Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Đừng "đem tim... bỏ chợ"

Điều trị suy tim là chuyện nhiêu khê vì cơ tim một khi đã suy không thể phục hồi. Cách điều trị suy tim tốt nhất là làm sao để đừng suy tim.



Không thể bỏ qua cơ tim nếu muốn bàn về khả năng chịu đựng của bắp thịt. Với kích thước không lớn hơn nắm tay người lớn, cơ tim phải làm việc ngày đêm không ngừng, kể cả trong giấc ngủ, cho đến giây cuối của cuộc đời gia chủ. Cơ tim tuy vậy nhưng không dễ suy yếu. Ngoại trừ trường hợp dị tật bẩm sinh, suy tim, ngay cả khi là hậu quả của bệnh mãn tính, hiếm khi là chuyện ngày một ngày hai.
Suy tim xảy ra khi cơ tim không còn khả năng đảm bảo hiệu năng bơm máu đi xa và hút máu về tim. Cơ tim khi đó tuy tăng thể tích khiến trái tim có kích cỡ lớn bình thường nhưng lực co thắt lại suy giảm trầm trọng. Máu vì thế ứ đọng ở ngoại biên gây phù nề: trong hệ hô hấp gây khó thở, trên thành tim khiến thiếu máu cơ tim, trên vỏ não làm đột quỵ...
Muốn bảo vệ cơ tim, muốn phòng tránh suy tim cần lưu ý tối thiểu vài yếu tố sau, nói đúng hơn, cần chủ động tạo một số điều kiện thuận lợi để tim đừng phải cố gắng quá nhiều, quá thường xuyên trong lúc vận hành. Đó là:

* Giảm cân nếu béo phì để tim không phải cung ứng một lượng máu với số cầu vượt quá định mức bình thường.
* Vận động thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày để qua đó gián tiếp tập dượt cho trái tim dẻo dai, bền bỉ.
* Tầm soát định kỳ bệnh tiểu đường để đừng bị "đánh lén" bởi căn bệnh mang tên "cơn đại dịch của thế kỷ".
* Giữ tính đàn hồi cho mạch máu để giảm áp lực ngoại biên khi trái tim làm công việc đẩy máu. Tình trạng này càng nên được lưu ý ở người có huyết áp cao, ở đối tượng có huyết áp số dưới, còn gọi là huyết áp tâm trương, mấp mé chỉ số 100mmHg. Dược thảo có tác dụng kép vừa giãn mạch, vừa bảo vệ thành mạch như Đan sâm vì thế thường có mặt trong bài thuốc dành cho người biết thương trái tim của mình.
* Chống cục máu đông trong mạch vì dòng máu quá đậm đặc, chẳng hạn vì tác hại của stress. Thầy thuốc ngành tim mạch ở Nhật Bản, nơi trong nhiều chục năm trước đây đứng đầu về tỷ lệ nhồi máu cơ tim, ắt hẳn có lý do chính đáng khi áp dụng Nattokinase, men sinh học từ đậu tương, nhằm vừa ngăn ngừa cục máu đông trong lòng mạch, vừa cung cấp dưỡng khí cho tế bào thành tim. Bằng chứng là tỷ lệ thuyên tắc mạch vành ở người còn trẻ ở Nhật giảm thấy rõ trong nhiều thập niên vừa qua từ khi thầy thuốc kết hợp hoạt chất này trong phác đồ điều trị phòng ngừa.
* Cung cấp năng lượng cho cơ tim bằng cách sử dụng các loại chất đạm và khoáng tố cần thiết cho cấu trúc khỏe mạnh của cơ tim như L-Carnitine, Magie. Có thực mới vực được đạo. Muốn tim đua đường dài mà không cho tim ăn no thì đúng là ở ác với trái tim.
* Phân hủy mảng xơ vữa trên thành mạch để cầm chân đúng lúc tình trạng xơ vữa mạch máu, nguyên nhân làm tăng huyết áp và thiếu máu ở vùng mô lân cận. Không thiếu hoạt chất sinh học có công năng này. Berberin trong cây Vàng đằng là một dẫn chứng cụ thể.
Rối loạn chức năng của hệ tuần hoàn nếu không được điều trị trên tinh thần phòng cháy hơn chữa cháy là đòn bẩy dẫn đến suy tim. Chuyện khi đó chắc chắn nhiêu khê chẳng qua vì chuyện nhỏ lúc đầu xé ra to một cách oan uổng. Có khó lắm không để đối xử công bằng với trái tim?
Theo BS Lương Lễ Hoàng - DNSG

Cảnh giác bệnh tim khi đau lưng đột ngột

Đột ngột đau ngực hoặc đau lưng dữ dội, cảm giác đau như xé, lan lên cổ hoặc lan ra sau lưng, rất có thể bạn đã bị bóc tách động mạch chủ - một dạng bệnh tim nguy hiểm.

Động mạch chủ là mạch máu lớn nhất cơ thể, xuất phát từ tim và dẫn máu đi nuôi các cơ quan. Nó cấu tạo bởi 3 lớp: Lớp ngoài (ngoại mạc), lớp giữa (trung mạc) và lớp trong (nội mạc). Bóc tách động mạch chủ xảy ra khi lớp trong của động mạch chủ bị rách, máu đi qua chỗ rách này dưới áp lực cao sẽ tách rời lớp trong và lớp giữa và tạo thành một lòng giả cùng chứa máu song song với lòng thật ban đầu.  
Đây là một bệnh lý rất nặng. 33% bệnh nhân sẽ tử vong nếu không điều trị kịp thời trong 24 giờ đầu tiên. Tỷ lệ này tăng lên 50% trong 48 giờ đầu và 75% trong 2 tuần đầu tiên.
Bệnh nhân lớn tuổi, tỷ lệ bóc tách động mạch chủ cao nhất ở người từ 60 70 tuổi
Bệnh nhân tăng huyết áp cần uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ tim mạch, đo huyết áp thường xuyên để phòng ngừa bệnh bóc tách động mạch chủ. Ảnh: Lê Phương
Tử vong trong bóc tách động mạch chủ là do bóc tách lan đến các động mạch nuôi tim (động mạch vành), động mạch nuôi não và các tạng quan trọng của cơ thể, do vỡ lòng giả...
Triệu chứng của bóc tách động mạch chủ
Triệu chứng của bóc tách động mạch chủ gần giống với các triệu chứng của bệnh mạch vành. Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bao gồm:
- Đột ngột đau ngực hoặc đau lưng dữ dội, cảm giác đau như xé, lan lên cổ hoặc lan ra sau lưng.
- Khó thở.
- Vã mồ hôi.
- Ngất.
- Dấu hiệu giống tai biến mạch máu não: đột ngột khó nói, nhìn mờ, yếu liệt một bên cơ thể.
Khi có những dấu hiệu này, người bệnh nên lập tức gọi cấp cứu hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán và điều trị thích hợp cũng như chuyển đến những bệnh viện lớn kịp thời.
Những yếu tố nguy cơ cao bóc tách động mạch chủ
- Nam có tỷ lệ gấp đôi nữ.
- Bệnh nhân lớn tuổi, tỷ lệ bóc tách động mạch chủ cao nhất ở người 60-70 tuổi.
- Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu kéo dài không điều trị hoặc điều trị kém.
- Hút thuốc lá.
- Bệnh nhân bị các bệnh ảnh hưởng đến thành động mạch chủ: van động mạch chủ hai mảnh, hội chứng Marfan, hội chứng Ehlers - Danlos...
Điều trị bóc tách động mạch chủ
Bóc tách động mạch chủ là tình trạng cấp cứu, đòi hỏi phải điều trị càng sớm càng tốt. Điều trị phẫu thuật hay điều trị nội khoa (uống thuốc) tuỳ thuộc vào phần động mạch chủ bị ảnh hưởng.
Phòng ngừa bóc tách động mạch chủ
Vì bóc tách diễn ra khi áp lực trong lòng động mạch chủ tăng cao nên cách tốt nhất để phòng bệnh là kiểm soát huyết áp trong ngưỡng điều trị:
- Tăng huyết áp: Uống thuốc điều trị tăng huyết áp hàng ngày theo hướng dẫn của bác sĩ tim mạch, đo huyết áp thường xuyên để đánh giá hiệu quả của thuốc.
- Ngưng hút thuốc lá.
- Giữ cân nặng lý tưởng, tập thể dục đều đặn.
- Nếu trong gia đình có người bị bóc tách động mạch chủ, chúng ta nên đi khám để tầm soát các yếu tố nguy cơ nhằm phòng ngừa bệnh.

