Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Thực phẩm tốt cho người cao huyết áp

Lối sống lành mạnh cùng chế độ dinh dưỡng đúng đắn có thể giúp bạn kiểm soát chứng cao huyết áp.

Huyết áp cao là một trong những bệnh phổ biến nhất. Một số người khi mới chớm bệnh có thể bị đau đầu, hoa mắt, chóng mặt hoặc chảy máu cam. Tuy nhiên, những dấu hiệu và triệu chứng thông thường không xuất hiện cho đến khi huyết áp đã tăng cao, thậm chí có thể đe dọa đến tính mạng.

Huyết áp bình thường là 120/80, chỉ số 120 là huyết áp tâm thu và 80 là huyết áp của tâm trương. Chỉ số của tâm thu cao hơn 140mm Hg và chỉ số tâm trương từ 90mm Hg trở lên được cho là cao.
Huyết áp cao có thể xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân như: di truyền, do gen, do chế độ ăn uống có nhiều muối, không hoạt động, béo phì, sử dụng chất cồn quá mức, chế độ ăn thiếu kali.

Những lưu ý trong chế độ ăn

Lối sống lành mạnh cùng chế độ dinh dưỡng đúng đắn có thể giúp bạn kiểm soát chứng cao huyết áp. Hãy áp dụng một số bí quyết sau:

- Chế độ ăn chay sẽ giúp giảm mức huyết áp đồng thời hạn chế nguy cơ mắc phải chứng cao huyết áp cũng như những căn bệnh về tim mạch khác.
 
Các chuyên gia công nhận rằng chế độ ăn chay điển hình có chứa nhiều kali, hợp chất tinh bột, các chất béo đơn không no, chất xơ, canxi, magiê, viatmin C và A. Đây đều là những chất có ảnh hưởng tốt tới huyết áp.

- Ăn nhiều rau tươi hoặc đông lạnh thay vì chọn những loại rau, củ đóng hộp. Nếu buộc phải dùng đồ hộp, bạn nên rửa chúng dưới vòi nước trong vòng 2-3 phút trước khi chế biến. Đây là cách nhằm loại bỏ bớt lượng muối trong thực phẩm đóng hộp (đôi khi lên tới 40%).

- Một chế độ ăn giàu chất xơ cũng đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc ngăn ngừa và điều trị nhiều loại bệnh về tim mạch, trong đó có chứng cao huyết áp.

- Đọc kỹ những thông tin trên bao bì của thực phẩm để tìm hiểu về hàm lượng muối trong những loại thực phẩm chế biến và đóng gói sẵn. Hãy chọn những sản phẩm ít muối hoặc có ít muối.
- Khi đi ăn bên ngoài, bạn cũng có thể yêu cầu người bán đừng cho muối vào khẩu phần của mình.

- Hãy giảm cân vì điều này sẽ giúp huyết áp hạ thấp xuống. Để giảm bớt lượng calo từ chất béo, bạn nên chọn những sản phẩm không béo hoặc ít béo.

- Xây dựng một chế độ ăn với những thực phẩm giàu kali (bao gồm các loại rau xanh và trái cây) và những a-xít béo thiết yếu. Lượng kali cung cấp cho cơ thể mỗi ngày phải được khoảng 7g. Ngoài ra, cần hạn chế các chất béo bão hòa, đường và muối trong chế độ ăn uống.
 
Thông thường, chế độ ăn với những thực phẩm thô, nhiều rau xanh và những thành viên của gia đình các loại rau củ có họ hành, tỏi luôn được khuyến khích đối với những người đang bị cao huyết áp.

- Cung cấp đủ canxi cho cơ thể bằng cách tăng cường những sản phẩm từ sữa ít béo trong chế độ ăn với khoảng 3 lần mỗi ngày.

Ngoài ra, một số loại rau xanh và gia vị thường gặp dưới đây có những ảnh hưởng tích cực trong việc kiểm soát mức huyết áp.
1. Cần tây

Y học phương Đông đã sử dụng cần tây để điều trị chứng cao huyết áp. Các kết quả thí nghiệm cũng đã chứng minh công dụng hạ huyết áp của loại rau này. Ăn vài nhánh cần tây mỗi ngày cũng có lợi cho việc hạ huyết áp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý cần tây chứa natri và những hợp chất khác có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực khi ăn quá nhiều.

2. Tỏi

Tỏi là một loại thuốc kỳ diệu dành cho trái tim. Loại gia vị nặng mùi này mang lại nhiều lợi ích cho hệ thống tim mạch, bao gồm cả huyết áp. Theo một nghiên cứu trước đây, những người bị cao huyết áp nếu ăn một nhánh tỏi mỗi ngày trong vòng 12 tuần, huyết áp tâm trương và mức cholesterol đã giảm đáng kể. Ăn một ít tỏi mỗi ngày (khoảng 1 nhánh) sẽ giúp kiểm soát huyết áp ổn định.

3. Hành

Hành cũng là một loại gia vị có ích đối với chứng cao huyết áp. Dùng 2-3 muỗng canh tinh dầu hành mỗi ngày sẽ giúp hạ huyết áp tâm thu xuống trung bình khoảng 25% và huyết áp tâm trương xuống 15% ở những bệnh nhân bị huyết áp cao. Điều này cũng không gây ngạc nhiên lớn bởi vì hành cũng là một loại gia vị có họ hàng với tỏi.

4. Cà chua

Trong quả cà chua có nhiều axít gamma-amino butyric (GABA). Đây là một hợp chất có thể giúp giảm huyết áp.

5. Bông cải xanh

Glucoraphanin, còn được biết đến với tên gọi là sulforaphane glucosinolate (SGS), một hợp chất tự nhiên có trong bông cải xanh, có khả năng hạn chế nguy cơ của chứng huyết áp cao, bệnh về tim mạch cũng như các cơn đột quỵ.
6. Cà rốt

Cà rốt giàu kali, chất có khả năng ngăn ngừa và kiểm soát huyết áp. Loại củ này còn có khá nhiều beta-carotene, dưỡng chất đã được chứng minh là có thể làm giảm nguy cơ của bệnh tim, vốn là nguyên nhân dẫn đến huyết áp tăng cao. Nước ép cà rốt còn giúp duy trì mức huyết áp bình thường và ổn định bằng cách điều chỉnh chức năng của tim và thận. Liều lượng tiêu chuẩn là 240 ml cho hỗn hợp gồm nước ép từ cần tây, cà rốt và một lượng nước tương đương. Uống loại nước này mỗi ngày 1 lần.

7. Nghệ tây

Nghệ tây có chứa một chất hóa học có tên là crocetin, có công dụng hạ huyết áp. Bạn có thể dùng nghệ tây trong quá trình nấu nướng, chế biến món ăn hoặc dùng làm trà. Ngoài ra, cũng có thể cho nghệ tây vào loại trà vẫn uống. Điều bất tiện duy nhất là loại gia vị này khá đắt tiền.

8. Gia vị

Trong một số loại gia vị như thì là, tiêu đen và húng quế có những thành phần được đánh giá là có ích cho những người đang bị cao huyết áp. Do đó, bạn hãy chú ý sử dụng thêm nhiều loại gia vị này trong quá trình nấu nướng, chế biến món ăn mỗi ngày.

Theo Phụ nữ TPHCM

Khoai tây giúp giảm huyết áp

Qua nhiều cuộc thử nghiệm, các chuyên gia nghiên cứu dinh dưỡng cho biết dùng vài củ khoai tây mỗi ngày không làm bạn tăng cân mà còn giúp giảm huyết áp.

