Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Stent - Cứu tinh của người bệnh mạch vành

Theo thời gian, các thành phần mỡ xấu trong máu sẽ lắng đọng trong thành của mạch máu gây ra hiện tượng xơ vữa động mạch. Mảng xơ vữa này lớn dần lên, làm thu hẹp lòng mạch máu gây ra bệnh tim thiếu máu cục bộ (hay bệnh mạch vành), khi nứt vỡ làm bung các thành phần mỡ xấu, hoạt hóa quá trình đông máu và gây ra hội chứng vành cấp.
Tác dụng của dùng stent điều trị xơ vữa động mạch
Bên cạnh việc ổn định mảng xơ vữa, ngăn chặn dòng thác đông máu và hạn chế nhu cầu ôxy cơ tim bằng tối ưu điều trị các thuốc, các biện pháp cơ học nong bóng hay đặt stent có tác dụng ép dẹt mảng xơ vữa, khơi thông dòng chảy, khôi phục lại tưới máu cho vùng bị thiếu. 
So với việc nong bằng bóng đơn thuần, stent thường (BMS) làm từ thép không gỉ hoặc các loại hợp kim tân tiến hơn có tác đụng chống đỡ thành mạch bị xung yếu do xơ vữa, ngăn chặn quá trình lấp tắc cấp tính, duy trì cấu trúc chống đỡ của thành mạch, đảm bảo hiệu quả điều trị về lâu dài.
Stent - Cứu tinh của người bệnh mạch vành
​Một ca can thiệp bệnh mạch vành của các bác sĩ BV Tim Hà Nội.
Tuy nhiên, tổn thương vật lý của thành mạch khi bị ép bởi stent, quá trình viêm mạn tính tại chỗ tiếp xúc giữa thành mạch với khung thép đã biến quá trình liền sẹo (nội mạc hóa) thông thường tại chỗ đặt stent trở thành quá trình tăng sinh nội mạc liên tục làm hẹp lòng mạch trở lại (quá trình tái hẹp), thậm chí có thể gây tắc lại stent nhanh chóng nhất là khi mạch máu chỗ đặt stent có đường kính nhỏ, đoạn tổn thương dài...
Stent thế hệ mới ra đời
Stent phủ thuốc (DES) ra đời với một lớp thuốc chống phân chia tế bào phủ xung quanh các mắt stent, được giữ bởi một lớp polyme, đã ngăn ngừa quá trình tân sinh của nội mạc và nhờ thế ngăn ngừa quá trình tái hẹp trong stent, hạn chế sự xuất hiện của các biến cố trên lâm sàng. 
Thế hệ stent phủ thuốc (DES) đầu tiên sử dụng sirolimus hoặc paclitaxel đã chứng tỏ được hiệu quả vượt trội so với stent thường trong việc làm giảm tái hẹp kể cả ở những đối tượng dễ tái hẹp như người bị đái tháo đường.
Sau khi các háo hức ban đầu đã tạm lắng, dữ kiện theo dõi dọc đã bộc lộ nhiều quan ngại về tính an toàn lâu dài của DES thế hệ thứ nhất, đặc biệt là nhu cầu phải dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu kép kéo dài và nguy cơ huyết khối muộn hoặc rất muộn trong stent. 
Nguyên nhân của huyết khối muộn trong stent được cho là do khung stent không hề được nội mạc hóa, tái cấu dương của thành mạch máu, stent không áp thành do quá trình viêm mạn... 
Bên cạnh những tác nhân về vật lý (kích cỡ, dòng chảy, sang chấn...), lớp polymer còn nguyên đó sau khi thuốc đã giải phóng hết được cho là tác nhân chính gây quá mẫn và phản ứng viêm tại chỗ, chưa kể đến nhiều trường hợp lớp polymer bị xước sát không đồng đều khiến việc giải phóng thuốc nhanh chậm không đều gây ra nhiều tác động xấu khác lên thành mạch.
Bên cạnh hướng đi cải tiến về cấu trúc stent (thay đổi cấu trúc mắt lưới stent, dùng các hợp kim tốt hơn khiến lưới stent mảnh hơn nhưng cứng hơn, cho tới việc dùng các vật liệu stent tự tiêu), các nhà nghiên cứu cũng tập trung vào việc cải tiến các loại thuốc chống tái hẹp, nâng cao tính linh hoạt và chắc chắn của stent đồng thời là cải tiến các cấu trúc của lớp màng polymer phủ ngoài: từ chỗ màng polymer bền như tương hợp sinh học tốt hơn (DES thế hệ thứ hai), màng polymer có thể tự phân hủy (DES thế hệ thứ ba) cho tới công nghệ không cần dùng màng polymer (DES thế hệ thứ tư). 
Sử dụng các công nghệ nano để xử lý bề mặt stent, các loại DES mới không dùng polymer..., với kỳ vọng sẽ vẫn giữ nguyên khả năng chống tái hẹp như các DES tiền bối trong khi tăng tính an toàn lâu dài, rút ngắn thời gian dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu kép.
Stent - Cứu tinh của người bệnh mạch vành
Quan trọng vẫn là bác sĩ can thiệp
Trước khi có đủ bằng chứng từ các thế hệ stent phủ thuốc mới, bác sĩ can thiệp vẫn phải cân đối giữa lợi ích lâu dài khi giảm được tái hẹp trong stent (ngăn chặn được các biến cố tắc mạch trong tương lai) cũng như nguy cơ khi phải dùng kháng ngưng tập tiểu cầu kép kéo dài (dễ kéo theo các biến cố chảy máu) nhất là ở những nhóm người bệnh dễ tổn thương (người già, có bệnh lý khác kèm theo, đái tháo đường, suy thận, rung nhĩ...).
Câu chuyện còn trở nên phức tạp hơn khi cái nhìn thấy trước mắt (như tiến triển tân sinh nội mạc trong stent hay xuất huyết khi dùng thuốc) không hẳn sẽ luôn luôn chuyển thành các biến cố đích (tử vong, nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim)... 
Trong bệnh cảnh hội chứng vành cấp, khi dây chuyền đông máu đã được kích hoạt, nguy cơ tắc mạch tái phát trực tiếp đe dọa tính mạng hoặc gây ra các biến cố đích mới, tìm kiếm và ứng dụng các loại thuốc chống huyết khối mạnh (bao gồm cả chống đông và chống ngưng tập tiểu cầu) tuy hết sức cần thiết song cũng đặt bác sĩ lâm sàng vào tình huống đi dây tương tự, phải cân đối giữa lợi ích khi dùng chống đông mạnh và nguy cơ xảy ra các biến cố chảy máu nặng (cũng có nguy cơ tử vong tương đương nếu tắc mạch xảy ra khi không dùng chống đông).
Làm thế nào để tối ưu hóa điều trị chống đông và chống ngưng tập tiểu cầu trong giai đoạn cấp, cũng như lâu dài ở người có bệnh mạch vành? Đây luôn là vấn đề rất được chú ý với các bác sĩ tim mạch.
Theo TS Nguyễn Ngọc Quang - Sức khỏe và Đời sống

Đột quỵ não không chỉ do tăng huyết áp

Đột quỵ não là nguyên nhân tử vong đứng thứ ba sau ung thư và tim mạch, là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế.