Theo TS.BS Nguyễn Hoàng Định - VnExpress

6 triệu chứng báo hiệu cơn đau tim

Đau tim rất nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong tức thì. Do đó, việc nhận biết trước các dấu hiệu, triệu chứng báo hiệu cơn đau sắp đến là rất quan trọng.


Tắc nghẽn động mạch tức là nguồn máu cung cấp cho tim bị ngưng lại một phần hoặc hoàn toàn, dẫn đến sự chết của một số cơ tim do thiếu oxi.

1. Cảm thấy đau ngực dữ dội

Cơn đau bắt đầu từ giữa ngực và kèm theo đó là cơn tức ngực. Người bị đau sẽ có cảm giác ngực như bị bóp nghẹt và cơn đau sẽ kéo dài hơn một vài phút. Bên cạnh đó, cơn đau sẽ tăng dần về cường độ và thêm phần dữ dội.

2. Nhịp thở ngắt quãng không lí do

Nhịp thở có thể bị ngắt quãng cùng lúc với cơn đau ngực. Oxy được lưu chuyển trong máu và khi thiếu oxy, trái tim sẽ ngừng bơm máu, dẫn tới hiện tượng thiếu oxy gây ra nhịp thở ngắt quãng.

3. Cơn đau lan rộng

Cơn đau bắt đầu ở một điểm và lan ra khu vực xung quanh. Cơn đau thường lan lên vai trái, xuống mặt trong cánh tay trái và bàn tay trái. Đau cũng có thể lan ra sau lưng hoặc lan lên cằm, cổ tới răng. Người bệnh có thể đau đến mức vã mồ hôi, khó thở, ôm lấy ngực.

4. Dấu hiệu kèm theo

Trước khi lên cơn đau, Bệnh nhân thường có các biểu hiện chóng mặt, buồn nôn, ngất xỉu, vã mồ hôi và hơi thở dồn dập. Những triệu chứng này thường bị hiểu nhầm là do rối loạn tinh thần, và hay bị bỏ qua.

5. Da nhợt nhạt

Đây là kết quả của việc máu không được vận chuyển tới tim. Cơn đau càng kéo dài, da mặt của bệnh nhân càng tái nhợt. Trong trường hợp này, bệnh nhân cần phải được đưa tới bệnh viện ngay lập tức và nhận được sự hỗ trợ từ các nhân viên y tế.

6. Lo lắng không lí do và cảm thấy hoảng loạn

Khi một cơn đau tim sắp xảy ra, bệnh nhân cảm thấy lo lắng và hoảng loạn. Trong nhiều trường hợp, đi kèm với biểu hiện lo lắng là làn da ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Khác với một số nhận định, thực tế, cơn đau tim không bắt đầu với biểu hiệnđau tức ngực mà có thể cơn đau còn diễn ra không kèm triệu chứng nào cả. Điều này hay đặc biệt xảy ra ở những bệnh nhân mắc tiểu đường. Ở những bệnh nhân không mắc tiểu đường, cơn đau tim có thể xảy ra sau những cơn đau nhẹ và cuối cùng là nhồi máu cơ tim.

Nếu bệnh nhân không được hỗ trợ y tế kịp thời, hậu quả từ cơn đau là rất nghiêm trọng. Do vậy, các dấu hiệu đau nhẹ và triệu chứng bất thường cần được đặc biệt lưu tâm.

AloBacsi.vn
Theo Trần Hằng - Dân trí

Vì sao những cơn đau tim diễn ra phổ biến nhất vào 6.30 sáng?

Theo thống kê mới nhất, những cơn đau tim, thậm chí nguy hiểm hơn là đột quỵ thường phổ biến ở 6.30 sáng.

Các nhà khoa học gần đây cũng đã phát hiện lý do của hiện tương trên chính là do đồng hồ sinh học của cơ thể và một loại protein trong máu có chức năng làm chậm quá trình phân hủy các cục máu đông.

Nhóm những nhà khoa học từ bệnh viện phụ nữ ở Boston, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu mức độ protein trong cơ thể của 12 tình nguyện viên khỏe mạnh trong 2 tuần. Những người tham gia sẽ thực hiện khi những thói quen hàng ngày của bản thân không đồng bộ với đồng hồ sinh học của cơ thể với mục đích kiểm tra đồng hồ sinh học cơ thể hoặc các hoạt động thường ngày có gây ra có làm thay đổi mức protein hay không?. Đặc biệt những nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu sự thay đổi mức độ của protein Plasminogen (PAI-1), có chức năng ức chế sự phân hủy của các cục máu đông. 

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Blood và được xem là một đóng góp rất lớn cho ngành tim mạch. Kết quả lớn nhất của nghiên cứu là đã tìm ra một nhịp điệu chặt chẽ của PAI-1 và đạt đỉnh vào khoảng 6h30 sáng.

Tiến sĩ Frank Scheer, người đứng đầu nghiên cứu cho biết: “Phát hiện của chúng tôi cho thấy đồng hồ sinh học của cơ thể đã tác động vào việc gia tăng nguy cơ tai biến tim mạch vào buổi sáng. Hơn nữa, hệ thống sinh học của con người tạo ra mức PAI-1 cao nhất vào buổi sáng mà không phụ thuộc bất kì tác động nào của môi trường xung quanh. Trên thực tế, hệ thống cũng xác định được phạm vi rộng của nhịp PAI-1 thông qua các chu kỳ ngủ/ thức hàng ngày. PAI-1 đạt mức cao nhất có thể giải thích cho các vấn đề xấu của tim mạch dễ phát sinh vào buổi sáng.” 


Theo Dân Việt

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Dấu hiệu bệnh tim phụ nữ thường bỏ qua

Nếu bạn không thể đi bộ thoải mái, phải dừng lại nghỉ ngơi trong khi đang làm những công việc hằng ngày, đó có thể là dấu hiệu cho thấy máu lưu thông đến tim không đủ.

Theo Foxnews, ước tính có 38.000 phụ nữ dưới 50 tuổi bị bệnh tim hàng năm ở Mỹ. Nhiều người mắc bệnh mà không phát hiện sớm để điều trị kịp thời bởi những vấn đề về tim có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác như chứng khó tiêu, đau dạ dày. Do đó bạn hãy xem kỹ những triệu chứng cảnh báo bệnh tim dưới đây để đề phòng:
1. Cảm giác ngứa ran ở cánh tay hoặc chân
Tình trạng này xảy ra có thể do một dây thần kinh bị chèn ép hoặc bạn vị viêm khớp cổ. Đây là một trong những dấu hiệu cảnh báo nguy cơ bệnh tim dễ bị bỏ qua nhất.
1tim-6db30-6244-1392862731.jpg
Tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh tim ngày càng gia tăng. Ảnh: Foxnews.
2. Nôn hoặc buồn nôn
Nôn và buồn nôn thường là vấn đề về dạ dày. Tuy nhiên, nó có thể là dấu hiệu của bệnh tim nếu đi kèm với triệu chứng khó thở, toát mồ hôi hoặc đau ngực, đau lưng.
3. Khó thở, tim đập nhanh
Rất khó phân biệt giữa sự hoảng loạn bình thường và cơn đau tim vì chúng có những triệu chứng tương tự nhau. Thỉnh thoảng sự hoảng loạn xảy ra là do cơ thể bị kích thích, căng thẳng khiến bạn run rẩy, sợ hãi và cảm giác chết chóc bao trùm. Sự hoảng loạn thường đến đột ngột, kéo dài khoảng 5 phút. Trong khi triệu chứng đau tim ở phụ nữ có xu hướng bắt đầu từ từ và kéo dài dai dẳng.
4. Đau hàm
Hàm có thể đau nếu bạn bị đau tim, vì dây thần kinh gắn liền với hàm nằm gần tim. Cảm giác đau ở hàm thông thường là vấn đề về nha khoa. Tuy nhiên, nếu bị đau liên tục và ngày càng nặng hơn khi bạn cố gắng dùng mọi cách để giảm đau thì nhiều khả năng bạn bị bệnh tim.
5. Chóng mặt, choáng váng
Cảm thấy chóng mặt không lý do rõ ràng như tập thể dục quá độ hay mất nước thì có thể do máu về tim không đủ. Đặc biệt nếu chóng mặt đi kèm cảm giác khó thở hoặc toát mồ hôi, nhiều khả năng bạn đang bị vấn đề về tim.
6. Khó chịu ở ngực hoặc lưng nóng ran
Cơn đau tim ở phụ nữ khiến người bệnh cảm giác nặng nề, khó thở, áp lực hoặc cảm thấy lồng ngực bị ép lại. Cơn đau không nghiêm trọng hoặc bất ngờ, nó đến và mất trong vài tuần, vì vậy thường bị nhầm với chứng khó tiêu hoặc ợ nóng. Nếu cơn đau ngực và lưng không đến ngay sau bữa ăn, bạn không thường xuyên bị chứng khó tiêu mà lại hay bị buồn nôn thì nên đến bác sĩ kiểm tra kịp thời.
7. Mệt mỏi cùng cực
Nếu bạn không thể đi bộ thoải mái hoặc cảm thấy quá mệt mỏi, phải dừng và nghỉ ngơi trong khi đang làm những công việc hằng ngày, đó có thể là dấu hiệu cho thấy máu lưu thông đến tim không đủ.
Cơ chế đau tim xảy ra như thế nào?
Cơn đau tim bị kích hoạt bởi sự tích tụ của chất béo được gọi là mảng bám trong động mạch vành. Khi mảng bám dày và cứng lại sẽ dẫn đến xơ vữa động mạch - một loại bệnh tim phổ biến. Xơ vữa động mạch có thể làm tắc nghẽn mạch máu và ngăn cản oxy lưu thông đến cơ tim, dẫn đến đau tim.
Bên cạnh đó còn có các hình thức khác của bệnh tim bao gồm loạn nhịp tim và do các vấn đề sức khỏe bẩm sinh. Một vài yếu tố nguy cơ gây bệnh tim được kể đến như di truyền, huyết áp cao hoặc cholesterol cao, béo phì, hút thuốc, stress nặng và có lối sống ít vận động. Tuy nhiên, bạn có thể bị đau tim mà không hề mắc những căn bệnh này.
Ngoài ra, có một nguyên nhân gây bệnh tim hiếm gặp là do tụ máu đông và rách mạch máu ở tim. Đây được gọi là bóc tách động mạch vành tự phát, một căn bệnh phổ biến nhất ở độ tuổi 30-50.