Joe Vinson, giáo sư hóa học Đại học Scranton ở Pennsylvania phân tích, những bệnh nhân ăn 6-8 củ khoai tây nhỏ 2 lần/ngày trong một tháng, kết quả cho thấy, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương của họ đã giảm đáng kể.
Hầu hết các bệnh nhân tham gia cuộc thử nghiệm là những người thừa cân hoặc béo phì. Nhiều người đã dùng thuốc hạ huyết áp cao trong thời gian nghiên cứu. Giáo sư Vinson đã chỉ ra rằng khoai tây là một thực phẩm tốt cho sức khỏe khi chúng không ở dưới dạng khoai tây chiên, hoặc phủ trên bề mặt hàm lượng chất béo cao như pho mát và kem chua.
Theo ông, khoai tây màu tím cũng như khoai tây có da màu đỏ hoặc màu vàng đều chứa hàm lượng cao chất chống oxy hóa.
“Mọi người thường nghĩ rằng khoai tây chỉ là một loại củ giàu tinh bột và không có gì khác nữa - giáo sư Vinson giải thích - thế nhưng khoai tây là một loại thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng. Tôi rất ngạc nhiên khi một tỷ lệ rất lớn những người tham gia đã dùng thuốc, còn chúng tôi chỉ sử dụng khoai tây cho bệnh nhân nhưng kết quả cho thấy họ vẫn giảm huyết áp”.
Lona Sandon, một phát ngôn viên của Hiệp hội Dinh dưỡng Hoa Kỳ cũng cho biết: "Khoai tây là cây lương thực rất tốt cho sức khỏe. Chúng rất ít chất béo, ít calories và còn bổ sung chất dinh dưỡng giúp làn da tươi mịn”.
                                    
    Theo Lưu Ly - Phụ nữ TPHCM

Cá khô: Đòn bẩy cho bệnh cao huyết áp

Muối ăn nếu không chiếm hạng nhì sau cholesterol trên bảng “phong thần” các chất sinh bệnh thì cũng huy chương… đồng.

Nguồn bệnh đến, nhiều khi chỉ qua bữa cơm quen thuộc: Cơm trắng cá khô!
Ảnh minh họa
 
Lạm dụng gia vị nào cũng bất lợi

Lệnh “ăn lạt tuyệt đối” là chuyện rất dễ nói của thầy thuốc, nhất là khi chữa bệnh tim mạch đã lâu nhưng trật tới vuột lui. Khó cho người bệnh là làm sao tuân thủ y lệnh ngày này qua tháng khác, nhất là khi nhiều người xứ mình tuy không “thêm mắm dặm muối” nhưng nuốt không trôi món lờ lợ, nói chi đến món nhạt thếch!

Vì vậy, ăn mặn sao cho đúng cách để người chưa bệnh đừng bị bệnh về sau, để người đã bệnh đừng trở nặng.

Tuy nhiên, nếu tưởng né được muối ăn đồng nghĩa với tránh bệnh thì lầm. Bằng chứng là không ít người đang kiêng cữ ăn mặn kịch liệt, nhưng vẫn có mặt thường lệ ở phòng khám vì cao huyết áp. Không có gì khó hiểu khi 1g muối ăn giữ đến 100g nước trong cơ thể.

Nhưng đừng vì thế mà đổ hết lỗi cho muối ăn. Nếu thuốc tốt trở thành thuốc độc vì dùng sai liều lượng thì không riêng gì muối ăn, lạm dụng gia vị nào cũng bất lợi cho sức khỏe.

Cũng chính vì thế mà cần xem lại thói quen chỉ ăn cơm trắng với cá khô. Nhiều người vẫn tưởng lùa cả chén cơm với miếng khô nhỏ xíu thì nhằm nhò gì chuyện thừa muối. Không đơn giản như thế.

Đừng quên lượng muối đưa vào cơ thể không tương xứng với lượng muối nêm thêm trong bữa ăn. Lượng muối rắc thêm cho vừa miệng thường không cao bằng lượng muối dùng để bảo quản thực phẩm hay có sẵn trong món ăn trước đó được ngâm, được luộc trong nước có bỏ muối, hay được ướp muối nhiều lần để phơi khô.

Món cá khô ở xứ mình vì thế là đòn bẩy cho bệnh cao huyết áp. Đó là chưa kể đến người dùng thêm canh nấu với mấy muỗng bột nêm. Ít ai ngờ là lượng muối ăn trong bột nêm thừa sức để “đời cha húp canh, đời con khát nước”!

Nạn nhân đồng thời là thủ phạm

Bên cạnh đó, người mạnh miệng, hay nói đúng hơn, quen miệng với cơm trắng cá khô thường có vài thói quen tiếp tay cho bệnh cao huyết áp, như: Uống không đủ nước trong và sau bữa ăn nhiều mắm muối để nhờ nước pha loãng độ mặn; 

Không nhai thật kỹ miếng khô nên chưa tận dụng được vị mặn núp kín trong khô; Chưa được hướng dẫn “mánh” ức chế hoạt tính giữ nước của natri trong muối ăn bằng tính chất lợi tiểu của kalium trong rau quả tươi, như chuối, bưởi, rau dền…

Đừng quên là natri trong muối ăn đồng thời giữ vai trò quan trọng trong tiến trình hấp thu chất dinh dưỡng qua niêm mạc đường ruột. Khi ăn quá mặn thì một lượng nước đáng kể thay vì được hấp thu và theo máu đến thận, bị giữ lại trong lòng ruột cùng với nhiều dưỡng chất khác.

Người ăn mặn vì thế khát nước nhưng tiểu ít và tự làm hại thận. Cũng vì thế mà không lạ gì khi các bà ăn quá mặn dễ mất vòng eo.

Nhiều người đang tốn nhiều tiền để ráng làm ốm, trong khi giải pháp rất đơn giản là chỉ cần giảm thành phần natri và tăng hàm lượng kali trong chế độ dinh dưỡng để cơ thể giữ đúng số lượng dịch thể trong từng tế bào, thay vì trữ nước bên ngoài tế bào.

Không có lý do gì để từ chối bữa cơm gạo nanh chồn với miếng khô cá tra béo ngậy. Càng ngon miệng càng tốt. Nhưng đừng quên độn nhiều rau cải trong bữa ăn, nhiều trái cây khi tráng miệng để mạch máu vẫn tươi rói với món mắm muối đúng điệu mặn mà!

Theo Lương Lễ Hoàng - Dân Việt

Những biện pháp để có trái tim khỏe mạnh

Tiến sĩ D.S Gambhir thuộc Viện Tim Kailash (Ấn Độ) đưa ra những lời gợi ý sau về việc bảo vệ tim:

- Ăn nhiều loại hạt khác nhau, khoảng 25 mg hạt như hạt điều, đậu phộng mỗi ngày vì giúp giảm hàm lượng cholesterol. Đây cũng là nguồn bổ sung protein tốt cho sức khỏe.
 

- Ăn thực phẩm giàu protein như cá vì các a-xít béo có trong cá ngừa việc hình thành máu vón cục.

- Dùng viên thuốc chứa 10 mg statin mỗi ngày vào buổi tối (nếu bạn trên 40 tuổi và bị tiểu đường). Thuốc này giúp giảm cholesterol và giảm nguy cơ bị trụy tim.

- Kiểm tra sức khỏe tổng quát thường xuyên sau 25 tuổi trong trường hợp các thành viên trong gia đình bạn mắc bệnh tim.

- Tránh ra ngoài trong thời tiết xấu mà không có biện pháp phòng vệ tối ưu. Khi trời trở lạnh, huyết áp tăng cao gây hại mạch máu, từ đó dẫn đến suy tim.

- Thiền: Phương pháp này có tác động trực tiếp lên huyết áp, giúp giảm huyết áp và tốt cho tim.

- Bắt đầu một ngày bằng một muỗng mật ong, giúp giảm cholesterol trong động mạch và ngừa suy tim.

- Giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ: Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy viêm răng lợi có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ do hàm lượng vi khuẩn cao ở những vùng bị ảnh hưởng trong miệng.

- Hãy đi bộ nhanh ít nhất 30 phút vào đầu buổi sáng vì giúp giảm tác hại của ô nhiễm môi trường lên tim, vốn thường xảy ra vào buổi tối.

- Nghe nhạc êm dịu vì cách này giúp giảm huyết áp, từ đó bảo vệ tim mạch.