Không những vậy, chi phí điều trị đột quỵ não cũng rất tốn kém, ở Mỹ khoảng 70 tỷ USD cho chi phí chăm sóc và điều trị đột quỵ não hàng năm.
Sự nguy hiểm của đột quỵ não đã được biết tới nhiều, một trong những nguyên nhân được biết đến một cách phổ biến nhất trong cộng đồng là tăng huyết áp. Tuy nhiên, đột quỵ não không chỉ do tăng huyết áp, chúng ta cần có một cái nhìn toàn diện hơn.
Vì sao bị đột quỵ não?
Đột quỵ não hay tai biến mạch máu não là một bệnh xảy ra đột ngột, do mạch máu não bị vỡ hoặc nghẽn tắc, gây tổn thương nhu mô não, từ đó mất các chức năng của não một cách khu trú. Nếu mức độ tổn thương não lớn thì gây hôn mê và tử vong. 
Các tổn thương thần kinh khu trú bao gồm méo miệng, liệt nửa người, rối loạn cảm giác nửa người, nói khó, không hiểu lời (rối loạn ngôn ngữ), rối loạn thăng bằng, mờ mắt...
Đột quỵ não không chỉ do tăng huyết áp
Tăng huyết áp và các biến chứng tim mạch.
Đột quỵ não có hai thể chính là nhồi máu não và chảy máu não. Nguyên nhân của chảy máu não bao gồm tăng huyết áp, vỡ phình động mạch, vỡ khối dị dạng động tĩnh mạch não (AVM), chảy máu não do rối loạn các yếu tố đông máu (bệnh giảm tiểu cầu, suy chức năng gan, sốt xuất huyết, đông máu rải rác long mạch...). 
Nguyên nhân của đột quỵ nhồi máu não hay thiếu máu não cục bộ: do huyết khối động mạch, tức là cục nghẽn tắc được hình thành trong lòng động mạch não, gây hẹp dần lòng mạch rồi tắc, thường do xơ vữa động mạch, một số ít do các bệnh xơ cơ động mạch, bệnh di truyền moyamoya, viêm động mạch... 
Do tắc nghẽn lòng động mạch não, cục tắc có thể từ tim hoặc từ lòng động mạch bong ra thổi lên não. Các nguyên nhân trên một số ít do bẩm sinh (dị dạng động tĩnh mạch), một số ít do di truyền (moyamoya), còn đa số được hình thành trong quá trình sống. 
Sự tương tác của cơ thể với các yếu tố môi trường, không gian, thời gian và đặc điểm sinh học của cá thể dần dần có thể hình thành nguyên nhân của bệnh như trên, đó chính là các yếu tố gián tiếp gây bệnh, y học gọi là các yếu tố nguy cơ.
40 - 45% đột quỵ não không liên quan tới huyết áp
Tăng huyết áp vừa là nguyên nhân gây đột quỵ chảy máu não, vừa là nguy cơ gây đột quỵ thiếu máu não. Trong đột quỵ chảy máu não có 60 - 70% đột quỵ não có liên quan với tăng huyết áp, còn trong đột quỵ thiếu máu não thì 50 - 60% có liên quan tới tăng huyết áp. Như vậy vẫn còn khoảng 40 - 45% đột quỵ não không do tăng huyết áp, đây là một tỷ lệ khá lớn. 
Tuy nhiên, trong cộng đồng thường hiểu chưa đúng rằng nếu tôi không bị tăng huyết áp thì sẽ không bị đột quỵ não. Những nhận thức sai lầm trên phần chính là do sự tuyên truyền quá mức về bệnh tăng huyết áp, trong khi đó lại thiếu hẳn thông tin về nhiều nguy cơ khác gây ra đột quỵ não.
Một số yếu tố nguy cơ chính khác hay gặp với tỷ lệ cao gây đột quỵ não là: giảm acid folic 50-75%, xơ vữa động mạch 30-50%, rối loạn lipid máu 30-45%, nghiện thuốc lá 25-35%, tăng homocystein máu 20-30%, bệnh rung nhĩ 15-25%, nghiện rượu 15-25%, đái tháo đường 12-20%, béo phì 12-20%, bệnh gút 7-10%. 
Đây là những yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não có thể cải biến được, nguy cơ bị bệnh càng cao nếu người bệnh cùng lúc mắc nhiều yếu tố nguy cơ. Chúng ta hoàn toàn có thể khảo sát, đánh giá và kiểm soát được chúng. 
Nếu kiểm soát được tăng huyết áp, giảm acid folic, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, rung nhĩ, thiếu vitamin B6, B12; gần đây nhiều nghiên cứu nói đến vai trò của các chất chống ôxy hóa; đồng thời loại bỏ uống rượu nhiều, nghiện thuốc lá, béo phì, ăn mặn, ít vận động... thì chúng ta hoàn toàn có thể tránh được đột quỵ não.
Như vậy cần tránh nhận thức sai lầm rằng với người không bị tăng huyết áp thì không có nguy cơ đột quỵ não. 
Với người trên 50 tuổi, những người có các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não thì cần đến các trung tâm đột quỵ não, với bác sĩ chuyên khoa và các xét nghiệm chuyên ngành để đánh giá đầy đủ các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân đột quỵ não cụ thể của từng người. 
Trên cơ sở đó đề ra biện pháp cụ thể, khắc phục sớm với từng người thì chúng ta hoàn toàn có thể tránh bị mắc bệnh đột quỵ não.
Một số yếu tố nguy cơ chính khác hay gặp với tỷ lệ cao gây đột quỵ não là: giảm acid folic 50-75%, xơ vữa động mạch 30-50%, rối loạn lipid máu 30-45%, nghiện thuốc lá 25-35%, tăng homocystein máu 20-30%, bệnh rung nhĩ 15-25%, nghiện rượu 15-25%, đái tháo đường 12-20%, béo phì 12-20%, bệnh gút 7-10%. 
Ðây là những yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não có thể cải biến được, nguy cơ bị bệnh càng cao nếu người bệnh cùng lúc mắc nhiều yếu tố nguy cơ. Nếu kiểm soát được tăng huyết áp, giảm acid folic, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, rung nhĩ, thiếu vitamin B6, B12 đồng thời loại bỏ uống rượu nhiều, nghiện thuốc lá, béo phì, ăn mặn, ít vận động... thì chúng ta hoàn toàn có thể tránh được tai biến nguy hiểm này.
Theo BS.CKI Nguyễn Văn Tuấn - BV 103
Sức khỏe và Đời sống