Theo Thi Trân - VnExpress

Tim ngừng đập: Còn sống hay đã chết?

Tim ngừng đập, não không còn tín hiệu hoạt động, song không có nghĩa người đó đã chết, mà là trạng thái tồn tại giữa sự sống và cái chết, gọi là chết lâm sàng.

Chết lâm sàng ?
Hiện tượng chết lâm sàng là một trong những trạng thái kỳ lạ hiếm gặp ở con người, ở trạng thái này, các tế bào trong cơ thể con người vẫn còn sống.
Theo thông tin từ Congso.net, BS Đặng Văn Quế, phó giám đốc BV Mắt Quốc tế cho biết, chết lâm sàng là tình trạng tim, phổi ngừng hoạt động hoặc hoạt động rất yếu, các tri giác mất hoàn toàn, chân tay mềm nhũn, lòng tử mắt giãn ra, một số hoạt chất như axitlactic và phốt pho tăng lên, hiện tượng giáng hóa và tổng hợp trong cơ thể bị đảo lộn.
Còn theo TS Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học ứng dụng (UIA), chết lâm sàng vẫn xảy ra trong thực tế dù tỷ lệ rất thấp, chiếm khoảng 2/10.000 ca. Theo ông Khanh, khi chết lâm sàng, nghĩa là mặc dù tim ngừng đập, phổi ngừng hoạt động nhưng não bộ vẫn hoạt động và họ vẫn còn cảm nhận được những gì xung quanh và phải mất 10 – 12 giờ để thần thức ra khỏi cơ thể, tức là hồn lìa khỏi xác thì lúc đó mới là chết hẳn.
Còn theo nguồn thông tin từ Vnexpress, Giáo sư Rant Bagdasarov với 29 năm nghiên cứu về “chết lâm sàng” có thể khẳng định với đầy đủ luận cứ khoa học rằng: Chỉ khi các mô và tế bào của cơ thể bắt đầu tan rã, không phục hồi được mới có thể coi là người bệnh đã chết. Tim ngừng đập, não ngừng hoạt động chỉ là một sự cảnh báo về nguy cơ chết. Trong lúc đó, cơ thể người bệnh vẫn sống trong trạng thái “chờ đợi “ xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Giai đoạn chết lâm sàng là giai đoạn vẫn có thể hồi sinh. Có người sống lại sau 8, 9 ngày tưởng như đã chết nhưng về cơ bản, sau khi chết được 12 tiếng thì khó hồi sinh hơn vì khi đó thần thức đã hoàn toàn ra khỏi cơ thể.
Theo y khoa, nếu có những tác động kịp thời thì cơ thể có thể thoát khỏi trạng thái này và sống lại. Việc đưa người chết lâm sàng sống lại bằng cách kích thích rung tim được xem là cách tốt nhất. Tuy nhiên, hầu hết những trường hợp được cứu sống lại sau khi tim ngừng đập đều mắc phải chấn thương não nên không thể sống lâu.
Song trong không ít trường hợp, những người sống sót được sau khi tim ngừng đập đã bị mắc phải một số chấn thương não bộ. Tất nhiên là những ca chấn thương não bộ nghiêm trọng hầu như không thể sống sót lâu.
Cấp cứu tim ngừng đập
Tim ngừng đập: Còn sống hay đã chết? - Ảnh 1

Trong trường hợp bệnh nhân tim ngừng đập chưa được đưa đến viện hoặc không có máy khử rung tim thì nên xử lý cấp cứu bệnh nhân bằng cách ép ngực kết hợp với hà hơi thổi ngạt. Nhanh chóng đặt người bệnh trên phản cứng, tấm ván. Cởi cúc áo cổ và thắt lưng của người bệnh, cho nằm duỗi thẳng, bỏ gối đầu, đệm dưới bả vai, cho đầu của người bệnh ngửa ra đằng sau.
Tiến hành các thao tác ép ngực và hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt) làm cho máu lưu thông đến các cơ quan quan trọng như não và chứa đủ oxy.
Đặt phần gót của bàn tay này lên trên phần lưng của bàn tay kia và đan các ngón tay lại với nhau. Chống vững lên người nạn nhân, ép tay thằng xuống, nén xương ức sâu xuống 1/3 lồng ngực, ở người lớn là từ 4-5cm., không nên nén quá mạnh sẽ làm gãy xương của người bệnh
Thả lực ép nhưng vẫn giữ nguyên vị trí bàn tay trên xương ức. Ép ngực 15 lần, tốc độ 100 lần / phút. Thời gian ép và thả với khoảng cách bằng nhau.
Người làm hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt), một tay mở miệng, tay kia bịt chặt mũi của người bệnh, hít một hơi dài rồi thổi hơi vào mồm của người bệnh, sau đó lấy hai tay ấn lên lồng ngực của người bệnh để giúp người bệnh hô hấp
Sau 15 lần ép, nghiêng đầu, nâng cằm nạn nhân và thổi 2 hơi vào miệng nạn nhân. Tiếp tục chu trình này (15 lần ép, 2 lần thổi), không gián đoạn chu trình CPR trừ khi nạn nhân có thể cử động hoặc tự thở lại được. Tiếp tục chu trình này đến khi: Phương tiện cấp cứu đến và mang nạn nhân đi, thấy nạn nhân biểu hiện có sự tuần hoàn máu trở lại.

Theo Minh Gianh - Đời sống và Pháp luật

Rét đậm, người có tiền sử tim mạch dễ bị tái phát

Bác sĩ khuyên người có bệnh tim không ăn nhiều chất béo, không ăn nhiều đường, tinh bột và thường xuyên vận động.

Liên tục trong mấy ngày qua, miền Bắc xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài, số lượng người đến khám và điều trị bệnh liên quan đến tim mạch gia tăng. Thậm chí có những ngày, số lượng người đến khám và điều trị tăng gấp đôi so với thời điểm trước Tết.
Một tuần trở lại đây, tại khoa khám tim mạch của Viện Lão khoa Quốc gia, số lượng người đến khám và điều trị tăng từ 15- 25% so với những ngày trước Tết. Ông Nguyễn Văn Bình, ở Quảng Ninh đang đợi đến lượt khám cho biết, ngay từ 7h sáng, hàng chục người đã ngồi chờ vào khám. Tuần trước ông cảm thây mệt mỏi và sức khỏe có biểu hiện xấu hơn nên con cháu đưa ông vào viện.