Theo Thanh Niên

Xử lý nhanh khi bị tụt huyết áp

Tụt huyết áp có những biến chứng rất nguy hiểm cho người bệnh. Tham khảo những thông tin dưới đây sẽ giúp bạn có cách xử lý nhanh khi tụt huyết áp:

Triệu chứng nào cho biết tụt huyết áp?
Nhiều người bị tụt huyết áp thường có triệu chứng choáng váng, chóng mặt, mặt xanh khó chịu bứt rứt trong người.
Thường các triệu chứng này hay đi kèm với các triệu chứng của các bệnh nên gây tụt huyết áp như: Tiêu chảy, đau bụng, sốt cao, lạnh run hay các bệnh mạn tính khác như viêm phế quản mạn, xơ gan, suy tim, ung thư, tiểu đường v.v…
Các nguyên nhân gây tụt huyết áp
- Do bẩm sinh: số người huyết áp thấp chiếm 7%, thường gầy yếu nhưng sống hoàn toàn bình thường, không cảm thấy huyết áp thấp, song khi huyết áp tăng lên mức bình thường (120/80) thì lại rất khó chịu.
- Nguyên nhân khác: Các nguyên nhân gây tụt huyết áp có thể là một bệnh cấp tính gây mất dịch trong cơ thể như tiêu chảy nhiều, ói mửa nhiều, say rượu v.v…
Cần phải lưu ý kỹ vì có rất nhiều triệu chứng giống như vậy nhưng bệnh nhân lại bị cao huyết áp, nên vai trò của việc đo huyết áp là rất quan trọng. Chỉ được phép kết luận là tụt huyết áp khi đo huyết áp tối đa 90mm thủy ngân.
Xử trí
1. Về tư thế
Khi người bệnh có dấu hiệu tụt huyết áp, tùy vào vị trí hãy nhanh chóng để người bệnh ngồi ở nơi thoáng mát hoặc đặt người bệnh nằm trên giường, đầu hơi thấp, nâng cao hai chân. (Nếu có dụng cụ đo huyết áp hãy đo huyết áp hiện tại của người bệnh để có phương pháp xử lý thích hợp)
2. Thực hiện sơ cứu
Hãy cho người bệnh uống 2 cốc nước tương đương 480ml vì uống nước giúp điều tiết huyết áp. Hoặc có thể cho người bệnh uống trà gừng, nước sâm, cà phê, nước chè đặc, ăn thức ăn đậm muối, bột tam thất, rau cần tây, nước nho…
3. Sử dụng thuốc hỗ trợ huyết áp
Khi bị bệnh huyết áp, bệnh phải lưu ý luôn mang theo hoặc dự phòng thuốc hỗ trợ huyết áp như: heptamyl, coramin,… để sử dụng khi cần thiết. Theo khải sát gần đây của Đại học Havard, sôcôla chứa nhiều flavon giúp bảo vệ thành mạch máu vì vậy sôcôla được mệnh danh là vị thuốc cấp cứu bỏ túi cho những người bị tụt huyết áp.
4. Phương pháp xoa bóp bấm huyệt
- Day huyệt thái dương: Khi xuất hiện dấu hiệu tụt huyết áp hãy dùng hai ngón tay day vào huyệt thái dương (nằm ở cuối mi mắt). Lưu ý: Đặt phần tay mềm của ngón vào đúng huyệt, cần day đi day lại với mức độ mạnh dần. Thực hiện động tác này từ 20 – 50 lần.
- Day huyệt phong trì: Huyệt phong trì nằm ở đốt xương gối giữa phần lõm dưới nơi gân cổ nổi lên. Dùng ngón tay đặt lên huyệt phong trì, bốn ngón còn lại ôm lấy đầu rồi day và bấm mạnh vào huyệt phong trì 10 lần.
- Vuốt trán: Dùng hai ngón tay vuốt từ giữa trán sang hai bên đến cuối huyệt thái dương. Lặp đi lặp lại động tác này 30 lần.
5. Căn cứ vào nguyên nhân tụt huyết áp
- Nếu nguyên nhân khiến tụt huyết áp là do bệnh nhân bị sốt hoặc tiêu chảy thì cần nhanh chóng truyền dịch theo đường tĩnh mạch.
- Trường hợp bệnh nhân mắc bệnh mãn tính mà tụt huyết áp phải uống thuốc theo bệnh mãn tính. Ví dụ: bệnh nhân bị suy tim dẫn đến tụt huyết áp cần uống thuốc trợ tim,…
6. Thói quen ăn uống điều độ
Đói bụng dẫn đến giảm hàm lượng đường máu, giảm sự đàn hồi, dẻo dai của mạch máu dẫn đến tụt huyết áp. Bởi vậy, người bị bệnh huyết áp thấp, nên lưu ý có chế độ ăn hợp lý, chia nhỏ khẩu phần ăn trong một ngày. Nên để các loại ngũ cốc, bánh quy, sữa thường trực trong túi để ăn bất cứ lúc nào cảm thấy đói để tránh bị hạ đường huyết đột ngột.

Theo Kỹ Năng Tự Vệ

Các biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch

Việc phát hiện sớm bệnh tim mạch có vai trò hết sức quan trọng giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt các tai biến chết người của nó.

Ðồng thời còn đem lại cho chúng ta cơ hội sớm được tiếp cận các phương pháp điều trị mới để có thể đạt kết quả chữa bệnh tốt nhất. Dưới đây là các biểu hiện cần được chú ý.
Khó thở
Khó thở do bệnh tim mạch thường xuất hiện khi khả năng bơm máu của quả tim bị suy yếu hoặc có sự cản trở trên đường dòng máu chảy từ quả tim vào các mạch máu.
 
Khi sức bơm máu của quả tim giảm xuống sẽ gây ra khó thở do ứ trệ máu và dịch, điều này dẫn tới sự gia tăng áp lực máu ở phổi gây rò rỉ dịch vào các phế nang (túi khí nhỏ ở phổi).
Khó thở đột ngột về đêm là cơn khó thở xuất hiện khoảng vài giờ sau khi bạn đi ngủ, là hậu quả của lượng dịch tích tụ ở hai chân chúng ta ban ngày thấm trở lại dòng máu khi bạn nghỉ ngơi vào ban đêm. Hiện tượng này làm tăng gánh nặng cho quả tim và tăng áp lực máu ở phổi gây cơn khó thở.
Ðau ngực
Nhồi máu cơ tim hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định xảy ra khi một trong các nhánh của động mạch vành bị lấp tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn.
 
Triệu chứng đau ngực trong nhồi máu cơ tim cũng có tính chất giống như cơn đau thắt ngực nhưng kéo dài hơn (>20 phút) và không thuyên giảm khi ta nghỉ ngơi và khi bệnh nhân dùng một số thuốc giãn mạch.
 
Ngoại trừ một số trường hợp nhồi máu cơ tim “thầm lặng” tức không gây đau ngực, nhìn chung cơn đau ngực trong nhồi máu cơ tim thường dữ dội và hay kèm theo cảm giác buồn nôn, ớn lạnh, vã mồ hôi và trạng thái hết sức lo âu. Đây là một cấp cứu nên cần phải được quan tâm và có hành động kịp thời.
 
Viêm màng ngoài tim là một nguyên nhân nữa gây đau ngực. Quả tim cũng như các lá phổi được bao bọc bởi một lớp màng kép, bình thường mỏng như giấy bóng kính.
 
Viêm màng ngoài tim là khi hai lá màng này bị viêm, dày lên và cọ xát vào nhau khi quả tim đập gây đau ngực. Viêm màng ngoài tim thường do virus, đặc biệt là nhóm virus có tên Coxsackie.
Đau ngực do tim có thể do một số nguyên nhân khác như là: Bệnh lý van tim đặc biệt là hẹp hoặc hở van động mạch chủ.
Đau ngực cơ năng hay đau ngực do căn nguyên tâm lý đôi khi rất khó xác định vì thực tế một số trường hợp có thêm bệnh lý thực tổn đi kèm.
 
Một nghiên cứu được tiến hành trên những phụ nữ tuổi trung niên có biểu hiện đau ngực nhưng không hẹp động mạch vành cho thấy: sự mất thăng bằng về nội tiết là một trong số các nguyên nhân gây ra cơn đau.
Ðánh trống ngực
Nhịp tim nhanh và không đều, còn gọi là rối loạn nhịp, có thể xảy ra ở người khoẻ mạnh nhưng cũng có thể là một biểu hiện gợi ý bệnh tim mạch.
 
Nhịp tim rất nhanh xuất hiện không liên quan đến gắng sức thường do các rối loạn gọi là tim nhanh kịch phát trên thất hay tim nhanh nhĩ kịch phát, các thuật ngữ y học này để chỉ nhịp tim nhanh có căn nguyên từ các buồng phía trên của quả tim, gọi là tâm nhĩ.
 