Những biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch

Một số biểu hiện cảnh báo bệnh lý tim mạch cần cấp cứu như sau:
- Đau thắt ngực: bệnh nhân đau ngực dữ dội, cảm giác bị bóp nghẹt trong lồng ngực, vị trí cơn đau thường ở phía sau xương ức, đau lan lên vai trái, mặt trong cánh tay trái hoặc lan ra sau lưng… 
Đây là biểu hiện nghi ngờ bệnh nhồi máy cơ tim. Khi gặp người bệnh có biểu hiện triệu chứng như trên, bạn cần gọi người giúp đỡ đồng thời gọi cấp cứu 115 để họ xử trí ban đầu và đưa người bệnh tới bệnh viện, nếu không gọi được cấp cứu 115, bạn cần đưa người bệnh tới bệnh viện ngay lập tức, không để người bệnh tự đi khám.
- Các biểu hiện ngừng tuần hoàn: người bệnh đột ngột ngất xỉu, mất phản ứng xung quanh, gọi hỏi không biết, ngừng thở, tím tái toàn thân, đôi khi có biểu hiện co giật hoặc mềm nhũn, có thể xuất hiện đại tiểu tiện không tự chủ. 
Bạn cần gọi người hỗ trợ và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức. Đồng thời bạn cần ép tim - thổi ngạt cho người bệnh ngay. Tư thế ép tim như sau: người cấp cứu quỳ bên cạnh nạn nhân. 
Đặt hai tay của người cấp cứu (bàn tay phải trên mu bàn tay trái) lên 1/3 dưới xương ức của nạn nhân, ấn mạnh đồng thời cả hai tay cho lồng ngực nạn nhân xẹp xuống. Bạn cần ép tim liên tục thậm chí không cần động tác hà hơi thổi ngạt nếu bạn một mình cấp cứu nạn nhân.
- Các dấu hiệu đột quỵ như đột ngột tê hoặc yếu nửa người (một bên tay chân), ngất hoặc hôn mê, mất hoặc rối loạn khả năng nói, rối loạn thị giác, đột ngột mất thăng bằng và phối hợp các động tác, đau đầu dữ dội, nôn không rõ nguyên nhân. Nếu người bệnh có một trong các triệu chứng trên, cần đưa người bệnh tới ngay bệnh viện hoặc phòng cấp cứu gần nhất.
- Khó thở: người bệnh đột ngột khó thở dữ dội, vã mồ hôi. Cần gọi người cấp cứu và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức. Đồng thời, bạn cho người bệnh nằm đầu cao, cho người bệnh thở oxy nếu có.
- Đau đột ngột chân hoặc tay: Người bệnh đi đau đột ngột chân hoặc tay, đau dữ dội. Chân hoặc tay đau lạnh, nhợt hơn so với bên đối diện. 
Đây có thể là biểu hiện tắc động mạch cấp tính của chân hoặc tay. Khi gặp người bệnh có biểu hiện này, bạn cần đưa người bệnh đi cấp cứu ngay lập tức để phẫu thuật lấy cục huyết khối trong lòng mạch ở chân hoặc tay của người bệnh.

Theo Hội Tim mạch học Việt Nam

Bất ngờ với 6 nguyên nhân gây đau tim ít người biết đến

Những nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh đau tim (béo phì, bệnh tiểu đường và bệnh tăng huyết áp có thể dẫn đến tăng nguy cơ về tim mạch…) chúng ta đều đã biết. Các thói quen xấu như hút thuốc lá và lối sống ít vận động cũng được biết đến là một trong những nguyên nhân của căn bệnh này. Tuy nhiên, còn một nhóm nguyên nhân thứ ba cũng có thể gây đau tim mà người biết đến.

Dưới đây là 6 nguyên nhân gây đau tim có thể bạn chưa biết:

1. Những cơn giận dữ bùng phát mạnh mẽ và đột ngột

Một cuộc nghiên cứu với 313 bệnh nhân mắc bệnh đau tim được tiến hành bởi các nhà khoa học tại Sydney, Úc đã nhận ra rằng khả năng xảy ra cơn đau tim sau 2 tiếng đồng hồ bùng phát giận dữ cao gấp 8,5 lần so với cơn đau tim sau khi trải qua khoảng thời gian 2 tiếng thông thường.

BS Thomas Buckley của Trường Y tá Sydney và chuyên gia Geoffrey Tofler của Trường ĐH Sydney cho thấy rằng những cơn cuồng nộ mạnh mẽ thường nằm ở mức thứ năm hoặc cao hơn trong mức thang 7 mức độ. 

Những người trả lời khi có cơn giận lên đến mức năm hoặc cao hơn công nhận rằng họ thường cảm thấy "phát điên", "nổi đóa" và "mất kiểm soát" trước khi cơn đau tim xảy đến khoảng 2 giờ đồng hồ.
Thật may mắn, Buckley và Tofler kết luận rằng những cơn đau tim gây ra bởi sự giận dữ rất hiếm, chỉ có khoảng 2% số người tham gia vào cuộc nghiên cứu từng cảm thấy tức giận trước khi bị nhồi máu cơ tim.

Bất ngờ với 6 nguyên nhân gây đau tim ít người biết đến 1Ảnh minh họa

2. Lo âu quá mức

Trong cùng một nghiên cứu, Buckley và Tofler cũng nhận thấy rằng chứng lo âu quá mức gây ra các bệnh đau tim sau 2 giờ đồng hồ có nguy cơ lớn hơn gấp 9,5 lần.

"Việc tăng nguy cơ tức giận hoặc lo lắng phần lớn là do tăng tỉ lệ nhịp tim, tăng huyết áp, co thắt các mạch máu và tăng đông máu, tất cả những yếu tố này đều liên quan đến nguyên nhân gây ra các cơn đau tim", Buckley giải thích trong khi khẳng định về nghiên cứu của ông. 

Các nhà nghiên cứu cũng đề xuất rằng những người có nguy cơ đau tim cao nên chủ động phòng tránh những hành động dễ gây tức giận hoặc lo lắng, cũng như tập giảm stress để hạn chế những phản ứng giận dữ hay lo âu.

3. Hoạt động quá sức về thể chất

Theo như một nghiên cứu vào năm 2011 của Khoa cấp cứu Hoa Kỳ thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu chính sách và phòng chống chấn thương, trung bình có tới 11 500 ca chấn thương hàng năm, từ năm 1990 - 2006, liên quan tới công việc xúc tuyết mùa đông. 

Trong nghiên cứu này, chỉ có khoảng 7% trong số các ca chấn thương kể trên có liên quan đến tim, tuy nhiên chúng chiếm tới 100% những ca tử vong liên quan tới công việc xúc tuyết.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những người đã bị đau tim trước đó, hoặc đã từng mắc phải các căn bệnh về tim mạch, cũng như những người bị huyết áp cao, nồng độ cholesterol cao, những người hay hút thuốc và những người có lối sống ít vận động có nguy cơ cao nhất gặp phải căn bệnh đau tim trong khi đang quét tuyết.

Bất ngờ với 6 nguyên nhân gây đau tim ít người biết đến 2Ảnh minh họa

4. Quan hệ tình dục quá sức

Tương tự như vậy, mỗi lần "yêu" cũng có thể gây ra các biến cố về tim mạch nhất định đối với tùy mỗi cá nhân. Một phân tích tổng hợp của bốn nhà nghiên cứu đã phân tích rằng phần lớn nam giới ở trong độ tuổi 50 và 60 nhận thấy rằng quan hệ tình dục dẫn đến các nguy cơ về đau tim tăng gấp 2,7 lần so với những người tham gia nghiên cứu khi họ không quan hệ tình dục.

Rất may, các nhà nghiên cứu mô tả số lượng tuyệt đối của các cơn đau tim do quan hệ tình dục gây ra là "rất nhỏ", hoặc thấp hơn 1% trong số tất cả các cơn đau tim. Điều này một phần là do quan hệ tình dục thường chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn, và khoảng thời gian nguy hiêm nhất trong khi quan hệ tình dục - khi áp lực máu và tim tăng lên đáng kể trong khoảng thời gian cực khoái, đối với những người từng mắc bệnh động mạch vành trước đây - chỉ kéo dài từ 10 đến 15 giây.