“Ở nhà thấy khó thở và huyết áp lên cao. Năm nay thời tiết rét quá, tự nhiên thấy ngực đau, tim đau. Bệnh này của tôi mới xuất hiện, trước đây chưa có tiền sử. Huyết áp lên cao. Mặt nóng bừng bừng, tôi nghi ngờ liên quan đến bệnh tim nên đi khám. Hôm nay người đến khám bệnh rất đông, có lẽ do rét quá người già dễ mắc bệnh”- ông Bình chia sẻ.
Ông Mai Văn Phúc ở Đô Lương, Nghệ An cho biết, ông bị bệnh tim cách đây đã hai năm. Ra Tết, thời tiết lạnh đột ngột khiến bệnh tái phát. Cũng may con cháu đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông đã qua cơn nguy hiểm: “Khi phát hiện được là con cháu đưa đi cấp cứu ngoài bệnh viện này luôn. Lúc đó, tôi đau liên tục, dữ dội và nhịp tim thấp xuống khoảng 60 đến 65, rất mệt và không đi được. Ra đây các bác sĩ cho vào cấp cứu ngay. Trời nắng người mắc bệnh tim dễ chịu hơn. Lạnh xuống, khó chịu, râm ran đau. Nhất là những người bị tim mạch liên quan đến tiểu đường, huyết áp thì rất mệt nên phải giữ gìn ăn uống”.
BS Nguyễn Thị Thu Hoài, Trưởng khoa Tim mạch, Viện Tim mạch (BV Bạch Mai) cho biết, mấy ngày nay, mỗi ngày có gần 300 người đến khám và điều trị, tăng gấp đôi so với trước Tết. Viện có hơn 200 giường bệnh nhưng thường xuyên trong tình trạng quá tải bởi luôn có hơn 300 người điều trị nội trú. Ngoài nguyên nhân do thời tiết thay đổi bất thường thì chế chế độ ăn uống của người già trong dịp Tết cũng đã ảnh hưởng tới người có tiền sử mắc bệnh về tim mạch. 
BS Nguyễn Thị Thu Hoài khuyến cáo: “Những người cao tuổi vào thời tiết lạnh phải giữ ấm cơ thể. Không để lạnh cổ, không để lạnh chân tay dẫn đến gây co mạch, tăng huyết áp, hay đau thắt ngực. Đặc biệt, nửa đêm về sang, khi đi vệ sinh không đi ra ngoài gió lạnh đột ngột. Bởi rất dễ xảy ra cơn đột quỵ như nhồi máu não hoặc xuất huyết não, rất nguy hiểm. 
Người có tuổi, nguy cơ mặc bệnh tim mạch cao hơn so với người trẻ tuổi. Cho nên họ phải luôn luôn tuân thủ các chế độ sinh hoạt giúp phòng bệnh tim mạch. Ví dụ như không ăn nhiều chất béo, không ăn nhiều đường, tinh bột và thường xuyên vận động. Nếu có bệnh tim mạch rồi phải thường xuyên đi khám định kỳ để điều chỉnh thuốc và uống thuốc đều theo đơn”.
AloBacsi.vn
Theo Lê Phương -Thu Hiền/VOV – Trung tâm Tin

Những triệu chứng bệnh tim ở phụ nữ tuổi mãn kinh

Do tác dụng bảo vệ của hoóc môn nữ tính ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh giảm xuống nên khả năng mắc bệnh tim sẽ tăng lên rất nhiều.

Điều khác với nam giới, phụ nữ chủ yếu bị tai biến ở mạch mao mạch, do đó có đến 50% phụ nữ khi phát bệnh tim chưa bao giờ cảm thấy đau và tức ngực.

Từ năm 1984 đến nay, số phụ nữ tử vong hàng năm do bệnh tim nhiều hơn nam giới. Vậy chị em phụ nữ phải làm thế nào để kịp thời phát hiện những triệu chứng của bệnh tim?

Tiến sỹ Marcoliato, Chủ tịch phân Hội tim mạch Los Angeles của Mỹ mới đây đã khuyến cáo nếu phụ nữ xuất hiện những triệu chứng sau đây thì phải hết sức cẩn trọng:

1. Thường xuyên cảm thấy mệt mỏi không rõ lý do tại sao

Mệt mỏi như vậy thường xuất hiện sau khi đi nhanh, thậm chí không đủ sức để đứng thẳng người lên. Mệt mỏi không chỉ ở một bộ phận nào đó trên cơ thể mà là toàn thân.

2. Thở gấp, khó thở

Một số người mắc bệnh tim, ngoài xuất hiện những triệu chứng thông thường, còn có hiện tượng thở gấp, khó thở.

Ngồi yên nghỉ mấy phút là nhịp thở sẽ trở lại bình thừơng, nhưng khi tiếp tục đi, thì lại thở dốc. Triệu chứng này thường không được coi trọng, đặc biệt là những người cao tuổi mắc bệnh phổi lại càng không để ý đến triệu chứng này.

3. Đau dạ dày


Khác với bệnh dạ dày bình thường, đau dạ dày do bệnh tim gây nên ít khi cảm thấy đau quặn, đau nhói, ấn vào bụng cũng không thường thấy thấy đau, mà chỉ cảm thấy đau âm ỉ và đầy bụng, có lúc còn có cảm giác đau tức và buồn nôn.

4. Đau quai hàm và cổ

Nhiều phụ nữ cảm thấy đau hai bên quai hàm, có lúc đau một bên cổ hoặc cả hai bên, một thời gian sau bị chẩn đoán là mắc bệnh tim.

5. Đau cánh tay, đặc biệt là cánh tay trái

Khi mắc bệnh tin, thường là cánh tay trái và vai trái của phụ nữ bị ảnh hưởng, khi nghiêm trọng cánh tay phải cũng bị đau.

Tuy không phải đau lắm, nhưng khi giơ tay lên cao cũng rất khó khăn. Đau thường là đau tức, chứ không đau nhức, không đau rộng đến cổ tay và ngón tay, thường chỉ đau phía trong cánh tay trước.


Theo VietNamplus

Thế nào là bệnh cơ tim phì đại?

Phần lớn các trường hợp đều bị phì đại vách liên thất, làm tắc nghẽn đường ra thất trái. Đây là một bệnh di truyền với tỷ lệ mắc bệnh là 1/500.

