nếu bạn ỷ lại vào thuốc tim mạch mà ăn uống thoải mái, không kiêng cữ, có chế độ ăn quá mặn thì thuốc sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn.
Tóm lại, một chế độ sinh hoạt, ăn uống đúng mực, một tinh thần lạc quan, một chế độ dùng thuốc và tái khám nghiêm túc sẽ giúp bạn kiểm soát được bệnh tim mạch một cách chủ động và tối ưu nhất. n
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Đức - Người lao động

Tim khỏe nhờ ăn quả bơ mỗi ngày

Một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí American Heart Association cho biết, ăn một quả bơ mỗi ngày có thể giảm đáng kể lượng cholesterol xấu trong máu, giúp giảm nguy cơ bị đau tim.


Ảnh: flickr.com
Theo đó, các nhà khoa học thuộc trường ĐH bang Pennsylvania (Mỹ) đã tiến hành khảo sát ở 45 tình nguyện viên thừa cân nhưng vẫn khỏe mạnh từ 21 - 70 tuổi. Tất cả đều thực hiện theo ba chế độ ăn uống giúp làm giảm cholesterol trong 5 tuần lễ. 
Cụ thể là chế độ ăn uống ít chất béo mà không bơ, chế độ ăn uống vừa phải chất béo mà không bơ, và chế độ ăn vừa phải chất béo với một quả bơ mỗi ngày.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người có bổ sung quả bơ trong chế độ ăn uống mỗi ngày đều có chỉ số cholesterol LDL trong máu thấp hơn các chế độ ăn uống không bơ rất đáng kể.
Mức cholesterol LDL trong máu cao là một trong những nguyên nhân chính gây tắc nghẽn mạch máu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình vận chuyển ôxy nuôi dưỡng các cơ quan nội tạng, đặc biệt là làm tổn thương các bộ phận quan trọng trong cơ thể như tim và não.
Ảnh: flickr.com
TS Kris-Etherton - dẫn đầu nhóm nghiên cứu, đồng thời cũng là giáo sư dinh dưỡng tại Đại học bang Pennsylvania (Mỹ) cho biết: "Đây là một nghiên cứu có ích và cần được tập trung nghiên cứu thêm để tìm ra một chế độ ăn uống lành mạnh có thể giúp tim khỏe hơn nhờ ăn bơ và các nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng khác".
Theo Đình Huệ - Phụ nữ TPHCM

4 bệnh lý tim mạch mẹ bầu dễ mắc

4 benh ly tim mach me bau de mac
Đôi khi mang thai cũng dẫn đến bệnh lý tim mạch và gây nguy hiểm cho cả mẹ và con.Ảnh minh họa.

Ở người phụ nữ có thai xuất hiện các biến đổi của tim (tăng nhịp tim lên 10-15 nhịp/phút, tăng cung lượng tim lên 30-40%) và mạch máu (tăng thể tích tuần hoàn lên 40-50%). Chúng làm tăng công cơ tim và tăng gánh nặng cho sản phụ. Các biến đổi này là bình thường đảm bảo thai nhi được cung cấp đầy đủ oxy và chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, đôi khi mang thai cũng dẫn đến bệnh lý tim mạch và gây nguy hiểm cho cả mẹ và con.
Bệnh cơ tim chu sản: Bệnh tuy ít gặp nhưng thường gây tình trạng suy tim tiến triển trong tháng cuối của thai kỳ hoặc trong vòng 5 tháng sau khi đẻ. Nguyên nhân của bệnh còn chưa rõ ràng. Phụ nữ có bệnh cơ tim chu sản sẽ biểu hiện các triệu chứng của suy tim. 

Sau khi đẻ, kích thước và chức năng tim trở về bình thường, mặc dù một số người vẫn còn triệu chứng, kèm theo chức năng thất trái giảm. Phụ nữ bệnh cơ tim chu sản sẽ tăng nguy cơ biến chứng trong những lần mang thai tiếp theo.
Tăng huyết áp do thai nghén: Khoảng 6 - 8% phụ nữ có tăng huyết áp trong khi mang thai. Tăng huyết áp do mang thai liên quan đến tiền sản giật và nhiễm độc thai nghén. Các đặc điểm đặc trưng của nó là huyết áp cao, phù do ứ nước và protein niệu. Tăng huyết áp do mang thai có thể nguy hiểm cho mẹ và thai nhi. 