Lúc này có thể bạn vẫn cảm thấy bình thường ngoại trừ cảm giác đánh trống ngực. Các cơn tim nhanh trên thất thường không kéo dài và nếu thấy chúng kéo dài nhiều phút thì bạn cần đi gặp bác sĩ.
Nguy hiểm nhất là hiện tượng gọi là tim nhanh thất, thường gặp ở những người có bệnh tim mạch thực sự. Tim đập nhanh bắt nguồn từ các buồng tim phía dưới, có chức năng bơm máu gọi là các tâm thất. Người bị tim nhanh thất thường rất mệt và khó thở do lượng máu quả tim bơm đi nuôi cơ thể bị sút giảm đáng kể.
Ngất xỉu
Bệnh tim mạch thường gây ngất xỉu nhất là các rối loạn về nhịp như nghẽn nhĩ thất (tim đập đều đặn là do những tín hiệu thần kinh được truyền nhịp nhàng từ tâm nhĩ xuống tâm thất, nghẽn nhĩ thất là khi sự dẫn truyền này bị gián đoạn). Lúc đó tim sẽ đập rất chậm, không đủ khả năng đưa máu và dưỡng khí lên nuôi bộ não.
 
Ngược lại, vì một lý do nào đó khi tim đập quá nhanh (nhiều hơn 150 lần trong một phút), khả năng bơm máu lên não của tim bị giảm sút cũng có thể gây ngất.
Nếu chỉ là ngất (mất ý thức) thì hãy để ngay bệnh nhân nằm nơi thoáng, nới rộng quần áo, có thể nhấc bổng 2 chân bệnh nhân lên để tăng cường máu về tim và não cần theo dõi để có thể cấp cứu hồi sinh tim phổi ngay nếu bệnh nhân chuyển sang tình trạng ngừng tuần hoàn.
Phù
Về bản chất hiện tượng phù là do nước thoát quản khỏi lòng mạch để ứ đọng ở khoảng gian bào gây phù. Do vậy thực tế thường phát hiện được phù ở các vị trí trên nền xương cứng hoặc nơi mô lỏng lẻo.
 
Trong các bệnh tim mạch, vì lý do nào đó mà tuần hoàn ở hệ tĩnh mạch bị ứ trệ (thường do suy tim bên phải) làm tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch gây hiện tượng nước trong tĩnh mạch ra ngoài gian bào ứ đọng gây phù.
 
Một số trường hợp tắc tĩnh mạch cũng gây phù, nhưng ở đây là phù cục bộ tương ứng trước chỗ tắc tĩnh mạch.
Tím tái
Tím trung ương khi máu tĩnh mạch và máu động mạch bị trộn lẫn với nhau ngay trong quả tim do một luồng thông bẩm sinh nằm giữa tim trái và tim phải hoặc do khuyết tật di truyền tạo nên một buồng tim chung (máu động mạch có màu đỏ tươi do giàu ôxy còn máu tĩnh mạch có màu đỏ thẫm do đã nhường ôxy cho cơ thể).
 
Tím trung ương cũng có thể do một bệnh lý phổi đang tiến triển như khí phế thũng ngăn cản  ôxy hoà tan vào máu động mạch.
Tím ngoại vi là dạng tím thường do sự ứ trệ tuần hoàn hoặc trao đổi khí kém. 
Trong thực tế, ta tương đối dễ dàng phân biệt hai loại tím trên qua các dấu hiệu của chúng. Tím ngoại vi thường xuất hiện ở những vùng da hở như đầu ngón tay, cằm, mũi và môi. Trong khi tím trung ương xuất hiện ở quanh kết mạc mắt, niêm mạc ở trong họng và lưỡi.
Mệt mỏi
Tình trạng mệt mỏi ở người mắc bệnh tim mạch còn có thể do thuốc gây ra, khoảng 10% số người dùng thuốc điều trị hạ huyết áp than phiền vì cảm thấy mệt mỏi tăng lên.
Nhiều bệnh thể chất khác gây mệt mỏi bao gồm thiếu máu và các bệnh mạn tính như suy nhược tuyến giáp, đái đường và bệnh lý về phổi...
Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi ngay từ khi thức giấc cho tới cuối ngày với một mức độ gần như không đổi thì nguyên nhân có lẽ do rối loạn tâm thần hơn là bệnh tim mạch, thường nhất là chứng trầm cảm.
Dấu hiệu đi cách hồi 
Tắc cấp tính:
Các biểu hiện của tắc động mạch ngoại vi cấp (đặc biệt là tắc động mạch chi dưới) được mô tả kinh điển là hội chứng nhiều chữ “P” (theo tiếng Anh):
Painess - Đau đột ngột chi bị tắc. Đau có thể xảy ra trên một chi đã từng có triệu chứng đau cách hồi trước đó hoặc không. Đau có thể rất dữ dội và liên tục, Pallor - xanh tái chi bị tắc động mạch nuôi dưỡng, Pulseless - mất mạch vùng chi bị tắc.
 
Trong trường hợp tắc động mạch chủ bụng hoặc động mạch chậu gốc, thì mất mạch cả hai bên, Paralysis - liệt bên chi bị tắc mạch. Mức độ nhẹ hơn là yếu bên chi bị tắc động mạch. Khi bị tắc động mạch chủ bụng có thể gây liệt cả 2 chi dưới, Poikilothermia - lạnh bên chi bị tắc mạch. Nếu bị tắc động mạch chủ bụng thì cả 2 chi dưới bị lạnh hơn.
Tắc mạn tính:
 Trong trường hợp nặng, đau có thể tồn tại ngay cả khi nghỉ, xuất hiện ở đoạn xa của chi, có thể xuất hiện khi ngủ và để giảm đau bệnh nhân thường phải để thõng chân tự do ngoài thành giường hoặc ghế.
Nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ có dấu hiệu đau cách hồi còn khám chi bình thường. Tuy nhiên khi bệnh tiến triển, có thể thấy các dấu hiệu sau:
- Mạch bên chi bị tổn thương động mạch yếu hơn hoặc có thể mất ở một số vị trí.
- Bên chi bị tắc mạch mạn tính thường nhỏ hơn, da khô, móng và lông kém phát triển, bong vảy và có thể lạnh hơn bên chi không bị bệnh mạch.
Trong trường hợp bị nặng, có thể thấy các dấu hiệu loét, hoại tử các vùng viễn cực (đầu chi, gót chân). Các tổn thương loét hoặc nhiễm trùng đặc biệt dễ xảy ra khi bệnh nhân bị chấn thương.
 


Theo
 GS.TS. Nguyễn Lân Việt - Sức khỏe & Đời sống

Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch

Một người mang một yếu tố nguy cơ nào đó chỉ có nghĩa là có sự gia tăng khả năng mắc bệnh chứ không phải là chắc chắn sẽ mắc bệnh.