Để giảm thiểu rủi ro, trong một báo cáo, các chuyên gia của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo mọi người nên tới gặp bác sĩ để ổn định sức khỏe tim mạch trước khi quan hệ tình dục. Tăng cường tập thể dục thường xuyên cũng có thế giúp cho con người chuẩn bị tốt hơn cho khoảng thời gian nồng nhiệt này.

5. Lạm dụng chất gây nghiện

Bệnh nhồi máu cơ tim cũng có thể bị gây ra bởi ma túy hoặc rượu. Mặc dù rượu vang đỏ thường được chào hàng là có tác dụng tốt cho tim mạch, tuy nhiên Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ nhận thấy rằng quá nhiều rượu có thể làm tăng nồng độ chất béo trung tính và làm tăng huyết áp, cũng giống như đối với những người ăn quá nhiều. Những yếu tố này có thể dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và đột tử do tim.

Bất ngờ với 6 nguyên nhân gây đau tim ít người biết đến 3Ảnh minh họa

6. Những bữa ăn "lớn" bất thường

Khi nói về việc ăn quá nhiều, thậm chí là ngồi vào một bữa tiệc lớn, có thể là rất nguy hiểm nếu như bạn là người có nguy cơ gặp các sự cố về tim mạch. Vào năm 2000, một nhà nghiên cứu của Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ nhận thấy rằng những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thường có khả năng bị nhồi máu cơ tim cao gấp 4 lần sau 2h đồng hồ khi họ ăn quá nhiều. 

Cuộc nghiên cứu đã hỏi 1 986 bệnh nhân về những bữa ăn của họ trong những ngày dẫn đến bệnh nhồi máu cơ tim. Trong số đó, 158 người đã từng ăn một "bữa ăn lớn bất thường" trong 26h, và 25 người trong số họ đã từng ăn một bữa ăn lớn trước khi bị nhồi máu cơ tim khoảng 2 tiếng.

Theo báo Khoa học Hàng ngày, hành động đơn giản của việc ăn thức ăn làm tăng nhịp tim và huyết áp. Các giả thiết khác cho rằng do các axit béo từ trong thức ăn vào máu, hoặc tăng nồng độ insulin có thể làm thu hẹp động mạch vành.

Theo Trí thức trẻ

Nguyên nhân nào dẫn đến suy tim?

Có nhiều nguyên nhân gây nên suy tim như:
- Nhồi máu cơ tim cũ: khi động mạch vành cung cấp máu nuôi dưỡng cơ tim có một chỗ bị tắc gây nhồi máu, một số vùng cơ tim chết đi, thành sẹo làm giảm khả năng co bóp của quả tim.
- Tăng huyết áp mạn tính làm quả tim phải làm việc quá sức trong một thời gian dài do phải bóp với một lực mạnh hơn để thắng được sức cản lớn trong lng mạch (do tăng huyết áp), lâu dần sẽ làm tim bị suy.
- Bệnh van tim gây hở hoặc hẹp van tim, khi đó hoặc tim phải bóp nhiều hơn (do hở van tim) hoặc bóp mạnh hơn (do hẹp van tim), lâu ngày cũng sẽ gây suy tim.
- Bệnh tim bẩm sinh
- Bệnh cơ tim do rượu: uống quá nhiều rượu làm co bóp cơ tim bị yếu đi.
Viêm cơ tim nhất là viêm cơ tim do siêu vi trùng
- Do rối loạn nhịp tim nhanh kéo dài, mạn tính gây suy tim.
- Suy tim cũng hay gặp ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, dù không phải đái tháo đường là nguyên nhân gây bệnh duy nhất
- Suy tim còn gặp ở bệnh nhân uống thuốc hoá chất để điều trị ung thư hoặc một số loại thuốc đặc biệt khác

40% không thể tìm được một nguyên nhân cụ thể nào gây suy tim.

Theo Hội Tim mạch học Việt Nam

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Gắng sức về trí óc và thể lực, kẻ đồng hành gây bệnh tim

Trên thực nghiệm ở súc vật cũng thấy rất rõ sự quá sức về thể lực làm bộc lộ nhanh chóng một thiếu máu cục bộ tiềm tàng dẫn tới nhồi máu cơ tim. 
Sau khi gây xơ vữa động mạch thực nghiệm trên súc vật (một mình xơ vữa động mạch vành chưa gây ra nhồi máu cơ tim), người ta bắt buộc chúng chạy liên hồi, nghĩa là quá sức thể lực, tức tăng vọt nhu cầu ôxy thì thấy: sự quá sức càng lớn, nhồi máu cơ tim càng chóng xuất hiện. 
Gắng sức quá mức có thể còn đe dọa nhồi máu cơ tim bằng một cơ chế khác: làm tăng huyết áp đối với trường hợp có sẵn bệnh tăng huyết áp. Mà cơn tăng huyết áp cũng là một nhân tố đe dọa nhồi máu cơ tim. 
Còn những bệnh nhân nhồi máu cơ tim không được chẩn đoán kịp thời và cứ tiếp tục cố gắng thể lực thì cơ tim càng hoại tử lan rộng hơn dẫn đến đột tử. Thực tế cho thấy, không chỉ gắng sức trong lao động mà gắng sức trong thể thao, trong trí óc đều gây hại tim.
Gắng sức về trí óc và thể lực, kẻ đồng hành gây bệnh tim
Làm việc quá sức có thể gây nhồi máu cơ tim.
Đối với các căng thẳng tột độ của lao động trí óc, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, thông thường mức căng thẳng trí óc ở cuối tuần lễ lao động dễ tích lũy đến cực độ. Chính lúc này, chỉ số đông máu và cholesterol máu đều cao hơn đầu tuần. 
Vì vậy, cần chú ý ngăn ngừa căng thẳng vào lúc này để tránh tình trạng xảy ra nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu hồi cứu trên đa số bệnh nhân nhồi máu cơ tim thấy trước khi bệnh khởi đầu đã có giai đoạn lo âu hoặc tức giận, điều này đúng với Đông y "giận quá hại tâm". 
Vì vậy, đối với tress ở dạng xúc cảm âm tính mà tột đỉnh là chấn thương tinh thần, ta có thể chủ động giải tỏa bằng nghị lực, bằng một phức hệ vệ sinh tinh thần cao cấp, bằng bản lĩnh, nhân cách, tư tưởng và cả quan niệm sống. 
Tóm lại, cần dĩ bất biến ứng vạn biến - đây là cả một nghệ thuật phụ thuộc vào phương pháp và cách tiếp nhận các biến cố (stress) của mỗi người. Hãy luôn thực hiện đúng lời khuyên của Hải Thượng Lãn Ông "thanh tâm quả dục, thủ thân luyện hình" để sống khỏe bạn nhé.
Theo BS Quang Nhật - Sức khỏe và Đời sống

Làm gì khi bị tụt huyết áp?

Huyết áp thấp cũng nguy hiểm như tăng huyết áp, nếu không xử trí kịp thời khi huyết áp tụt sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh và có thể dẫn tới tử vongi.