Cơ tim phì đại là sự dày lên bất thường của tâm thất trái hoặc toàn bộ cơ tim, thất phải, mỏm tim bị phì đại. Phần lớn các trường hợp đều bị phì đại vách liên thất, làm tắc nghẽn đường ra thất trái. Đây là một bệnh di truyền với tỷ lệ mắc bệnh là 1/500. Bệnh này là nguyên nhân dẫn đến sự đột tử ở những vận động viên và người trẻ tuổi.
Bệnh di truyền do đột biến gen
Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện ra 13 gen với hơn 900 đột biến ở các gen này có thể dẫn đến bệnh cơ tim phì đại. Trong đó, khoảng 60% bệnh nhân được xác định nguyên nhân mắc bệnh là do đột biến gen mã hóa các protein của cấu trúc sarcomere trong cơ tim và 40% các trường hợp còn lại có nguyên nhân do đột biến ở các gen khác hoặc không rõ nguyên nhân.
Tiêu bản trong bệnh cơ tim phì đại.
Tiêu bản trong bệnh cơ tim phì đại
Biểu hiện bệnh
Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh này đều không có triệu chứng và họ có thể sống một cuộc sống bình thường như những người bình thường. Trên thực tế chỉ hay gặp ở người trẻ tuổi và vận động viên thể thao, xảy ra triệu chứng đầu tiên và cũng là cuối cùng của bệnh phì đại cơ tim là đột tử. Tuy nhiên, ở một số ít bệnh nhân có thể có một trong các triệu chứng sau đây: đau ngực, chóng mặt và hoa mắt, nhất là trong lúc vận động mạnh hoặc khi thay đổi tư thế đột ngột, khó thở, thường xuyên mệt mỏi, hay bị ngất xỉu.
Hầu hết các trường hợp mắc bệnh cơ tim phì đại chỉ được phát hiện một cách tình cờ khi được kiểm tra sức khỏe định kỳ hoặc khám vì một bệnh lý khác. Nếu khám tim, dấu hiệu dễ nhận biết là những âm thanh bất thường hoặc âm thổi trong tim. Khi đó, bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm: siêu âm tim, điện tâm đồ, chụp phim Xquang, thông tim để đo áp lực máu ở các buồng tim. Ngoài ra ở các nước tiên tiến, bệnh nhân và người thân trong gia đình như cha mẹ, con cái, anh chị em, sẽ được xét nghiệm gen để tìm đột biến gây bệnh.
Cơ tim phì đại.
Cơ tim phì đại
Điều trị thế nào?
Việc điều trị chủ yếu để giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh, chủ yếu là dùng thuốc và thay đổi lối sống. Các thuốc thường được dùng là: thuốc chẹn beta để làm giảm nhịp tim và bảo tồn cơ tim; thuốc chẹn kênh canxi: kéo dài thời gian thời kỳ tâm trương và tăng sức co bóp; thuốc chống rối loạn nhịp tim. 
Vấn đề thay đổi lối sống gồm: tránh gắng sức và tránh tham gia các môn thể thao có cường độ vận động cao như bóng đá, bóng rổ, điền kinh... Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng thuốc, phải dùng các phương pháp phẫu thuật hoặc cắt đốt cơ tim bằng cồn nguyên chất để điều trị.
Phẫu thuật cắt lọc cơ tim: Phần phì đại của vách liên thất sẽ được cắt bỏ nhằm giải phóng đường ra thất trái không còn tắc nghẽn nữa. Đồng thời khi phẫu thuật có thể sửa chữa các van tim bệnh lý cho bệnh nhân. Một số nghiên cứu cho thấy phẫu thuật có tỷ lệ tử vong nhỏ hơn 2 - 3%, sau khi phẫu thuật, 90% bệnh nhân được cải thiện rõ rệt ngay tức khắc và bệnh nhân có thể sống cuộc sống bình thường trong hơn 30 năm sau đó. Đối với một số trường hợp, hệ thống dẫn truyền tim bị ảnh hưởng thì bệnh nhân sẽ phải gắn máy tạo nhịp vĩnh viễn.
Đốt cơ tim bằng cồn nguyên chất: Phương pháp này mới được áp dụng gần đây, người ta đưa ống thông theo đường động mạch đến động mạch vành cung cấp máu nuôi phần cơ tim được phì đại; sau khi xác định được nhánh động mạch thích hợp, phẫu thuật viên sẽ bơm từ 3 - 4ml cồn nguyên chất 100o, nhánh động mạch đó sẽ bị tắc và ngưng cung cấp máu cho phần cơ tim bị phì đại, kết quả phần phì đại sẽ thu nhỏ lại sau 8 - 12 tuần. Phương pháp này chỉ có tác dụng ở 70 - 80% bệnh nhân và thời gian hiệu nghiệm dưới 5 năm.
Lời khuyên của bác sĩ
Bệnh phì đại cơ tim là một bệnh di truyền do đột biến gen nên không có phương pháp phòng ngừa hiệu quả, vì thế mọi người chỉ cố gắng phát hiện bệnh sớm để điều trị kịp thời tránh các tai biến nặng như đột tử. Khi bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh, người nhà cần được kiểm tra để phát hiện và phòng tránh tiến triển nặng của bệnh. 
Ở những bệnh nhân có nguy cơ đột tử cao do loạn nhịp tim, bệnh nhân có thể được gắn máy khử rung tim để dập tắt những cơn loạn nhịp khi cần thiết. Loại máy này là một thiết bị nhỏ được gắn dưới da ở ngực bệnh nhân và có điện cực được dẫn đến tâm nhĩ hoặc tâm thất phải; máy liên tục theo dõi nhịp tim của bệnh nhân. Khi phát hiện những nhịp tim bất thường, máy sẽ phát ra những cú sốc điện để dập tắt cơn loạn nhịp giúp tim đập trở lại nhịp bình thường. 
Tuy nhiên, máy có nguy cơ lớn nhất là bệnh nhân có thể bị sốc khi họ không bị loạn nhịp, nhất là ở những bệnh nhân trẻ và hoạt động thể lực nhiều. Khi sốc, bệnh nhân có thể bị đau đớn và tuổi thọ của máy cũng bị giảm đi. Do đó những bệnh nhân đã được gắn máy này cần được bác sĩ nắm chắc về thói quen vận động và lối sống để có thể lập trình cho máy một cách thích hợp.

Theo ThS. Nguyễn Mạnh Hà - Sức khỏe & Đời sống

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Những cách phòng tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não đáng sợ không chỉ vì nó gây chết người mà còn bởi nếu may mắn song sót, họ có nguy cơ tàn phế suốt đời rất cao.

Nhiệt lượng thấp
7 cách dưới đây giúp giảm thiểu nguy cơ tai biến mạch máu não:
Nhiệt lượng thấp
Ít ăn thực phẩm có nhiều chất béo bão hòa và cholesterol sẽ giúp giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, suy trì sức khỏe não bộ.
Hàng ngày ít nhất ăn 110g hoa quả và rau xanh, lựa chọn đồ ăn vặt có nhiệt lượng, chất béo thấp, cố gắng dùng dầu ô liu hoặc thực vật, hạn chế ăn quá mặn.
Giảm trọng lượng
Trọng lượng cơ thể vượt chuẩn hoặc béo phì sẽ làm cho chất béo trong cơ thể dư thừa, tạo mỡ máu và huyết khối. Ngoài ra, còn tăng gánh nặng cho tim làm cho huyết áp tăng cao.
Giảm cân sẽ đồng nghĩa với giảm thấp những nguy cơ này.
Vận động nhiều
Vận động là bác sỹ sức khỏe tuyệt vời nhất, là phương pháp tiêu hao nhiệt lượng trong cơ thể tốt nhất, giảm nhẹ thể trọng đồng thời còn trợ giúp cải thiện chức năng tim mạch, tránh được nguy cơ đột quỵ, giống như mua cho não một phần bảo hiểm y tế.
Hàng ngày tốt nhất duy trì 30 phút vận động mạnh, mỗi tuần ít nhất tập luyện 5 ngày, vận động đa dạng ví dụ nhày dây, tản bộ, đi bộ nhanh, bơi, đi xe đạp vv
Hạn chế rượu
Thành phần cồn trong rượu sẽ làm giảm khả năng co bóp của cơ tim. Uống rượu quá lượng sẽ hại cho cơ tim, gây cao huyết áp và tai biến mạch máu não đồng thời làm tăng nguy cơ béo phì.
Hạn chế rượu tương đương với việc "mua" bảo hiểm rủi ro cho não. Nam giới uống rượu không nên vượt quá 2 ly nhỏ/ngày, nữ giới chỉ 1 ly/ngày (1 ly tương đương với 340g bia, 142g rượu vang đỏ hoặc 42.5g rượu trắng).
Khống chế huyết áp
Cao huyết áp là thủ phạm gây ra tai biến mạch máu não đồng thời gây xơ vữa động mạch vành, xơ hóa cơ tim, thận yếu, mờ mắt, mù mắt. Khống chế huyết áp là cách hữu hiệu tránh được các bệnh hiểm nghèo. Người mắc bệnh cao huyết áp nên tuân thủ yêu cầu của bác sỹ trong dùng thuốc, ăn uống hợp lý, tăng cường luyện tập.
Cai thuốc lá
Khói thuốc không ngừng vắt kiệt sức khỏe, Carbon monoxide và nicotine gây hẹp mạch máu, làm tăng nguy cơ huyết khối, từ đó gây hại cho hệ tim mạch và não bộ.
Uống nước
Nhiều nghiên cứu phát hiện, người uống mỗi ngày ít nhất uống 6 cốc nước thì nguy cơ tử vong do tai biến mạch máu não giảm hơn 50% so với người ít uống nước. Vì nước giúp làm loãng máu. Ngoài ra, uống nước còn có ích cho sự trao đổi chất, giúp ngăn ngừa táo bón, thúc đẩy tiêu hóa.

Theo Tùng Đan - Dân trí/ xinhuanet

Nặng ngực, khó thở, coi chừng phình động mạch chủ

Khi động mạch chủ bị phình, bệnh nhân sẽ có các dấu hiệu khó thở, đau ngực..., có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng do mất máu.