Ngược lại, một người khác không mang bất kì yếu tố nguy cơ nào cũng không thể chắc chắn mình sẽ không mắc bệnh.
Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được
Tuổi          
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, tuổi tác là một trong những yếu tố dự đoán bệnh tật quan trọng nhất. Hơn nửa số người bị đột quỵ tim mạch và tới bốn phần năm số người bị chết vì đột quỵ có tuổi cao hơn 65.
Giới
Hiện nay, tuổi thọ của phụ nữ nói chung cao hơn nam giới trung bình 4-6 năm. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, một phần sự khác biệt này là do nam giới hút thuốc lá nhiều hơn so với nữ giới.
Yếu tố di truyền
Nếu trong gia đình bạn có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (nam dưới 55 tuổi và nữ dưới 65 tuổi), bạn phải đặc biệt lưu ý tới việc làm giảm ảnh hưởng của bất kì yếu tố nguy cơ nào có thể kiểm soát được và phải cảnh giác hơn để tránh được cơn đau tim hoặc đột quỵ. Nếu ai đó trong gia đình bị bệnh ở tuổi 75 hay 80, có lẽ bạn không phải bận tâm về yếu tố di truyền.
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
Tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp nhất và cũng là yếu tố nguy cơ được nghiên cứu đầy đủ nhất. Hơn 60 triệu người dân nước Mỹ bị tăng huyết áp. Tại Việt Nam hiện nay ước tính có trên 20% số người lớn bị THA.
Có nhiều cách phân loại THA. Nhìn chung, THA được xác định nếu con số huyết áp luôn vượt quá 140/ 90 mmHg khi đo bằng huyết áp kế trong một khoảng thời gian.
Khi tăng huyết áp tâm thu (con số cao hơn, là áp suất máu khi tim co bóp) và huyết áp tâm trương (con số thấp hơn, là áp suất máu khi tim giãn ra) đều là những yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, huyết áp tâm thu được xem là yếu tố dự báo quan trọng hơn nguy cơ về các tai biến do tăng huyết áp gây ra.
Tăng cholesterol trong máu
Các nghiên cứu cho thấy, nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố dự báo mạnh về nguy cơ mắc bệnh mạch vành và đột quỵ. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2 mmol/ dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột quỵ tim mạch cao theo tuyến tính.
Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol, các thành phần quan trọng nhất và được nghiên cứu nhiều nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Hàm lượng của từng thành phần và tỉ lệ giữa chúng trong dự báo nguy cơ tim mạch có lẽ quan trọng hơn lượng cholesterol toàn phần. 
Nồng độ LDL-C trên 2,0 mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ. Hàm lượng HDL-C trong máu càng cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1,0 mmol/dl). Tỉ lệ giữa LDL-C so với HDL-C lớn hơn 3,5 - 4 được xem là yếu tố nguy cơ.
Chế độ ăn ít mỡ bão hoà và cholesterol có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu xuống khoảng 5%. Nguy cơ mắc bệnh mạch vành của bạn sẽ giảm 2% mỗi khi nồng độ cholesterol toàn phần trong máu giảm xuống 1%.
Giảm lượng rượu uống hàng ngày (nếu bạn uống quá nhiều rượu) và giảm trọng lượng cơ thể (nếu bạn thừa cân) có thể hạ thấp đáng kể lượng triglycerid trong máu của bạn. Tập luyện thường xuyên làm giảm triglycerid và tăng HDL-C. Ngừng hút thuốc cũng làm tăng HDL-C. Khi lượng cholesterol toàn phần và LDL-C trong máu tăng cao, cần phối hợp giữa chế độ ăn uống, luyện tập với việc sử dụng các thuốc làm giảm cholesterol trong máu.
Lipoprotein (a)
Lipoprotein (a) đã được các nhà khoa học phát hiện từ năm 1963 nhưng mãi cho tới gần đây tầm quan trọng của nó mới được chú ý đến. Lipoprotein (a) là phân tử cấu tạo nên thành phần protein của LDL-C.
Các nghiên cứu gần đây chứng minh sự tăng hàm lượng lipoprotein (a) có liên quan với sự tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và tai biến mạch máu não. Tăng lipoprotein (a) là yếu tố nguy cơ độc lập và có tác động mạnh tương tự như tăng cholesterol toàn phần hay giảm HDL-C trong máu. 
Hiện tại, chỉ có nicotinic acid là thuốc có khả năng làm giảm nồng độ lipoprotein (a) cho dù vai trò của sự điều chỉnh này đối với nguy cơ mắc bệnh tim mạch vẫn còn chưa rõ.
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá là yếu tố chủ yếu góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại vi cho dù những người hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn những người không hút thuốc. 30 - 40% trong số khoảng 500.000 trường hợp chết vì bệnh mạch vành hàng năm có nguyên nhân từ thuốc lá. 
Các kết quả từ nghiên cứu Framingham đã chứng minh rằng, nguy cơ đột tử cao hơn 10 lần ở nam và 5 lần ở nữ giới có hút thuốc. Thuốc lá là yếu tố nguy cơ số một đối với đột tử và bệnh mạch ngoại vi.
Béo phì
Trong một nghiên cứu gần đây trên 100.000 phụ nữ tuổi từ 30 - 55, nguy cơ tim mạch cao gấp ba lần ở nhóm béo nhất so với nhóm có cân nặng thấp nhất.
Béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột quỵ. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, hãy cố gắng  duy trì con số này dưới 80%.
Không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh, béo phì ở bụng còn liên quan chặt chẽ với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác đó là tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, giảm dung nạp đường và đái tháo đường.
Đái tháo đường và kháng insulin
Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường xuất hiện sau 40 tuổi (gọi là type II) có tỉ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường. Ngay cả khi lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn. Những người đái tháo đường type II thường có nồng độ insulin trong máu cao. 
Insulin là một loại hormon do tuỵ sản xuất, có vai trò chủ yếu trong quá trình điều hòa lượng đường trong máu bằng cách tham gia quá trình vận chuyển đường vào các tế bào của cơ thể. Vì một lí do nào đó, insulin bị giảm tác dụng nên cần có một lượng lớn hơn để thực hiện vai trò sinh lý. 
Người ta gọi đây là tình trạng kháng insulin. Insulin tăng cao trong máu có thể gây tăng huyết áp và tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch. Hậu quả là thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó.
Những người bị đái tháo đường từ khi còn trẻ (gọi là đái tháo đường type I) lại có nhiều nguy cơ tổn thương thận và mắt hơn là bệnh mạch vành hay đột quỵ. Trong trường hợp này, insulin bị thiếu hụt trầm trọng do bệnh lý ở tuỵ.
Lười vận động (lối sống tĩnh tại)
 Việc vận động hàng ngày đều đặn ít nhất 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Người ta đã chứng minh việc tập luyện thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện nhồi máu cơ tim đồng thời nâng cao khả năng sống sót khi xảy ra nhồi máu cơ tim.
Fibrinogen
Fibrinogen là một thành phần của máu có vai trò trung tâm trong quá trình hình thành cục máu đông để cầm máu. Các nghiên cứu gần đây ở Framingham và những nơi khác đã chứng minh fibrinogen là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh tim mạch. 
Người ta chưa biết rõ tại sao sự tăng nồng độ fibrinogen trong máu là một yếu tố nguy cơ, có lẽ điều đó thúc đẩy quá trình hình thành cục máu đông trong mạch máu và vì thế mà tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cũng như đột quỵ. 
Lượng fibrinogen trong máu tăng lên theo tuổi và không cần phải điều chỉnh. Nhưng nếu là do thuốc lá thì bạn cần phải dừng ngay thói quen này.
Phì đại tâm thất trái
Tâm thất trái là buồng tim có chức năng bơm máu đi khắp cơ thể ngoại trừ phổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy, thất trái bị phì đại có xu hướng trở thành suy tim và là nguy cơ cao của chứng rối loạn nhịp tim cũng như chết đột ngột. 
Phần lớn những người phì đại thất trái bị tăng huyết áp hoặc đã từng bị nhồi máu cơ tim. May thay, việc khống chế thành công tăng huyết áp không chỉ làm giảm con số huyết áp mà còn làm giảm kích thước của thất trái bị phì đại do đó hạn chế được những nguy cơ song hành với nó.
Ðiều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch
Nếu bạn là người không mang yếu tố nguy cơ và không mắc bệnh tim mạch, những lời khuyên đơn giản dưới đây sẽ luôn hữu ích và nếu có, cũng sẽ rất ít gây hại cho bạn:
Thực hiện chế độ ăn uống có lợi cho tim, ít mỡ bão hoà và cholesterol, nhiều rau, quả, cá...
Giảm cân nặng nếu bạn thừa cân.
Hạn chế muối đưa vào cơ thể. Đa số chúng ta ăn nhiều muối hơn lượng muối cơ thể chúng ta cần. Nhiều thức ăn tự nhiên đã chứa muối hoặc muối đã được thêm vào trong quá trình chế biến. Đơn giản nhất, hãy hạn chế cho muối vào thức ăn khi nấu nướng.
Bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục. Tập luyện đều đặn có lợi cho tất cả mọi người. Hãy chọn một phương pháp phù hợp với sở thích, thời gian và khả năng của bạn. Luyện tập đều đặn, mỗi ngày ít nhất 45 phút.
 Nếu bạn hút thuốc, hãy ngừng ngay
Nếu bạn uống rượu, hãy vừa phải.
Học cách làm giảm căng thẳng, tránh phản ứng với các tình huống có thể gây stress bởi nó chỉ làm vấn đề trở nên trầm trọng hơn mà thôi.
Đi khám bệnh định kỳ để đánh giá mức độ nguy cơ của bạn. Một hồ sơ hoàn toàn trong sạch về sức khoẻ tại một thời điểm nào đó không thể suốt đời đảm bảo được rằng bạn không có bệnh tật.
 