Những người bị tăng huyết áp ở lần mang thai đầu có nguy cơ cao bị tăng huyết áp ở lần mang thai sau và còn có nguy cơ bị tăng huyết áp và đột quỵ sau này. Những người bị tiền sản giật hoặc chậm phát triển bào thai trong buồng tử cung sẽ tăng nguy cơ bị bệnh và nguy cơ tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ.
Tiếng thổi ở tim ở phụ nữ có thai: Đôi khi, có thể gặp một tiếng thổi ở tim, như là hệ quả của tình trạng tăng lưu lượng máu khi mang thai. Nói chung, tiếng thổi này lành tính. Tuy nhiên, nó cũng có thể là biểu hiện của bệnh van tim. Hãy đi khám bác sĩ để xác định căn nguyên của tiếng thổi này.
Rối loạn nhịp tim: Hay gặp nhịp tim bất thường (rối loạn nhịp tim) trong quá trình mang thai. Các rối loạn nhịp có thể được phát hiện lần đầu khi mang thai ở phụ nữ không có bệnh tim, hoặc là hậu quả của bệnh lý tim mạch sẵn có. Hầu hết các trường hợp không biểu hiện triệu chứng và không cần điều trị. Nếu triệu chứng tiến triển, bác sĩ có thể làm một số xét nghiệm để xác định nguyên nhân gây rối loạn nhịp.
Lưu ý: Khi mắc bệnh tim mạch, trong quá trình mang thai, người mẹ cần tiếp tục chế độ ăn có lợi cho hệ tim mạch. Tập thể dục đều đặn theo lời khuyên của bác sĩ tim mạch. Bên cạnh việc khám thai định kỳ, thai phụ cần đều đặn đến khám bác sĩ tim mạch và tuân thủ những chỉ dẫn của thầy thuốc.

Theo PGS.TS Phạm Mạnh Hùng - Kiến thức

Cách phòng trị cao huyết áp do nắng nóng

Nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp trong mùa nắng nóng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Vào mùa hè, sự bài tiết mồ hôi gia tăng, quá trình trao đổi chất của cơ thể cũng được đẩy mạnh. Cơ thể bị mất một lượng nước khá lớn sẽ khiến nồng độ máu giảm, độ kết dính trong máu tăng cao, dễ dẫn đến những bệnh lý có liên quan đến máu, làm tăng tỷ lệ nguy cơ cho tim và não.
Cách phòng trị cao huyết áp do nắng nóng.Cách phòng trị cao huyết áp do nắng nóng.
Cũng giống như bệnh tim, người mắc bệnh cao huyết áp trong mùa hè nếu ngủ không ngon giấc, sẽ xuất hiện hiện tượng ban đêm huyết áp tăng làm tổn hại tim mạch.
Cách phòng trị bệnh cao huyết áp trong mùa nắng nóng
Tăng huyết áp nếu không phát hiện sớm, điều trị đúng thì có thể để lại những hậu quả xấu cho người bệnh. Đặc biệt, thời tiết nắng nóng, người bệnh cần hết sức thận trọng để phòng ngừa những biến chứng do tăng huyết áp.
Khi thời tiết nắng nóng, người đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp không nên hoạt động nhiều ngoài trời để đề phòng giãn mạch quá mức dẫn đến tụt huyết áp.
Tuyệt đối không tự động bỏ thuốc hoặc thay đổi thuốc hay nghe theo sự mách bảo của người khác hoặc dùng đơn thuốc của bệnh nhân khác để điều trị cho mình bởi vì thuốc điều trị hạ huyết áp có nhiều nhóm khác nhau, mỗi một nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau và có thể nhóm thuốc này phù hợp với người này nhưng không phù hợp với người kia.
Người có bệnh cao huyết áp nên uống nhiều nước và uống đều đặn, không nên đợi đến lúc khát mới uống, để giảm được độ kết dính trong máu, thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể đồng thời tạo thói quen uống 1 ly nước sau khi thức dậy vào buổi sáng và 1 ly trước lúc đi ngủ ban đêm.
Nên lưu ý là điều trị tăng huyết áp cần phối hợp giữa thuốc, chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng một cách hợp lý mới đưa lại hiệu quả cao.

Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam

10 nguyên nhân làm tăng huyết áp

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh về tim mạch ảnh hưởng đến khoảng 80% dân số sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Nguyên nhân chính của căn bệnh gây tử vong cao này là do cao huyết áp. Dưới đây là 10 nguyên nhân hàng đầu khiến bạn bị tăng huyết áp, bạn cần biết để phòng tránh:
Tuổi tác
Khi bạn càng nhiều tuổi, bạn càng có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao. Những người cao tuổi có nguy cơ cao tăng chỉ số huyết áp tâm thu. Nguy cơ này là do xơ cứng động mạch.
Di truyền
Nếu bạn có tiền sử gia đình bị cholesterol tăng thì bạn cần cảnh giác. Dạng cao huyết áp do di truyền có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe đối với người trẻ tuổi.
highbloodpressure-1532-1429576589.jpg
Ảnh minh họa: Doctormurray.com.
Giới tính
Nam giới được cho là có nguy cơ lớn hơn bị huyết áp cao so với nữ giới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa phụ nữ không cần lo lắng. Vì vậy hãy duy trì thói quen sống và ăn uống lành mạnh.
Thừa cân
Thừa cân hoặc béo phì có thể là một trong những nguyên nhân hàng đầu của huyết áp cao nhưng có sự khác nhau ở mỗi người. Những người tích trữ nhiều mỡ ở bụng, mông và đùi có nguy cơ cao hơn bị huyết áp cao. Vì vậy hãy duy trì cân nặng.
Ăn mặn
Một số người bị nhạy cảm với muối hoặc natri, điều này khiến cho họ bị tăng huyết áp. Nếu bạn nằm trong số này thì lựa chọn an toàn duy nhất là giảm lượng muối tiêu thụ. Bạn phải rất thận trọng khi sử dụng muối để chế biến thức ăn và đọc kỹ nhãn mác của bất cứ loại thực phẩm chế biến sẵn nào. Thức ăn nhanh có hàm lượng muối cao vì vậy bạn nên hạn chế những loại thức ăn này.
Uống rượu
Nếu bạn bị say chỉ với 2 cốc rượu thì đó là dấu hiệu cho thấy bạn nên ngừng uống. Uống nhiều rượu có hại cho sức khỏe cũng như huyết áp của bạn. Do đó, hãy tránh uống nhiều rượu để duy trì huyết áp ổn định.
Cuộc sống căng thẳng
Cuộc sống của bạn bị căng thẳng thường xuyên do công việc hoặc các nguyên nhân khác, đây là lý do có thể khiến huyết áp của bạn bị tăng lên. Hãy giải tỏa mọi căng thẳng, giữ sự bình tĩnh và thư giãn chính bạn.
Tránh thai
Trong một nghiên cứu gần đây, người ta thấy rằng sử dụng thường xuyên thuốc tránh thai làm tăng nguy cơ bị huyết áp cao.
Lối sống lười vận động
Lối sống lười vận động không chỉ khiến vòng bụng của bạn to ra mà còn khiến bạn có nguy cơ cao bị tăng huyết áp. Vì vậy hãy tăng cường vận động dưới bất cứ hình thức nào mà bạn thích, có thể là tập một môn thể thao hoặc đi bộ tới chỗ làm. 
Lý do mà hoạt động thể chất có thể làm giảm nguy cơ tăng huyết áp của bạn là vì vận động sẽ giúp bạn lưu thông mạch máu, duy trì áp suất trong tĩnh mạch và động mạch trong giới hạn bình thường.
Một số loại thuốc
Một số loại thuốc được sử dụng để điều trị các triệu chứng cảm lạnh hoặc dị ứng có thể làm tăng huyết áp của bạn. Do đó, hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất cứ loại thuốc nào và cho bác sĩ biết về tiền sử bệnh của bạn để tránh các biến chứng.
Theo Hải Ngân - VnExpress

Ăn ngoài làm tăng nguy cơ mắc chứng cao huyết áp

Theo Huffingtonpost, kể cả với người trẻ tuổi, việc ăn các thức ăn bên ngoài ở các nhà hàng, quán ăn sẽ làm tăng nguy cơ mắc chứng cao huyết áp.


an-ngoai-lam-tang-nguy-co-mac-chung-cao-huyet-apHình minh họa
Để tiến hành nghiên cứu, các nhà nghiên cứu tại ĐH Y Singapore đã mời 500 sinh viên khỏe mạnh ở độ tuổi 18-40 tham gia và thu thập các dữ liệu về các hoạt động thể chất, thói quen ăn uống, chỉ số cân nặng và huyết áp của họ.
Kết quả sau khảo sát cho thấy, 27,4% số sinh viên mắc chứng tiền cao huyết áp và 2,2% mắc chứng cao huyết áp. Và dĩ nhiên, chứng cao huyết áp này hoàn toàn có liên quan đến việc chỉ số cân nặng lớn, tuổi cao và ít vận động.
Tuy nhiên, điều gây ngạc nhiên cho các nhà nghiên cứu đó là hầu hết tất cả các sinh viên mắc bệnh này đều có thói quen ăn ngoài thường xuyên.
Theo các chuyên gia, mỗi bữa ăn bên ngoài sẽ làm tăng 6% nguy cơ bị cao huyết áp và mức độ này sẽ tăng cùng với tuổi tác. Vì vậy, các nhà nghiên cứu khuyến cáo chúng ta nên gia tăng các bữa ăn nấu tại nhà và hạn chế việc ăn bên ngoài.
Theo Thanh Minh - Sức khỏe gia đình