Động mạch chủ là đường dẫn máu lớn nhất của cơ thể, xuất phát từ tim và chia nhánh đem máu giàu oxy đến các cơ quan. Phình động mạch chủ là sự suy yếu một đoạn thành động mạch chủ dẫn đến giãn bất thường với đường kính > 50% đường kính bình thường. 
Phẫu thuật phình động mạch chủ tại BV ĐH Y dược TP HCM. Ảnh: T.A
Một ca phẫu thuật phình động mạch chủ tại BV ĐH Y dược TP HCM. Ảnh: T.A.
Dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ phình động mạch chủ
Túi phình động mạch chủ thường phát triển chậm và không có triệu chứng nên khó phát hiện sớm. Khi túi phình đủ lớn, bệnh nhân có thể có các dấu hiệu và triệu chứng sau:
Đối với phình động mạch chủ ngực, các dấu hiệu nổi bật là:
- Nặng ngực hoặc đau ngực.
- Đau lưng.
- Khàn tiếng kéo dài.
- Khó nuốt.
- Khó thở.
- Ho ra máu.
Đối với phình động mạch chủ bụng, đau bụng âm ỉ là triệu chứng chủ yếu. Nguy cơ lớn nhất của phình động mạch chủ là vỡ túi phình, đây là biến chứng rất nặng có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng do mất máu. Các dấu hiệu gợi ý vỡ phình động mạch chủ ngực bao gồm:
- Đau ngực dữ dội xuất hiện đột ngột, cơn đau lan ra sau lưng đối với phình động mạch chủ ngực; đau bụng dữ dội đối với phình động mạch chủ bụng.
- Khó thở nhiều.
- Da xanh nhợt.
- Ngất.
- Tụt huyết áp.
Khi có những dấu hiệu trên cần đưa bệnh nhân đến cấp cứu tại cơ sở y tế gần nhất để có những xử trí thích hợp.
Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ sau có thể mắc bệnh: 
- Tuổi: Phình động mạch chủ thường xảy ra ở bệnh nhân > 65 tuổi.
- Hút thuốc lá: Thuốc lá là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh phình động mạch chủ, thời gian hút càng lâu và số lượng hút càng lớn thì nguy cơ càng cao.
- Tăng huyết áp: Tăng huyết áp làm tăng áp lực lên thành động mạch chủ, làm tăng nguy cơ xuất hiện túi phình.
- Rối loạn lipid máu: Tăng lipid máu sẽ dẫn đến hình thành các mảng xơ vữa trong thành động mạch chủ và gây suy yếu thành mạch.
- Gia đình có người bị bệnh phình động mạch chủ.
Phình động mạch chủ thường được phát hiện thông qua các xét nghiệm thường quy hoặc tình cờ phát hiện khi chẩn đoán một bệnh khác. Các xét nghiệm thường được sử dụng để chẩn đoán phình động mạch chủ ngực là Xquang tim phổi, siêu âm tim, CT Scan ngực có sử dụng thuốc cản quang.
Mục tiêu của điều trị bệnh phình động mạch chủ là ngăn ngừa biến chứng vỡ túi phình. Tùy thuộc vào kích thước, hình dạng và tốc độ phát triển của túi phình mà bác sĩ quyết định phương pháp điều trị từ theo dõi và uống thuốc đến phẫu thuật cấp cứu. Các bác sĩ sẽ lựa chọn điều trị nội khoa (uống thuốc và theo dõi) hoặc điều trị phẫu thuật.
Nếu túi phình động mạch chủ ngực có kích thước nhỏ, bác sĩ sẽ đề nghị tiếp tục theo dõi và uống thuốc cũng như điều chỉnh lối sống để điều trị các yếu tố nguy cơ của bệnh. Thông thường, bệnh nhân sẽ được kiểm tra định kỳ kích thước túi phình mỗi 6 tháng để đánh giá sự tăng trưởng và nguy cơ vỡ.
Nếu kích thước túi phình động mạch chủ > 5,5 cm trên CT Scan, bệnh nhân sẽ được chỉ định điều trị phẫu thuật để ngăn ngừa nguy cơ vỡ túi phình. Dựa trên tình trạng của người bệnh, bác sĩ có thể chọn lựa một trong hai phương pháp sau:
Phẫu thuật mở: Bệnh nhân được mổ hở để thay đoạn phình động mạch chủ bằng một ống nhân tạo. Đây là một phẫu thuật phức tạp, cần sử dụng máy tim phổi ngoài cơ thể trong một số trường hợp. Bệnh nhân cần thời gian dài khoảng trên 1 tháng để hồi phục hoàn toàn.
Đặt giá đỡ (stent graft) động mạch chủ: Đây là loại phẫu thuật mới, ít xâm lấn và thời gian phẫu thuật ngắn hơn. Bác sĩ sẽ mổ một đường nhỏ ở đùi, từ đó đưa dụng cụ lên qua mạch máu để đến vị trí túi phình, sau đó sẽ bung giá đỡ để máu không còn lưu thông vào túi phình nữa, từ đó loại bỏ nguy cơ vỡ. Phương pháp này ít đau, ít biến chứng và thời gian hồi phục ngắn hơn so với phẫu thuật mở, với khoảng 2 tuần.
Lời khuyên sau khi được chẩn đoán phình động mạch chủ:
Nếu được chẩn đoán phình động mạch chủ và được bác sĩ quyết định tiếp tục theo dõi, bệnh nhân cần tránh các hoạt động sau:
- Nâng nhấc các vật nặng hoặc hoạt động thể thao đòi hỏi gắng sức nhiều.
- Tránh stress về tinh thần vì stress có thể làm tăng huyết áp.
- Ngưng hút thuốc lá.
- Tập thể dục nhẹ đều đặn.
- Tuân thủ điều trị tăng huyết áp (thay đổi sinh hoạt và sử dụng thuốc) để giữ huyết áp ở mức bình thường.
- Tuân thủ điều trị rối loạn mỡ trong máu.

Theo TS.BS Nguyễn Hoàng Định - VnExpress

Nhận biết và sơ cứu cơn đau tim

Cơn đau tim là một dạng tai biến thường gặp ở người trung niên, cao tuổi có một hay nhiều nguy cơ của bệnh tim mạch như cao huyết áp, tiểu đường, béo phì, tăng cholesterol máu, hút thuốc lá.

Cơn đau tim là tình trạng có một hoặc nhiều mạch máu đến nuôi tim bị tắc nghẽn đột ngột. Sự tắc nghẽn mạch máu này khiến việc nuôi dưỡng tế bào cơ tim bị sút giảm trầm trọng có thể dẫn đến chết tế bào cơ tim. 
Những tế bào cơ bị chết này không tham gia được việc dẫn truyền điện tim và co bóp của cơ tim. Tổn thương tế bào cơ tim với số lượng lớn hay tại một số vị trí đặc biệt có thể làm tim ngừng đập. Trong những trường hợp này, việc sơ cứu ban đầu là rất cần thiết để cứu sống người bệnh. Những tình huống này thường xảy ra tại nhà hay tại cơ quan. Sự hiểu biết về những triệu chứng của cơn đau tim cũng như dấu hiệu tim ngừng đập là rất quan trọng có thể giúp đỡ được cho người thân và bạn bè.
Nhiều thống kê cho thấy người bị cơn đau tim nặng thường chết trong 4 giờ đầu tiên sau khi xuất hiện cơn đau tim.
Các dấu hiệu sớm của cơn đau tim là:
- Cảm giác đau ở ngực phía sau xương ức như bị bóp nghẹn, đè nén hay cảm giác như co thắt, dao đâm, đau dữ dội trong lồng ngực. Đau ngực thường từ phía sau xương ức lan lên cổ, cằm, vai và tay bên trái đôi khi lan xuống cả 2 cánh tay. Kéo dài trên 20 phút.
Cộng thêm với đau ngực là các triệu chứng:
- Người vã mồ hôi.
- Mặt tái xanh.
- Tinh thần hốt hoảng.
- Cảm giác buồn nôn và nôn.
- Hơi thở nhanh và ngắn.
Khi người bên cạnh mình có những dấu hiệu này, chúng ta cần xử trí nhanh như sau:
1. Nhận biết rõ các triệu chứng và bình tĩnh kiểm soát tình huống.
2. Đặt bệnh nhân ngồi hoặc nằm xuống ở tư thế thoải mái.
3. Nới rộng quần áo và không cho phép bệnh nhân cử động.
Làm được những điều này bạn đã giúp tim bệnh nhân được nghỉ ngơi và hạn chế được tổn thương tại cơ tim phần nào.
4. Gọi ngay số điện thoại trung tâm cấp cứu. Nếu bệnh nhân đã từng bị đau tim thì người này thường mang theo thuốc ngậm dưới lưỡi - một loại thuốc giúp làm giãn mạch máu nuôi tim, tăng cường cung cấp máu cho tim. Bạn nên hỏi bệnh nhân có mang thuốc này theo hay không và lấy hộ thuốc cho bệnh nhân, không nên để bệnh nhân tự đi tìm thuốc. Giúp ổn định tâm lý bệnh nhân trong lúc chờ xe cứu thương đến.
5. Chuẩn bị sẵn sàng hô hấp nhân tạo xoa bóp tim ngoài lồng ngực.
Tóm lại, khi đứng trước tình huống nghi ngờ cơn đau tim ở một người nào đó, bạn cần thực hiện 4 bước sau đây:
- Đặt bệnh nhân nằm hoặc ngồi ở tư thế thoải mái.
- Nới lỏng quần áo và hỏi bệnh nhân có mang theo thuốc ngậm hay không.
- Tiếp xúc với bộ phận cấp cứu.
- Chuẩn bị hô hấp nhân tạo.