Theo
 GS-TS. Phạm Gia Khải - Sức khỏe & Đời sống

Thói quen nào hại tim nhất?

Mọi người đều muốn có một trái tim khỏe mạnh, tuy nhiên, bệnh tim mạch đang có xu hướng phổ biến do một số thói quen đơn giản hàng ngày.

Xem tivi. Ngồi hàng giờ trước tivi làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ kể cả nếu bạn tập thể dục thường xuyên. Tại sao? Việc thiếu vận động có thể ảnh hưởng đến nồng độ chất béo và đường trong máu. Giải pháp là thỉnh thoảng lại đứng lên đi lại hay nếu ở nơi làm việc, đứng lên để nói chuyện trên điện thoại.
Trầm cảm, chán nản, giận dữ - đó đều là “kẻ thù” cho trái tim. Mặc dù đó là cảm xúc khó có thể tránh được trong cuộc sống nhưng vấn đề là làm thế nào để chúng không ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch. Nghiên cứu cho thấy những ai không kiểm soát được xúc cảm tiêu cực nằm trong mối nguy cơ lớn hơn trong khi tiếng cười và sự chia sẻ với người khác sẽ rất hữu ích.
Ngủ ngáy. Không hẳn là phiền toái nhỏ, ngáy có thể là một dấu hiệu nghiêm trọng hơn: triệu chứng ngưng thở khi ngủ. Rối loạn này biểu hiện ở chỗ hơi thở bị gián đoạn trong khi ngủ, từ đó gây ra huyết áp tăng vọt. Những người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao bị ngưng thở khi ngủ, nhưng người có trọng lượng trung bình cũng không loại trừ. Nếu bạn ngủ ngáy và thường thức dậy cảm thấy mệt mỏi, hãy gặp bác sĩ để tìm hiểu thêm.
Sống thu mình. Thực tế đời sống có nhiều người gây phiền nhiễu và khó gần. Tuy nhiên, đó lại là điều khích lệ việc bạn thắt chặt mối quan hệ với những người mà mình thực sự thích. Những người có quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và xã hội nói chung có xu hướng sống lành mạnh và sống lâu hơn. Vì thế, mọi người đều cần có thời gian một mình, nhưng vẫn nên giữ liên hệ với người khác bất cứ khi nào có thể.
Tập thể dục kiểu trồi - sụt. Nhiều người lao vào tập luyện để có cơ thể săn chắc nhưng sau thấy không chịu nổi đành bỏ cuộc. Với tập thể dục, cách tốt nhất là kiên trì và ổn định, quan trọng vẫn là tập thường xuyên.
Ăn uống vô độ. Ai cũng biết uống chút rượu hàng ngày tốt cho tim mạch nhưng quá nhiều rượu liên quan đến nguy cơ huyết áp cao, mỡ máu cao hay thừa trọng lượng không có lợi cho trái tim. Tương tự, ăn quá nhiều gây thừa cân, béo phì - một yếu tố chính đe dọa sức khỏe tim mạch. Bởi vậy, điều độ và lành mạnh là yếu tố hàng đầu trong chế độ ăn uống.
Lơ là nguy cơ. Bệnh tim mạch bao gồm đột quỵ, bệnh tim và suy tim, ở Mỹ nó cướp đi sinh mạng nhiều người hơn bất kỳ căn bệnh nào, kể cả ung thư. Vì thế, các chuyên gia khuyên rằng đừng bao giờ cho rằng mình không có nguy cơ. Huyết áp và cholesterol cao, bệnh tiểu đường, thừa cân, hút thuốc lá là tất cả các yếu tố nguy cơ nên được kiểm soát.
Hút thuốc hoặc sống chung với người hút thuốc. Chắc chắn, khẩu hiệu “Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe” bạn đã từng quá quen thuộc. Riêng đối với tim, thuốc lá là thảm họa cho tổng thể tim của chúng ta.
Hút thuốc thúc đẩy sự hình thành các cục máu đông, có thể chặn lưu lượng máu đến tim và góp phần vào sự tích tụ mảng bám trong động mạch. Nó cũng là một “quả bom nổ chậm” cho những người sống xung quanh vì hàng năm rất nhiều người hút thuốc thụ động có thể chết vì bệnh tim.
Ăn thịt đỏ. Quan niệm tốt nhất là thịt đỏ chỉ thỉnh thoảng mới ăn chứ không nên là nền tảng của  chế độ ăn uống hàng ngày. Thịt đỏ chất béo bão hòa cao và cũng có bằng chứng cho thấy thịt chế biến, chẳng hạn như thịt xông khói và xúc xích, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư đại trực tràng. Lý tưởng nhất là chế độ ăn uống cân bằng, nên hạn chế ở 10% thức ăn động vật và sản phẩm động vật.
Tránh trái cây và rau quả. Chế độ ăn dựa vào thực vật là lành mạnh nhất cho tim, bao gồm trái cây và rau, các loại hạt, ngũ cốc, sữa ít chất béo và    protein hay ăn vặt ở mức tối thiểu. Nghiên cứu cho thấy rằng những người ăn nhiều hơn 5 món trái cây và rau mỗi ngày có ​​nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ thấp hơn 20% so với những người ăn ít hơn 3 thành phần rau quả mỗi ngày.
Bỏ qua triệu chứng thể chất. Nếu thường xuyên leo bộ lên tầng 3 nhưng đột nhiên bạn cảm thấy thở dốc hay ngực bị ép, nên đi kiểm tra. Đừng mất thời gian đắn đo giả định bởi càng phát hiện sớm các rắc rối, càng ít có khả năng bị tổn thương vĩnh viễn cho cơ tim.
Ăn mặn. Tiêu thụ muối nhiều hơn mức cần thiết làm tăng huyết áp - một yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ, suy thận, nhồi máu cơ tim. Hầu hết chúng ta nên giữ lượng muối ăn dưới 2.300mg mỗi ngày. Người huyết áp cao hoặc trên 50 tuổi, nên cắt giảm xuống còn 1.500 mg.

Theo Yến Chi - An Ninh Thủ Đô/Health

Nguy cơ trụy tim vì khói xe

Hít thở trong bầu không khí đầy khói xe có thể làm tăng nguy cơ bị trụy tim, đó là cảnh báo của các nhà khoa học Anh.


Các nhà nghiên cứu thuộc Quỹ Tim Anh phát hiện rằng, nguy cơ trụy tim tăng trong khoảng 6 giờ sau khi phơi nhiễm khói xe.
Theo các chuyên gia, không khí ô nhiễm có lẽ đã đẩy nhanh hơn là trực tiếp gây ra các cơn trụy tim. Phơi nhiễm khói xe nhiều còn có thể làm tổn thọ.
“Chúng ta biết rằng ô nhiễm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, có lẽ là do nó có thể khiến máu dễ bị vón cục hơn, từ đó làm tăng nguy cơ trụy tim”, BBC dẫn lời giáo sư Jeremy Pearson thuộc Quỹ Tim Anh cho hay.
Ông Pearson cho biết thêm: “Lời khuyên của chúng tôi là nếu bạn vừa chẩn đoán mắc bệnh tim, hãy cố gắng tránh ở quá lâu tại những khu vực có thể xảy ra ô nhiễm môi trường do khói xe, như ở gần các con đường lớn, xe cộ qua lại đông đúc”.

Theo Huỳnh Thiềm - Thanh Niên

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

Nguyên nhân gây tăng huyết áp và cách phát hiện sớm

Huyết áp là áp lực máu lưu thông tác động lên thành mạch. Huyết áp tối đa khi tim bóp tống máu (b/t:120mmHg), huyết áp tối thiểu khi tim giãn (b/t: 80mmHg).