Khi có biểu hiện choáng váng, hoa mắt,… người bệnh cần nằm nghỉ ngay (nằm đầu thấp), tránh ngồi dậy hoặc thay đổi tư thế đột ngột. 
Hãy cho người bệnh uống 2 cốc nước tương đương 480ml vì uống nước giúp điều tiết huyết áp. Hoặc có thể cho người bệnh uống trà gừng, nước sâm, cà phê, nước chè đặc, ăn thức ăn đậm muối, bột tam thất, rau cần tây, nước nho…
Làm gì khi bị tụt huyết áp?Uống nhiều nước khi bị tụt huyết áp.
Nếu không thấy đỡ hơn thì cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ kiểm tra tình trạng bệnh. Vì khi bệnh nhân bị tụt huyết áp nhiều lần, hệ thống thần kinh bị suy giảm chức năng, cơ thể không tự kịp điều chỉnh để cung cấp đủ dinh dưỡng và ôxy cho các cơ quan như não, tim, thận, gây tổn thương các cơ quan này, có thể dẫn đến tình trạng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy thận, tai biến mạch máu não,… nguy hiểm đến tính mạng.
Làm gì khi bị tụt huyết áp?
Thế nào là huyết áp thấp?
Để phòng huyết áp thấp người bệnh cần tuân thủ chế độ sinh hoạt và ăn uống như sau: Ăn uống đầy đủ, đảm bảo các chất dinh dưỡng. 
Uống nhiều nước, hạn chế uống rượu, bia và các chất kích thích, ăn nhiều rau quả, thịt nạc, ăn nhiều bữa trong ngày, hạn chế bột và đường, ăn mặn hơn người bình thường (khoảng 10-15g muối/ngày). 
Không bỏ bữa vì nhịn đói sẽ gây tụt huyết áp do hạ đường huyết. Nên dành nhiều thời gian để nghỉ ngơi, ngủ đủ giấc, tránh làm việc căng thẳng. Tập thể dục thường xuyên, vừa sức như đi bộ, thể dục dưỡng sinh,…
Một người đựơc coi là huyết áp bình thường nếu như huyết áp đo được ở mức khoảng 120/80 mmHg. Thông thường huyết áp có thể dao động giữa 110 - 120 (tâm thất) và 70 - 80 (tâm thu). Người bị coi là huyết áp thấp nếu như huyết áp dưới mức 65 (tâm thu).
Có hai loại: Huyết áp thấp tiên phát (do thể trạng) và huyết áp thấp thứ phát (do các bệnh lý khác). Những người huyết áp thấp thường có biểu hiện: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, vã mồ hôi, chân tay lạnh, giảm tập trung trí lực, dễ nổi cáu, khi thay đổi tư thế có thể choáng váng, thoáng ngất hoặc ngất,…
Theo BS Vũ Minh - Sức khỏe và Đời sống

Bệnh cao huyết áp

Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nửa người, hôn mê, thúc đẩy suy tim, thiếu máu cơ tim làm tăng khả năng tử vong.

Cao huyết áp là gì?

Nước Mỹ hiện nay có tới 281 triệu người, trong đó, hơn 60 triệu người mang bệnh cao áp huyết (bạn tính, chưa đến 5 người, đã có 1 người cao áp huyết). 
Bệnh cao áp huyết (hypertension, high blood pressure) nguy hiểm, đưa đến những biến chứng như tai biến mạch máu não (stroke), chết cơ tim cấp tính (heart attack), suy tim, suy thận. Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ.

Khổ cái, trong đa số các trường hợp, cao áp huyết không gây triệu chứng. Nhiều vị không biết mình mang bệnh, tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì khác, được bác sĩ cho biết có cao áp huyết. Cho nên, cao áp huyết nổi danh là một "căn bệnh thầm lặng".


huyet ap cao la gi
Cao áp huyết là gì? Con tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể qua những hệ thống mạch máu gọi là động mạch. Ví như một máy bơm nước đẩy nước qua các ống dẫn. Khi máu được tim bơm đầy và chảy trong lòng các mạch máu, sức ép của máu vào thành mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure) gọi là áp huyết (blood pressure). Áp huyết thay đổi tùy lúc và tùy các hoạt động của cơ thể. Áp huyết xuống thấp hơn lúc ta ngủ, nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần ta kích động, buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể dục, chơi thể thao.
Áp huyết được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90. Số trên (140) được gọi là áp suất systolic (áp suất tâm thu): Sức ép của máu vào lòng động mạch mỗi khi tim co bóp để bơm máu ra khỏi tim. Số dưới (90) được gọi áp suất diastolic (áp suất tâm trương): Áp suất trong lòng động mạch khi con tim dãn ra giữa hai nhịp co bóp. Số trên tượng trưng áp suất cực đại (maximum) trong lòng động mạch và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu (minimum) trong lòng động mạch.
Theo sự phân loại mới, áp suất systolic bình thường dưới 120 và áp suất diastolic dưới 80. Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (đo ít nhất 3 lần vào 3 dịp khác nhau). Cao độ 1: Áp suất systolic: 140 đến 159, áp suất diastolic: 90 đến 99. Cao độ 2: áp suất systolic: từ 160 trở lên, áp suất diastolic: từ 100 trở lên.

Những vị có áp suất systolic trong khoảng từ 120 đến 139 hoặc áp suất diastolic từ 80 đến 89, nay được xem là tiền cao áp huyết (prehypertension), sau dễ tiến đến cao áp huyết.
Nguyên nhân

Ðến 90% các trường hợp cao áp huyết, nguyên nhân của bệnh chưa được biết rõ hoặc nói cách khác, với trình độ y khoa hiện tại, người ta chưa tìm ra được nguyên nhân. Một số như các trường hợp cao áp huyết gây do uống rượu nhiều quá do bệnh của tuyến nội tiết, bệnh thận. 


Có một số yếu tố ảnh hưởng, khiến người nọ có thể dễ mang bệnh cao áp huyết hơn người kia:


- Yếu tố gia đình: Cao áp huyết có tính di truyền. Có cha mẹ, anh em ruột cao áp huyết, đi khám bác sĩ, bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn nhé. 


- Ðàn ông: Ðàn ông dễ cao áp huyết hơn phụ nữ. Tuy vậy, phụ nữ sau khi mãn kinh, cũng dễ cao áp huyết hơn lúc còn kinh.


- Tuổi tác: Cao áp huyết dễ xảy ra sau tuổi 35. 


- Giòng giống: Người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn.


- Béo mập: Khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.


- Bệnh tiểu đường: Tiểu đường và cao áp huyết như đôi bạn thân, hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.


- Rượu: Các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao áp huyết, đồng thời cũng làm tăng tỷ lệ bị tai biến mạch máu não và bệnh thận. 


- Ðời sống thiếu vận động: Ðời sống thiếu vận động dễ gây béo mập và béo mập. Như đã vậy, thiếu vận động rất có thể đưa đến cao áp huyết.


Biến chứng của Cao huyết áp


Bệnh cao áp huyết nếu không được chữa trị sẽ làm hại cơ thể ta nhiều cách. Áp huyết cao hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn. Con tim lúc nào cũng gắng sức, sau trở thành mệt mỏi và yếu dần. 

Cho đến một lúc, con tim suy yếu sẽ không còn bơm đủ máu, không đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan trong cơ thể, nhất là khi người bệnh vận động, gây các triệu chứng mau mệt, choáng váng, khó thở... nhất là khi vận động.


Áp suất cao trong các mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch máu. Nhưng chỉ tổn thương trong lòng các mạch máu dễ bị chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào.