Theo Người lao động

Tăng huyết áp gây thiểu năng tuần hoàn não

Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng thiểu năng tuần hoàn não và ngược lại.


Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng thiểu năng tuần hoàn não và ngược lại. Trong y học cổ truyền cao huyết áp thuộc chứng huyễn vựng do đàm thấp, huyết ứ... gây nên. Do đó, việc dùng các thuốc hoạt huyết, làm giãn mạch máu, tăng lưu lượng tuần hoàn não như Cerecpas là hoàn toàn hợp lý. 

Hơn nữa, trong thành phần của sản phẩm này có xuyên khung, xích thược, hồng hoa, ngưu tất là những vị thuốc làm giãn mạch máu não rất tốt, đồng thời còn có khả năng, làm hạ huyết áp, giảm mỡ máu vì thế bạn có thể sử dụng đồng thời thuốc hạ áp tân dược với Cerecpas. Tôi chỉ lưu ý một điều là hai thứ thuốc phải dùng cách xa nhau ít nhất một giờ.
PGS, TS Nguyễn Minh Hiện
Huyết áp thấp, dưới 90/60 mmHg làm ảnh hưởng tới dòng máu nuôi não, có thể gây ra thiếu máu não. Như vậy, bạn nên nâng huyết áp, tập luyện thể dục thể thao, có chế độ dinh dưỡng hợp lý. Bạn nên duy trì huyết áp ở mức sinh lý bình thường 110/70 mmHg.


Theo Kiến thức

Người cao huyết áp ăn gì để an toàn ngày Tết?

Các món ăn ngày Tết thường nhiều muối, đường, cholesterol... đều là thực phẩm có hại cho người bệnh huyết áp, rối loạn mỡ máu.

Ths.BS Lê Thị Ngọc Vân, Trưởng Khoa Dinh dưỡng BV Nhân dân 115 cho biết, đặc điểm chung các món ăn ngày Tết là nhiều muối (giò lụa, giò thủ, xúc xích, lạp xưởng, tôm khô, khô bò, khô mực, dưa món, củ kiệu…), nhiều đường (bánh kẹo, mứt, nước ngọt có gas…), nhiều cholesterol (các loại thịt mỡ, xúc xích, dăm bông…), nhiều năng lượng (bánh tét, bánh chưng, thịt kho tàu), nhiều chất kích thích, rượu bia, ít rau củ quả.
Trong khi đó, yêu cầu dinh dưỡng cho người tăng huyết áp là phải ít muối, ít đường, ít cholesterol, hạn chế năng lượng, nhiều kali, đủ canxi, không rượu bia thuốc, thuốc lá. Vì thế, người cao huyết áp cần phải đặc biệt thận trọng khi lựa chọn thực phẩm.
Infographic hướng dẫn ăn uống an toàn ngà​y Tết cho người cao huyết áp.
Infographic hướng dẫn ăn uống an toàn ngày Tết cho người cao huyết áp. Xem chi tiết
Lời khuyên cho người cao huyết áp trong những ngày Tết là phải hạn chế thức ăn giàu năng lượng, hạn chế tối đa món ăn chế biến sẵn có nhiều muối, giảm món ăn nhiều dầu mỡ và cholesterol. Người bị cao huyết áp cũng cần hạn chế thức uống có cồn như rượu, bia; thay thức uống có gas bằng các loại nước ép trái cây. Bữa ăn người bệnh nên luôn có rau tươi, ăn nhiều trái cây tươi, uống thêm 1-2 ly sữa, ăn ngủ sinh hoạt điều độ, tránh thức khuya. Đặc biệt, người bệnh huyết áp nhớ uống thuốc huyết áp đều đặn theo toa.
Theo PGS. TS Lê Bạch Mai - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cao huyết áp là kẻ giết người thầm lặng. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo, cao huyết áp là bệnh nguy hiểm nhất trong thế kỷ 21. Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân cao huyết áp tăng 25% mỗi năm. Cao huyết áp gây nhiều biến chứng nguy hiểm khi bệnh nhân đồng thời bị rối loạn mỡ máu mà nguyên nhân chủ yếu là do sự suy giảm hoạt động của receptor tế bào.
Chế độ ăn ảnh hưởng nhiều đến bệnh. Ăn mặn quá làm giữ muối trong cơ thể, khối lượng tuần hoàn tăng lên làm huyết áp tăng. Chế độ ăn có mỡ bão hòa, nhiều béo đạm, nhiều cholesterol gây rối loạn mỡ máu, thành mạch dễ bị xơ vữa làm hẹp lòng mạch, lắng thêm canxi làm cứng thành mạch thì huyết áp sẽ tăng. "Phải có chế độ ăn cân đối, tăng rau củ quả”, PGS Mai khuyên. 

Theo Lê Phương - VnExpress

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

Huyết áp: Người sợ lên cao, kẻ e xuống thấp

Huyết áp cao có thể gây tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim... dẫn đến bại liệt, đột quỵ mới đáng sợ, còn huyết áp thấp thì chỉ cần tăng bồi bổ là ổn.

Rất nhiều người đã quan niệm như thế, nên hiện tượng huyết áp thấp, tuy gặp khá phổ biến trong cộng đồng, song lại ít được quan tâm chữa trị.

Ai, tại sao, ở đâu, thế nào?
Huyết áp: Người sợ lên cao, kẻ e xuống thấp
 
Huyết áp thấp không chỉ gặp ở người gầy, mà cả những người béo, dư cân cũng có thể bị. Theo một số thống kê, hiện nay huyết áp thấp chiếm khoảng 5 - 7% dân số trưởng thành. Phái nữ mắc bệnh huyết áp thấp nhiều hơn nam giới khoảng 30 lần. Cuộc sống căng thẳng, môi trường làm việc ô nhiễm, khuynh hướng lạm dụng hóa chất trong thực phẩm đã làm cho bệnh huyết áp thấp ngày càng gia tăng và không trừ một ai.