Tất cả sách giáo khoa và các hướng dẫn điều trị tăng huyết áp trên thế giới đều chọn ngưỡng gọi là tăng huyết áp đối với người từ 18 tuổi trở lên khi người đó có ít nhất một trong hai số huyết áp sau: 
- huyết áp tối đa lớn hơn hoặc bằng 140mmHg 
- huyết áp tối thiểu lớn hơn hoặc bằng 90mmHg. 
Ví dụ, nếu con số huyết áp là 150/80, 130/100 hoặc 150/90mmHg sau nhiều lần đo đều được gọi là tăng huyết áp.
Một cách đầy đủ, tăng huyết áp là một hội chứng tim mạch tiến triển được khẳng định khi: (1) huyết áp đo tại cơ sở y tế lớn hơn hoặc bằng 140/90mmHg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ lớn hơn hoặc bằng 135/85mmHg hoặc (2) chỉ số huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng tăng huyết áp như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim do tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. 
Tăng huyết áp được chia làm hai loại là tăng huyết áp nguyên phát và tăng huyết áp thứ phát, trong đó tăng huyết áp nguyên phát (tăng không rõ nguyên nhân) chiếm đến 93%-95%. Còn tăng huyết áp thứ phát là từ một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn do hở van động mạch chủ; u tủy thượng thận; do bệnh thận; cường giáp; do sử dụng thuốc làm giữ muối, nước... 
Ở những trường hợp tăng huyết áp không rõ nguyên nhân, người ta nghĩ đến nhiều yếu tố phối hợp với nhau gây tăng huyết áp như: tuổi tác cao, giới tính (nữ ở độ tuổi sinh đẻ ít mắc bệnh tim mạch hơn nam giới), di truyền (cha mẹ mắc bệnh tăng huyết áp, sẽ có một tỷ lệ con cũng bị tăng huyết áp), béo phì, tiểu đường, hút thuốc lá, ít vận động, stress, thói quen ăn mặn...
Điểm khác biệt là tăng huyết áp có nguyên nhân thì chữa triệt để được, ví dụ tăng huyết áp do hẹp động mạch thận thì sau khi nong động mạch hẹp, huyết áp bình thường trở lại, không phải uống thuốc lâu dài.
Đo kiểm tra là cách đơn giản nhất, duy nhất để phát hiện sớm tăng huyết áp nhằm điều trị kịp thời. Để đo huyết áp, người được đo cần được nghỉ khoảng 5 phút trước khi đo; không sử dụng các chất kích thích trước đó 2 giờ (bia, rượu, thuốc lá, cà phê… ); không dùng thuốc cường giao cảm (như một số thuốc nhỏ mũi...). Với người lớn, dù trong người thấy bình thường, nhưng cũng cần đo huyết áp kiểm tra định kỳ hằng năm.
Thay đổi hành vi, lối sống không có lợi cho sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu, bia quá độ... chế độ dinh dưỡng cần giảm muối, bớt mỡ, tăng cường rau, quả, trái cây tươi; vận động thể lực đều đặn... là biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh tăng huyết áp.
Thực hiện lối sống lành mạnh phòng chống tăng huyết áp.
- Hằng ngày tập thể dục, đi bộ 30-45 phút.
- Ăn nhạt.
- Tăng cường ăn rau xanh và hoa quả tươi.
- Hạn chế ăn mỡ động vật và thức ăn chứa nhiều cholesterol.
- Hạn chế uống rượu bia.
- Không hút thuốc lá, thuốc lào
- Làm việc và nghỉ ngơi hợp lý.  
AloBacsi.vn
Theo ThS. Phạm Trần Linh - Sức khỏe & Đời sống

Trái tim khỏe cải thiện đời sống tình dục

Để cải thiện sức khỏe tim mạch, đàn ông trung niên đã ăn uống hợp lý hơn, tập thể dục nhiều hơn hoặc dùng thuốc hạ cholesterol.

Gần 1/5 số đàn ông ở Mỹ gặp khó khăn trong việc đạt được hoặc duy trì sự cương cứng, một tình trạng được gọi là rối loạn chức năng cương dương (ED).
 
Tuy nhiên, nghiên cứu được công bố trên tạp chí Archives of Internal Medicine (Mỹ) trung tuần tháng 9 vừa qua cho biết, các loại thuốc như Viagra không phải là giải pháp duy nhất cũng như không phải lúc nào cũng có thể giúp giải quyết vấn đề.
Nghiên cứu đưa ra thông điệp: “Nếu bạn chăm sóc bản thân bằng việc ăn uống, chăm chỉ luyện tập thể dục, giảm cân, kết quả còn tốt hơn Viagra, Levitra, Cialis. Thêm vào đó, nếu những loại thuốc này trở nên kém hiệu quả, bạn cần phải chú ý đến lối sống của mình”.
Ảnh: Internet
 
ED gây phiền hà cho “cậu nhỏ”, nhưng tồi tệ hơn, nó cũng là một dấu hiệu cảnh báo của bệnh tim. Các động mạch ở dương vật mở rộng trong thời gian cương cứng có thể trở nên suy yếu và bị tắc do cholesterol giống như các động mạch bao quanh tim.
 
Đây là lý do tại sao ED thường xuất hiện trước các vấn đề tim mạch như đau tim hay đột quỵ từ 3-5 năm, đặc biệt là ở những nam giới trẻ tuổi. Nếu so sánh một người đàn ông ở độ tuổi 40 bị rối loạn cương dương với người đàn ông khác cùng tuổi nhưng không bị rối loạn chức năng cương dương, thì những người bị ED có khả năng mắc bệnh tim cao hơn 50 lần.
Để làm rõ hiệu quả của lối sống, trái tim khỏe mạnh đối với ED, các nhà nghiên cứu đã tiến hành các thử nghiệm lâm sàng. Trong đó, những người đàn ông bị ED được chia thành hai nhóm, một nhóm thay đổi lối sống của mình và nhóm còn lại bắt đầu dùng thuốc statin hạ cholesterol xấu.
Cuối cùng, họ tập trung vào 6 nghiên cứu ở 740 người đàn ông được thực hiện ở Mỹ, Italy, Nigeria và Iran. Trong tất cả các nghiên cứu, thời gian dao động từ hai tháng đến hai năm, cải thiện sức khỏe tim mạch và lượng cholesterol tốt gia tăng có tác dụng, tuy khiêm tốn nhưng được thể hiện ở chức năng cương dương trên thang điểm từ 5-25.
Theo các nhà nghiên cứu, sự khỏe mạnh của trái tim sẽ cải thiện đời sống tình dục. Đối với một số người đàn ông, đặc biệt là những người bị ED liên tục thì sự thay đổi độ lớn đó sẽ không đáng kể. Đối với những người mắc ED nhẹ hoặc không thường xuyên, nó sẽ chuyển thành những cải tiến đáng chú ý trong chức năng tình dục.
Ảnh: Internet
 
Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra lời khuyên đối với đấng mày râu: nên xem xét đến chế độ ăn uống và  luyện tập thể dục. Những thay đổi nhỏ, chẳng hạn ăn ít nhất năm phần rau quả hằng ngày cũng tạo nên sự khác biệt lớn.
 
Chỉ cần 10 phút tập thể dục mỗi lần, tuần ba lần cũng giúp cải thiện chức năng tim, mạch. Nếu chỉ uống các loại thuốc chữa ED có lẽ sẽ không đủ để có được kết quả tối ưu.


Theo 
Nguyễn Nga - Phụ nữ TPHCM/ Health và CNN

Phình động mạch não - Quả bom nổ chậm

Tỷ lệ tử vong và tàn phế sau vỡ phình động mạch não là rất cao.