Cơ chế dây chuyền này lại càng làm lòng các mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại. Bạn tưởng tượng, nếu các mạch máu dồn máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại, dĩ nhiên đến một ngày nào đó, nó sẽ không còn mang đủ máu đến để nuôi tim. Nếu một phần tim thiếu máu nuôi trầm trọng, phần tim đó có thể chết và gây ra hiện tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).
Tương tự, cao áp huyết làm tổn thương các mạch máu nuôi óc, nuôi thân, nuôi mắt... gây các biến chứng tai biến mạch máu não, suy thận, giảm thị giác... So với người thường, người cao áp huyết nếu không chữa dễ bị bệnh hẹp tắc các động mạch tim khiến tim đâm ra thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần, dễ suy tim gấp 6 lần và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần.
Chữa trị

Cao áp huyết cần được chữa trị cẩn thận, để giảm thiểu những biến chứng, giúp ta sống lâu hơn và vui hơn. Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh và cũng tùy vào nhiều yếu tố khác. 


Các phương pháp chữa trị lúc chưa cần dùng đến thuốc: Xuống cân nếu béo mập, ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo, bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, thường xuyên vận động. Mỗi người có một sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người. Nếu người cao áp huyết có sức nặng trên sức nặng lý tưởng, bác sĩ thường khuyên người bệnh tìm cách xuống ký bằng ăn kiêng (diet) và vận động (exercise).


Về mặt chữa bằng thuốc, có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi đặt bút biên toa. Ta cố đưa áp huyết xuống dưới 140/90 (ở người tiểu đường, người suy thận, nên dưới 130/80), với một thuốc rẻ, không gây phản ứng phụ (side effects), ngày dùng chỉ một lần cho tiện. (Nguyên tắc rẻ, đẹp, bền ở đâu cũng đúng.)


Thuốc chữa cao áp huyết ở Mỹ nay có 8 loại: Diuretics, ACE inhibitors, Angiotensin II receptor blockers, Calcium channel blockers, Beta blockers, Alpha blockers, Direct vasodilators,  Centrally acting agents, tác dụng theo những cơ chế khác nhau, giá cả cũng rất khác biệt.


Thuốc nào cũng có mặt lợi và hại cùng những tác dụng phụ của nó. Trong đa số các trường hợp cao áp huyết, những tài liệu hiện thời ở Mỹ đều khuyên chúng ta nên thử thuốc thuộc loại Diuretics (lợi tiểu) trước,vì thuốc này gần với nguyên tắc ''rẻ, đẹp, bền'' nhất là rất hữu hiệu, lại rẻ, dùng lâu dài không cháy túi tiền. 


Nhiều thuốc cao áp huyết có tác dụng chữa được cả bệnh khác, chẳng hạn các thuốc propanolol, timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên migraine. Hai thuốc Hytrin, Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ tuyến. Khéo dùng thuốc, ta có thể một ná bắn hai chim, dùng một thuốc chữa cả hai bệnh.


Bạn nên uống thuốc đều, không nên tự thay đổi lượng thuốc hoặc ngưng thuốc khi thấy áp huyết đã xuống lại bình thường và nhớ trở lại tái khám đúng hẹn với bác sĩ. Cao áp huyết là bệnh kinh niên, suốt đời ta cần chữa kỹ.


Sự chữa trị nào trong y khoa cũng là tính toán, dò dẫm, bạn nên để bác sĩ có dịp thi thố tài năng vài lần. Dùng một thuốc cao áp huyết không hợp, gây cho bạn phản ứng khó chịu, bạn nên trở lại cho bác sĩ biết, nhờ bác sĩ điều chỉnh sự chữa trị, có khi đổi một thuốc khác xem sao. 

Bạn chớ vội nghe rỉ tai: Thuốc tây ‘’nóng’’ lắm, chỉ nên dùng (như thế thì... tội cho thuốc tây lắm, một thuốc làm bạn khó chịu, hàng trăm thuốc khác hàm oan). Rồi mất tiền vào những chữa trị chẳng có sách vở nào nói đến, cho đến một sáng đẹp trời, bạn mở mắt thức dậy, thấy một bên người liệt vì tai biến mạch máu não. Muộn mất rồi.


Cao áp huyết, ''căn bệnh thầm lặng’’, lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ. Khám phá anh chàng thầm lặng này, đặt anh ta vào vòng kiểm soát, ta cứu vãn được nhiều việc.
Theo BS Nguyễn Văn Đức - Ykhoa.net

Dấu hiệu cao huyết áp, cao huyết áp là gì?

Cao huyết áp còn gọi là tăng huyết áp và khái niệm thường dùng trong dân chúng là bệnh tăng xông. Đây là bệnh lý thuờng gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi, chiếm 8-12% dân số.


Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nửa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể thúc đẩy suy tim, thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống (không cảm thấy khoẻ khoắn, mất khả năng lao động) và gia tăng khả năng tử vong. Do đó điều trị huyết áp cao là vấn đề cần lưu ý trong cộng đồng vì những hậu quả to lớn của nó.


Ngày nay với sự tiến bộ về kỷ thuật chẩn đoán (máy đo huyết áp phổ biến rộng rãi) và càng có nhiều loại thuốc điều trị ít tác hại, việc điều trị đã mang đến cho bệnh nhân sự cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm đáng kể tử vong và các di chứng (liệt nữa người, suy tim) do cao huyết áp gây nên.
Người bệnh cao huyết áp cũng cần quan niệm rằng cần phải chấp nhận việc điều trị tốn kém lâu dài để đổi lấy một cuộc sống an toàn. Cao huyết áp thường không triệu chứng do đó nhiều người chỉ nhận ra bản thân họ bị cao huyết áp khi họ bị tai biến mạch máu não (còn gọi là đột quî). 

Không thể căn cứ vào triệu chứng nhức đầu, chóng mặt để uống thuốc hạ áp bởi vì nhức đầu, chóng mặt không phải thường xuyên xuất hiện khi huyết áp tăng cao đột ngột và các triệu chứng này có thể gặp ở bệnh lý khác (ví dụ nhức đầu do căng thẳng, viêm xoang và chóng mặt có thể do tụt huyết áp...).


Tốt nhất nên thường xuyên kiểm tra huyết áp định kỳ với những người chưa cao huyết áp và khi nghi ngờ cao huyết áp cần đo huyết áp nhiều lần. Nếu huyết áp vẫn cao thì nên bắt đầu biện pháp điều chỉnh cách sống (tập thể dục, cai thuốc lá, điều chỉnh chế độ ăn) và xem xét điều trị thuốc.


Huyết áp không phải là con số hằng định
Trị số huyết áp thay đổi rất nhiều khi có yếu tố tác động như tâm lý (lo âu, sợ hãi, mừng vui...), vận động (đi lại, chạy nhảy) hoặc môi trường (nóng lạnh), chất kích thích (thuốc lá, cà phê, rượu bia) và bệnh lý (nóng sốt, đau đớn).
Trong những trường hợp trên, huyết áp thường tăng cao hơn bình thường. Ví dụ huyết áp của bạn lúc nghỉ thường 130/80mmHg khi bạn lên cầu thang lầu 3, nếu bạn đo huyết áp ngay thì trị số huyết áp của bạn có thể 150/80 - 180/90mmHg. 