Khi nào được coi là bị chứng huyết áp thấp? Theo quy định của y học, thường xuyên có chỉ số huyết áp tối đa trên tối thiểu dưới 100/60 thì được xem là huyết áp thấp. Có hai loại huyết áp thấp là huyết áp thấp cơ địa và huyết áp thấp bệnh lý. Huyết áp thấp cơ địa là do thể trạng hoặc di truyền, hay gặp ở những vận động viên hoạt động thể lực thường xuyên và những người sống ở vùng cao. Huyết áp thấp bệnh lý là do giảm trương lực thần kinh mạch máu, hoặc là hậu quả của các bệnh khác như thiếu máu, viêm gan, viêm họng, viêm đường mật, bệnh do ký sinh trùng...
Nói chung, huyết áp thấp dù do cơ địa hay thứ phát cũng đều có thể gây ra những rối loạn như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt (nhất là khi thay đổi tư thế), rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, kém tập trung, lạnh tay chân. Huyết áp hạ quá thấp cũng có thể làm nhịp tim nhanh, gây choáng, ngất. Và một điều ít ai biết, huyết áp thấp cũng là nguyên nhân gây tai biến mạch máu não (chiếm tỷ lệ 10 - 15%) giống như tăng huyết áp.
Không muốn mất bò thì hãy lo làm chuồng
Để tránh những tác động cũng như biến chứng xấu từ tình trạng huyết áp thấp, nên thực hiện một số biện pháp dự phòng sau:
- Thay đổi tư thế đúng: Khi ngủ, máu tập trung vào gan, phổi, lách, nên gây ra tình trạng thiếu máu não tạm thời. Vì vậy, khi thức dậy cần nằm thêm một lúc, làm vài động tác khởi động đơn giản rồi mới ngồi dậy; để chân trên giường, sau đó mới từ từ thả chân xuống; ngồi một lúc rồi mới đứng lên. Trong sinh hoạt hằng ngày cũng cần tránh thay đổi tư thế đột ngột.
- Khi có dấu hiệu hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, cần nằm nghỉ ngơi ở tư thế đầu thấp để tăng lượng máu lên não.
- Người bị huyết áp thấp nên tránh trèo cao, ra nắng gắt hoặc để bị lạnh đột ngột, nhất là lúc đêm khuya.
Khác với cách hiểu sai lầm là huyết áp thấp do thiếu máu nên cần bồi bổ, người bị huyết áp thấp không nên ăn quá nhiều thức ăn bổ dưỡng như trứng, thịt mỡ, sữa béo..., nên ăn mặn hơn bình thường, dùng nước khoáng mặn hằng ngày càng tốt. Cũng cần thận trọng khi xông hơi, tắm nước nóng để tránh nguy cơ tụt huyết áp do mất nước, giãn mạch. Người bị huyết áp thấp vẫn có thể mắc bệnh tăng huyết áp, nhất là ở tuổi trên 50, vì vậy cần thường xuyên kiểm tra huyết áp để có thể điều chỉnh cho hợp lý.
Nhân sâm: thảo dược cho người huyết áp thấp
Nhân sâm có tác dụng làm tăng sức co bóp của cơ tim, làm tăng huyết áp, kích thích thần kinh và hô hấp. Nhưng nếu sử dụng liều cao, nhân sâm lại có tác dụng ức chế tim mạnh và làm hạ huyết áp. Nhân sâm còn giúp làm giảm cholesterol máu, giảm cholesterol LDL có hại và tăng cholesterol HDL có lợi cho sức khỏe, hỗ trợ tuần hoàn máu, giảm nguy cơ bệnh lý tim mạch.
Không nên dùng nhân sâm trong các trường hợp sốt cao, nhiễm trùng cấp tính, bệnh suyễn, huyết áp cao, ra máu kinh quá nhiều, chảy máu cam. Đông y cho rằng, nhân sâm "thương âm động hỏa" nên người cao huyết áp không nên dùng; ngoài ra cũng không nên dùng nhân sâm cùng với hải sản. Nhân sâm có thể dùng riêng hay kết hợp với một số vị thuốc khác như gừng, cam thảo, chế phụ tử để chữa bệnh huyết áp thấp.
* Ứng dụng chữa bệnh huyết áp thấp: nhân sâm 2 - 3g, can khương 2g, gừng khô 2g, sắc lấy nước uống 2 - 3 lần trong ngày. Hoặc có thể dùng bài thuốc độ sâm thang: nhân sâm 4g, chưng cách thủy, uống nhiều lần trong ngày.
AloBacsi.vn
 Theo BS Bạch Long - Doanh Nhân Sài Gòn

Nguy cơ tăng huyết áp từ mâm cỗ Tết

Người bệnh tăng huyết áp cần tránh ăn mặn, hạn chế béo, món xào rán... tuy nhiên, những bữa cỗ năm mới bên gia đình lại khiến đa phần bệnh nhân "tặc lưỡi" cho qua những nguyên tắc này.

PGS.TS. BS Nguyễn Xuân Ninh - Chuyên gia dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC đã có một số trao đổi về vấn đề ăn uống trong những ngày tết với một số bệnh thường gặp, đặc biệt là bệnh cao huyết áp.

Theo đó, PGS.TS. BS Ninh lưu ý tăng huyết áp là tình trạng bệnh lý rất phổ biến, khi huyết áp tối đa lớn hơn 140mmHg hoặc huyết áp tối thiểu lớn hơn 90mmHg, là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Những biến chứng nguy hiểm của cao huyết áp đến tính mạng người bệnh như bệnh bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, xuất huyết não...

tăng huyết áp, nguy hiểm, tết, ăn uống, khám, bệnh viện, medlatec
Đoàn tụ bên gia đình trong những ngày Tết

Để phòng tránh bệnh cao huyết áp và biến chứng của cao huyết áp, ngoài việc dùng thuốc, việc duy trì thói quen ăn uống, sinh hoạt phù hợp hàng ngày là rất cần thiết.

Nguyên tắc chế độ ăn của người tăng huyết áp

- Không nên ăn mặn; ăn hạn chế chất béo, đặc biệt các món sào rán; hạn chế các đồ ăn ngọt chế biến từ đường tinh chế; hạn chế rượu bia; không nên sử dụng mỳ chính vì có natri.
- Nên ăn tăng cường rau quả, các loại rau xanh, hoa quả có màu sắc (vàng, tím, đỏ); các loại vừng, lạc; gạo lức, mỳ đen, mỳ toàn phần… là những thực phẩm giàu chất xơ, chất chống oxy hóa, các chất béo có lợi cho người bệnh.

Những thực phẩm có lợi cho người tăng huyết áp

tăng huyết áp, nguy hiểm, tết, ăn uống, khám, bệnh viện, medlatec
Các loại rau xanh tốt cho người tăng huyết áp

- Nhóm rau, củ giàu vitamin chất khoáng, chất xơ: các loại rau xanh, cần tây, hành tây, cải cúc, cà rốt, đậu xanh, rau muống …

- Một số loại quả giàu Kali, vitamin, chất chống oxy hóa: chuối, đu đủ, dưa, nho, dưa hấu, cam quýt...

- Một số loại thức uống có tác dụng hạ áp, tác dụng lợi tiểu, an thần, tốt cho gan, thận, tim mạch: hạt sen, ngó sen, chè sen vông, hoa hoè, chè xanh, nước nụ vối, giảo cổ lam, nhân trần, actixô, nước ngô luộc, nước rau luộc...

- Vừng lạc, muối vừng, muối lạc giàu acid béo cần thiết, tốt cho tim mạch.

Những thực phẩm cần hạn chế cho người tăng huyết áp

tăng huyết áp, nguy hiểm, tết, ăn uống, khám, bệnh viện, medlatec
Rượu - kẻ thù của bệnh tăng huyết áp

- Thực phẩm nhiều muối, mì chính: Dưa muối, củ kiệu muối thường có chứa hàm lượng muối cao không nên không tốt cho người bị tăng huyết áp.

- Tránh các đồ ăn được chế biến sẵn như thịt xông khói, đồ ăn nhanh, một số đồ hộp... vì có chứa rất nhiều natri.

- Các loại bánh, mứt tết có chứa nhiều đường, dễ làm tăng đường huyết, gây rối loạn chuyển hóa lipid máu.

- Các đồ uống có cồn: rượu, bia… là những đồ uống không tốt cho người cao huyết áp, không nên lạm dụng trong những ngày tết. Với người cao huyết áp nhẹ, có thể uống mỗi bữa 100ml rượu vang đỏ, hoặc 1 cốc bia… tùy theo thói quen mỗi người.

Những lưu ý khác
Ngoài việc chú ý về ăn uống, một số lưu ý khác cũng được PGS. TS Nguyễn Xuân Ninh khuyến nghị cho người cao huyết áp:

- Tập thể dục đều đặn, hàng ngày rất quan trọng với những người làm việc văn phòng, người trung niên và cao tuổi. Tập thể dục giúp cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt hệ tim mạch, cơ xương khớp,…

- Khi tập thể dục buổi sáng, buổi tối, cần chú ý mặc ấm hoặc tập trong nhà khi trời lạnh. Khi tắm cũng cần chú ý về nhiệt độ trong phòng tắm, nước ấm, tránh thay đổi đột ngột về nhiệt độ. Vì thực tế đã có nhiều người cao huyết áp bị tai biến trong phòng tắm, toa-lét khi đi tiểu hoặc khi tắm vào buổi tối, buổi đêm.

- Tránh những thay đổi đột ngột, stress về cảm xúc, tinh thần…, là những yếu tố không tốt cho người cao huyết áp.

Tết đến là mở đầu cho một năm mới, gặp nhau ngày tết là muốn chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Là thày thuốc, chúng tôi xin chúc thêm mọi người an toàn sức khỏe trong những ngày tết, dồi dào sức khỏe trong tất cả những ngày khác trong năm và trong cả cuộc đời.


Theo Thanh Loan - VietNamNet