Phình động mạch não (PĐMN) khi chưa bị vỡ hầu như không có triệu chứng gì. Khi vỡ ra thường gây “chảy máu dưới nhện” - một dạng tai biến mạch máu não rất nặng nề, tỷ lệ tử vong cao. Nguy cơ bị vỡ có ở tất cả các bệnh nhân PĐMN, nhưng không thể biết ai sẽ bị và khi nào sẽ xảy ra. Vì vậy PĐMN luôn được coi là quả bom nổ chậm trong não.
Biểu hiện phình động mạch não
PĐMN là tổn thương phình ra bất thường tại một hoặc nhiều vị trí trên thành động mạch não, thường xuất hiện ở ngã ba của các động mạch vùng nền sọ trong khoang dưới nhện.
Khi chưa vỡ: phần lớn không có triệu chứng, có thể được phát hiện tình cờ khi chụp cắt lớp, cộng hưởng từ hoặc chụp mạch vì bệnh khác. Một số ít bệnh nhân có các dấu hiệu chèn ép thần kinh như đau đầu mạn tính, giảm thị lực và thu hẹp thị trường, sụp mi, giãn đồng tử…
Khi bị vỡ: gây chảy máu dưới nhện là chủ yếu, triệu chứng thường đột ngột, cấp tính với các mức độ nặng nhẹ khác nhau. Khởi phát đột ngột với triệu chứng đau đầu dữ dội, kèm theo nôn, buồn nôn, cứng gáy, tăng huyết áp. Các triệu chứng có thể giảm nhanh, nhưng cũng có thể kéo dài. Ý thức có thể bình thường, hoặc lơ mơ, hôn mê ở các mức độ khác nhau. Có thể kèm theo các triệu chứng thần kinh: sụp mi, bại liệt khu trú, cơn co giật…
 
 PĐMN (ảnh trái, chụp mạch) và chảy máu dưới nhện (chụp cắt lớp) do vỡ túi phình (ảnh phải).
PĐMN nguy hiểm thế nào?
Hầu hết các PĐMN tồn tại không có triệu chứng, nên chúng ta không thể biết bệnh, đến khi bị vỡ gây đột quỵ chảy máu mới đến bệnh viện.
 
Chảy máu não do vỡ PĐMN thường là chảy máu dưới màng nhện - một dạng tai biến mạch máu não rất nặng nề. Có thể vỡ một lần hoặc nhiều lần. Lần sau thường nặng hơn lần trước và không thể biết thời điểm sẽ vỡ lại. Tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao sau vỡ PĐMN.
Làm gì khi bệnh nhân bị đột quỵ não?
Khoảng 1% dân số bị PÐMN và mỗi năm khoảng 1% số PÐMN bị vỡ gây chảy máu dưới nhện.
 
Như vậy, ở một địa phương có 1 triệu dân, hằng năm sẽ có khoảng 100 người bị chảy máu dưới nhện do vỡ PÐMN!
Đưa ngay người bệnh đến bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố gần nhất (khi có dấu hiệu đột quỵ não như đột ngột đau đầu dữ dội, ý thức lơ mơ hoặc kích thích vật vã hay hôn mê, co giật hoặc liệt nửa người..., cần gọi ngay xe cấp cứu để đưa bệnh nhân đến bệnh viện, không được để bệnh nhân tại nhà.
 
Trong thời gian chờ đợi xe cấp cứu đến, người thân trong gia đình hoặc cơ quan nên tìm và gọi điện thoại cho bác sĩ quen (nếu có) hoặc trung tâm đột quỵ não đã biết để xin tư vấn. Không được làm các động tác kích thích như ấn huyệt nhân trung, kích thích đau, đánh gió... vì sẽ làm huyết áp tăng lên nhiều hơn, có thể làm nặng thêm tình trạng chảy máu não.
 
Đặc biệt, không được cho bệnh nhân uống thuốc hoặc nước nếu ý thức lơ mơ hoặc hôn mê vì dễ bị sặc gây suy hô hấp. Không mất thời gian đi tìm và cho bệnh nhân uống thuốc Đông y vì các thuốc đó không có tác dụng cấp cứu).
Tại bệnh viện, bệnh nhân sẽ được chụp cắt lớp vi tính (CT) não - biện pháp chẩn đoán hình ảnh đầu tiên cho biết bệnh nhân bị nhồi máu hay chảy máu não. Chảy máu trong nhu mô não thường do tăng huyết áp hoặc dị dạng động tĩnh mạch não. Chảy máu dưới nhện thường do vỡ PĐMN.
Nếu không có CT hoặc CT không thấy chảy máu dưới nhện nhưng vẫn nghi ngờ có thể chọc ống sống thắt lưng. Dịch não tủy có máu không đông là dấu hiệu của chảy máu dưới nhện. Khi đã được chẩn đoán chảy máu dưới nhện, bệnh nhân cần được chuyển ngay đến bệnh viện trung ương có khả năng chụp DSA và can thiệp mạch máu não càng sớm càng tốt.
Chụp mạch não số hóa xóa nền (DSA) - tiêu chuẩn vàng để xác định PĐMN. Các bác sĩ sẽ căn cứ vào tình trạng bệnh nhân, hình ảnh CT và DSA để quyết định phương pháp và thời điểm can thiệp điều trị triệt để. 
Theo TS Lê Văn Trường - Bệnh viện Quân đội 108
Sức khỏe và Đời sống

Cholesterol cao liên quan Alzheimer

Những ai có hàm lượng cholesterol cao có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer (một dạng bệnh mất trí nhớ).

Những ai có hàm lượng cholesterol cao có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer (một dạng bệnh mất trí nhớ).

“Chúng tôi thấy rằng, hàm lượng cholesterol cao có liên quan đáng kể đến dịch trong não góp phần gây bệnh Alzheimer”, theo Tân Hoa xã dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu, Kensuke Sasaki, thuộc Đại học Kyushu (Nhật Bản).
Để rút ra kết luận trên, các chuyên gia khảo sát hàm lượng cholesterol ở 2.687 người, tuổi từ 40-79, không có dấu hiệu Alzheimer. Kết quả là 86% người có hàm lượng cholesterol cao có dịch ở não so với chỉ 62% ở người có mức cholesterol thấp. 

Theo Mai Duyên - Thanh Niên

Rượu nếp tốt cho tim mạch

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, cơm rượu nếp cẩm còn có thể giúp phòng ngừa bệnh tim, đột quỵ và cao huyết áp.

Rượu nếp cái, có nơi gọi là cơm rượu được chế biến từ gạo nếp theo cách đồ chín gạo nếp thành xôi, để nguội và ủ với men rượu cho lên men thành rượu.

Rượu nếp cái là thức ăn đồng thời cũng là đồ uống, dùng nguyên cả nước lẫn cái, hương vị ngon thơm được nhiều người ưa chuộng, kể cả người cao tuổi và trẻ em. Nguyên liệu được dùng là loại gạo nếp ngon, có thể dùng nếp cẩm, nếp cái hoa vàng, tốt nhất là dùng gạo nếp lứt có hạt màu nâu vàng, chưa xát hết cám gạo.
 
Cơm rượu nếp cẩm có tác dụng làm hạ nồng độ cholesterol có hại trong máu

Men rượu được làm từ nhiều loại thảo dược có đặc tính cay, nóng, nắm thành từng nắm nhỏ và ủ cho đến khi nở phồng, chuyển hoá thành một dạng men. Tuỳ theo kinh nghiệm và bí quyết riêng của từng người sản xuất, nguyên liệu làm men rượu có thể khác nhau. Chính men này là thành phần quan trọng tác động đến hương vị và chất lượng của rượu.
Vì được làm từ gạo nếp nên rượu nếp hay cơm rượu là một món ăn ngon và bổ dưỡng được nhiều người ưa thích. Hiện nay, rượu nếp không chỉ thấy bán trong dịp Tết Đoan ngọ mà có những gánh rượu nếp bán rong quanh năm rất đắt khách, nhất là món cơm rượu nếp cẩm.
 
Nếp cẩm dùng làm cơm rượu cẩm vẫn còn nguyên lớp vỏ lụa và lớp cám nên rất giàu chất dinh dưỡng, kể cả gluxit, protit, lipit, các muối khoáng và vitamin, nhất là vitamin B1. Món ăn này không những có tác dụng bồi bổ cơ thể mà còn giúp ăn ngon miệng, kích thích tiêu hoá. Những người tiêu hoá kém hoặc thấy chán ăn, dùng nước cơm rượu mỗi ngày hai lần trước bữa ăn, mỗi lần một chén nhỏ 50 - 60ml rất tốt.
Ngoài giá trị bổ dưỡng, y học cổ truyền cũng thường dùng cơm rượu nếp cẩm để dẫn thuốc vào tỳ vị và thần kinh. Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học cho thấy, cơm rượu nếp cẩm còn có thể giúp phòng ngừa bệnh tim, đột qụy và cao huyết áp.
 
Nghiên cứu còn cho thấy, cơm rượu nếp cẩm có tác dụng làm hạ nồng độ cholesterol có hại trong máu và có thể là liệu pháp thay thế thuốc hạ huyết áp đối với những bệnh nhân không dùng được loại thuốc này.

Theo BS Kim Minh - Khoa học và Đời sống