Trong những trường hợp này không thể cho rằng bạn bị cao huyết áp. Do đó tốt nhất bạn phải nghỉ ngơi ổn định trước khi đo huyết áp nếu bạn muốn có trị số huyết áp trung thực và phải đo nhiều lần sau đó tính trung bình sau 3 lần đo. Bạn cũng đừng thắc mắc nhiều nếu huyết áp trước đó khác với trị số bây giờ.
Nhịp sinh học huyết áp của bạn thường dao động rõ rệt, huyết áp thường cao dần từ lúc bạn thức giấc và gia tăng tùy theo bạn vận động hoặc căng thẳng hay không. Vào chiều tối khi bạn nghỉ ngơi thư giãn huyết áp xuống nhẹ và sẽ xuống thấp nhất khi bạn ngủ say vào ban đêm cho đến gần sáng.
Các nghiên cứu ghi nhận rằng ở người cao huyết áp mà huyết áp không hạ vào ban đêm hoặc hạ quá mức hoặc tăng vọt vào buổi sáng đều là yếu tố bất lợi vì dễ bị đột quî do cao huyết áp.
Khi nào gọi là cao huyết áp?
Người ta thường dùng khái niệm huyết áp tâm thu (hoặc huyết áp tối đa) cho trị số huyết áp trên và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) cho trị số huyết áp dưới. Ví dụ khi bác sĩ của bạn ghi huyết áp của bạn : 180/95mmHg tức là huyết áp tâm thu (hoặc tối đa của bạn là 180mmHg và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) là 95mmHg.
Khi trị số huyết áp tâm thu > 140mmHg và huyết áp tâm trương >90 mmHg được xem là cao huyết áp. Đối với người già, dạng cao huyết áp phổ biến là cao huyết áp tâm thu đơn thuần tức là chỉ số huyết áp tâm thu >160mmHg nhưng huyết áp tâm trương không cao(<90mmHg).

Ở trẻ em trị số huyết áp có thấp hơn quy ước của người lớn.


Cách đo huyết áp


Để có trị số huyết áp đúng, việc đo huyết áp là bước chẩn đoán quan trọng nhất vì tránh được việc điều trị quá mức hoặc không đầy đủ. Cần đo nhiều lần và nhiều vị trí khác nhau (2 tay, 2 chân) để so sánh đôi khi phát hiện bệnh lý mạch máu ví dụ như trong teo hẹp eo động mạch chủ huyết áp chi trên cao hơn chi dưới.


Đo huyết áp cần thực hiện trong phòng yên tỉnh, trạng thái tinh thần thoải mái.Tư thế đo huyết áp thông thường là tư thế nằm và ngồi để làm sao băng quấn cánh tay ngang mức với tim.Băng quấn cánh tay(cuff) phải phù hợp kích thứơc cánh tay. Trẻ em cần có băng quấn cánh tay kích thước nhỏ hơn.


Hướng dẫn đo huyết áp


Nên sử dụng máy đo huyết áp nào?
Máy đo huyết áp thủy ngân được xem là tiêu chuẩn. Ngày nay người ta giảm dần việc sử dụng máy đo huyết áp thủy ngân vì độc tính với môi trường. Các loại máy dạng đồng hồ thường phổ biến sử dụng trong giới thầy thuốc, trong khi đó các máy đo huyết áp điện tử thường sử dụng rộng rãi trong dân chúng vì dễ đo. 

Theo Uỷ Ban phối hợp quốc gia về cao huyết áp Hoa Kỳ (JNC) và Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), đối với máy đo huyết áp điện tử, chỉ nên sử dụng loại băng quấn cánh tay, không nên sử dụng cổ tay và ngón tay vì không chính xác.
Bạn có thể chọn máy đo huyết áp đồng hồ hoặc có thể máy đo điện tử để tự đo huyết áp ở nhà. Máy đo huyết áp đồng hồ thường kèm theo ống nghe thường giá rẽ hơn máy đo huyết áp điện tử nhưng đòi hỏi bạn phải được nhân viên y tế huấn luyện cách đo.

Đối với máy đo huyết áp điện tử ưu điểm là dễ sử dụng, nhưng nhược điểm là các máy tại thị trường Việt Nam chỉ có số ít Hãng như Omron là được kiểm định theo tiêu chuẩn Anh Mỹ.


Khi chọn máy đo huyết áp điện tử các bạn nên chọn các loại máy đo huyết áp đã được các tổ chức uy tín kiểm định chất lượng. Hiện nay 2 tổ chức có uy tín trong kiểm tra chất lượng máy đo huyết áp là Hiệp hội cao huyết áp Anh quốc (British Hypertension Society) và Hiệp hội Phát triển Dụng cụ y tế Hoa kỳ (Association for Advancement of Medical Instrumentation).
Theo Medic.com.vn

5 bước bảo vệ tim

1. Không hút thuốc lá
Hút thuốc lá là một trong những yếu tố lớn nhất có thể làm tổn hại tim. Vì vậy, không hút thuốc lá là việc đầu tiên bạn nên làm để có trái tim khỏe mạnh. Một nghiên cứu gần đây cho thấy bỏ thuốc lá có thể giảm hơn 30% nguy cơ mắc bệnh tim.
2. Chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải
Nghiên cứu cho thấy chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải có thể giảm nguy cơ bệnh tim và nguy cơ tử vong. Chế độ ăn này đặc trưng bởi nhiều hoa quả, rau xanh, ngũ cốc nguyên cám, các hoạt hạt, cá, dầu ôliu, các thực phẩm ít béo.
Ảnh minh họa
3. Tập thể dục
Rèn luyện thể chất cũng giúp bạn có một trái tim khỏe mạnh. Hãy cố gắng tập luyện ít nhất3 lần/tuần, mỗi lần 30 phút.
4. Duy trì cân nặng hợp lý
Thừa cân hoặc béo phì có thể khiến mỡ tích tụ trong cơ thể. Tích tụ mỡ, đặc biệt ở vùng bụng, có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim. Vì vậy hãy luôn duy trì cân nặng hợp lý để bảo vệ sức khỏe tim cũng như sức khỏe tổng thể.
5. Quan tâm đến sức khỏe tâm thần
Các yếu tố tâm lý cũng đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe tim. Stress, lo âu và trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim. Vì vậy, ngoài sức khỏe thể chất, bạn hãy luôn quan tâm tới sức khỏe tâm thần. Vui vẻ, hòa đồng với bạn bè, người thân và đồng nghiệp có thể giảm nguy cơ bệnh tim.
Theo N.D - An ninh thủ đô

7 dấu hiệu nhận biết cơn đau tim ở phụ nữ

Theo Mi Trần - Kiến thức

4 nguyên nhân gây đau ngực có thể bạn chưa hề biết

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh của Mỹ, 720.000 người Mỹ gặp những cơn đau tim mỗi năm. 

"Trong hầu hết các trường hợp, cơn đau tim thường xảy ra đột ngột và có thể rất dữ dội, kèm theo đau ngực và/hoặc áp lực bắt đầu ở tim tỏa đến các bộ phận khác của cơ thể như xương hàm, vai, lưng, cổ... bụng", GS Rani Whitfield, bác sĩ gia đình ở Baton Rouge, LA, và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ cho biết. 

Nhưng bạn có biết rằng đau ngực không do xuất phát từ tim (NCCP) ảnh hưởng đến 25% người lớn ở Mỹ.

Khi đau ngực, một số người có thể gặp tình trạng mệt mỏi cùng cực, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn và chóng mặt. Nếu bạn đã nhận thấy mình có những dấu hiệu này, hãy đi khám ngay lập tức.
4 nguyên nhân gây đau ngực không liên quan đến tim mà bạn không ngờ tới:

1. Trào ngược axit

"Nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng đau ngực không phải do tim là bệnh trào ngược dạ dày (GERD)", TS Whitfield cho biết. GERD là một bệnh tiêu hóa mạn tính xuất hiện khi axit dạ dày chảy vào thực quản, gây kích ứng. Tình trạng này có thể trở nên đau đớn hơn sau bữa ăn.

"Nhưng hãy nhớ rằng sự rối loạn do trào ngược dạ dày - thực quản và do bệnh tim có thể xuất hiện cùng lúc. Đó là lý do tại sao khi có dấu hiệu đau ngực, bạn cần đi khám ngay để được chẩn đoán chính xác", TS Whitfield nói.

2. Trầm cảm và lo âu

Lo lắng, trầm cảm có thể làm cho con người bị đau ngực, nhưng nó không thường liên kết với các vấn đề về tim. Bác sĩ tim mạch, Stephen T. Sinatra, người sáng lập Viện Tim mạch Mỹ cho biết: "Tôi thường nói với bệnh nhân của tôi hãy hít vào để xem sâu được đến đâu. Nhưng khi nghi ngờ nguyên nhân gây đau ngực không phải là lo lắng, hãy đến các cơ sở y tế để được thăm khám cẩn thận, đặc biệt là khi cơn đau ngực không biến mất sau đó".

"Điều quan trọng mà bạn cần lưu ý nữa là, bất kì cơn đau tim nào cũng thường đi kèm với những lo lắng, vì vậy, bạn không được chủ quan", TS Sinatra nói thêm.

4 nguyên nhân gây đau ngực có thể bạn chưa hề biết 1Nếu bạn đã nhận thấy mình có những dấu hiệu này đau ngực kèm theo mệt mỏi cùng cực, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn và chóng mặt... hãy đi khám ngay lập tức. Ảnh minh họa

3. Co thắt cơ ngực

Trong một vài tình huống, việc đẩy hoặc kéo vật nặng, mang vác đồ vật hoặc thậm chí tập các tư thế yoga xoắn (khi bạn không đủ linh hoạt) cũng có thể làm căng thẳng cơ bắp ở ngực và gây ra sự khó chịu. Bạn có thể nhầm lẫn sự đau thắt này với đau tim, bác sĩ Sinatra chia sẻ.

Trong trường hợp đau ngực do co thắt cơ ngực, bạn chỉ có thể thực hiện các biện pháp khắc phục như: trở lại tư thế đúng, massage vùng bị đau, chườm lạnh hoặc nóng để hồi phục cơ...

4. Đau vú

Trong một số trường hợp, đau ngực có thể là do những cơn đau vú gây ra. "Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do sự dao động mức độ của hormone estrogen và progesterone trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ gây ra những thay đổi ở nang vú", Mary Jane Minkin, GS lâm sàng của khoa sản và phụ khoa tại Trường Y Yale cho biết. 

Những khối u vú không phải ung thư thường sẽ biến mất sau khi người phụ nữ kết thúc chu kì kinh nguyệt của mình nhưng nó cũng có thể gây ra những cơn đau.

"Trên thực tế, nhiều phụ nữ bị đau ngực trong những ngày này và họ có thể nhầm lẫn rằng đó là cảm giác khó chịu liên quan đến tim mạch. Thật không may, điều ngược lại cũng có thể xảy ra, tức là cơn đau do tim nhưng lại khiến chị em nhầm lẫn là đau ngực", TS Minkin cho biết. Vì vậy, ngay khi bạn cảm thấy có sự đau ngực, bạn cần đi kiểm tra sớm để được bác sĩ khám và chẩn đoán chính xác nguyên nhân.

Bên cạnh đó, nếu bạn là người chăm tập thể dục thì "nếu bạn gặp phải những cơn đau ngực khi đang tập thì nên dừng lại và gọi bác sĩ hoặc đến bệnh viện ngay lập tức bởi đó cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo của bệnh tim", Tiến sĩ Whitfield nói.

Theo Tr.Thu - Trí thức

Những dấu hiệu tiềm ẩn cơn đau tim

Hầu hết chúng ta biết đến các triệu chứng đau tim phổ biến, như đau ngực hoặc khó chịu vùng ngực, đổ mồ hôi lạnh và cơ thể cực kỳ suy yếu.

Nhưng thực tế, có tồn tại những dấu hiệu âm thầm cảnh báo nhồi máu cơ tim, khó nhận biết. Chúng ta rất dễ bỏ qua những triệu chứng này, chủ yếu xuất hiện ở phụ nữ và những bệnh nhân bị tiểu đường.
Những dấu hiệu tiềm ẩn cơn đau tim.Những dấu hiệu tiềm ẩn cơn đau tim
Nếu bạn cảm thấy các triệu chứng kéo dài trong một khoảng thời gian và không có lý do rõ ràng, chắc chắn bạn không nên bỏ qua chúng. Thông thường mọi người cảm thấy rằng có cái gì đó bất thường, nhưng không muốn nghĩ rằng nó có thể là cảnh báo cho một cơn đau tim.
Việc bỏ qua các triệu chứng này sẽ kéo theo những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của bạn. Nếu bạn gặp bất kỳ các dấu hiệu sau đây, bạn cần phải đi khám bác sĩ. Nhận thấy dấu hiệu cơn đau tim sớm và tìm cách chữa trị kịp thời có thể giúp kéo dài cuộc sống của bạn.
Mệt mỏi
Mệt mỏi là triệu chứng phổ biến nhất của một cơn đau tim thầm lặng, xảy ra đặc biệt là ở phụ nữ. Khi một người bị một cơn đau tim, sẽ có ít lưu lượng máu đến tim. Điều này gây thêm sự căng thẳng vào cơ tim, dẫn đến kiệt sức. Nếu bạn cảm thấy quá mệt mỏi, hãy đến gặp bác sĩ để thực hiện một điện tâm đồ (EKG), giúp kiểm tra hoạt động tim của bạn.
Khó chịu ở cổ họng, cổ hoặc hàm
Nếu bạn cảm thấy khó chịu không thể lý giải được ở cổ, hàm hoặc cảm thấy sự khó chịu trong cổ họng của bạn, nó có thể cho thấy một cơn đau tim, vì vậy bạn nên liên hệ với bác sĩ của bạn ngay lập tức.
Đau dạ dày
Các triệu chứng đau tim đôi khi có thể cảm nhận qua các vấn đề dạ dày như buồn nôn, nôn mửa, hoặc khó chịu đường tiêu hóa nói chung.
Ợ nóng
Nếu bạn gặp thường xuyên ợ nóng sau khi ăn trưa nhiều chất, điều đó không có gì phải lo lắng. Nhưng nếu bạn gặp ợ nóng bất thường, hãy gọi cho bác sĩ của bạn vì nó có thể chỉ ra một cơn đau tim. Đau ngực, cảm thấy như ợ nóng được gây ra do ít lưu lượng máu đến tim, đó là chính xác những gì sẽ xảy ra trong một cơn đau tim.
Khó thở
Nếu hoạt động bình thường như đi bộ lên cầu thang hay đeo túi khiến cho bạn khó thở, bạn nên liên hệ với bác sĩ của bạn. Khó thở ngay sau khi thức dậy cũng là một dấu hiệu cho thấy một cái gì đó không ổn.
Đau ở lưng, cánh tay, hoặc ngực
Đau không rõ nguyên nhân, hay bị đau ở lưng, ngực, cánh tay thường là một dấu hiệu của một cơn đau tim.
Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam