Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Người cao huyết áp thận trọng khi dùng thuốc gì?

Các thuốc thông thường dùng chữa các bệnh khác có thể gây tăng huyết áp làm giảm hiệu lực của thuốc hạ huyết áp đang dùng.
Khi điều trị cho người mắc cả hai bệnh cao huyết áp, đái tháo đường thì buộc phải dùng cùng lúc hai loại thuốc này. Thầy thuốc tính liều phối hợp thích hợp để không gây ra tụt huyết áp. 
Người bệnh cần tuân thủ liều này, đồng thời phải giữ chế độ ăn ổn định (không bỏ bữa, không ăn ít hơn) giữ chế độ luyên tập ổn định (không lao động nặng, không luyện tập quá mức) để tránh hạ đường huyết, tụt huyết áp.
Các thuốc thông thường gây tăng huyết áp
Corticoid: Tác động lên sự chuyển hóa giữ muối và nước, làm cho nước trong máu trong dịch gian bào tăng, làm tăng glucose - máu… dẫn tới tăng huyết áp. 
Các corticoid nội sinh như: cortisol do tuyến thượng thận sản xuất ra hay chất tương đương có tác động trên chuyển hóa mạnh, nên gây ra tác dụng không mong muốn này mạnh hơn các chế phẩm bán tổng hợp vốn ít tác động lên quá trình chuyển hóa. Cả hai loại khi dùng liều cao, kéo dài đều gây ra tác dụng không mong muốn này.
Cách khắc phục: nếu chỉ bị dị ứng nhẹ chỉ nên dùng các thuốc chống dị ứng như: chlopheniramin, alimemazin fexofenadin, cetirizin. 
Khi bị hen, không dùng corticoid tiêm, uống để kiểm soát hen mà dùng corticoid hít vì dạng bào chế này chỉ dùng với liều thấp, chủ yếu có tác dụng tại chỗ. 
Khi cần phải dùng corticoid thì chỉ dùng liều vừa đủ, dưới 10 ngày. Nếu bị bệnh tự miễn buộc phải dùng corticoid kéo dài thì chỉ dùng liều vừa đủ, trong từng đợt ngắn, cách quãng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
Các chất cường giao cảm, như: ephedrin trong thuốc chữa hen; phenylephrin, pseudoephedrin trong thuốc cảm OTC. Các chất này làm giãn phế quản nên đỡ nghẹt mũi, sổ mũi làm cho người bệnh dễ chịu, song có tính cường giao cảm làm cho tim đập nhanh, co mạch ngoại vi, gây tăng huyết áp.
Người cao huyết áp tránh và thận trọng dùng thuốc thông thường gì?
Cách khắc phục: khi bị hen nên kiểm soát hen bằng corticoid hít mà không dùng ephedrin, khi bị cảm nên dùng thuốc hạ nhiệt đơn paracetamol không nên dùng thuốc cảm OTC. Nếu cần thiết dùng thuốc cảm OTC chỉ nên dùng liều vừa đủ, một đợt ngắn 2 - 5 ngày, không nên dùng liều cao, kéo dài.
Thuốc chống trầm cảm IMAO: ức chế enzyme monoaminooxydase (MAO), là enzyme gây hủy các chất dẫn truyền thần kinh nên làm bền các chất này, làm cho các chất này trong synap phục hồi lại ngưỡng bình thường, có tác dụng chống trầm cảm. 
Nhưng enzyme MAO có ở nơi khác như enzyme MAO ức chế việc sản xuất tyramin. IMAO ức chế MAO ở các bộ phận khác làm tăng tyramin một chất làm tăng HA, gây cơn đau đầu dữ dội. 
Như vậy, bản thân IMAO vốn có tiềm năng làm tăng HA. Khi dùng IMAO liều vừa đủ thì IMAO chỉ phục hồi các chất dẫn truyền về ngưỡng bình thường mà không làm cho cơ thể sản xuất thêm các chất dẫn truyền thần kinh nên chỉ có tác dụng chống trầm cảm. 
Khi dùng IMAO liều cao thì IMAO còn ức chế các MAO ở các bộ phận khác, hay khi dùng IMAO với các chất cường giao cảm vốn có tính năng làm cho tim đập nhanh, co mạch ngoại vì… thì sẽ gây tăng HA.
Cách khắc phục: không dùng IMAO liều cao hơn liều tối ưu dùng chống trầm cảm, không dùng IMAO với các chất cường giao cảm.
Kháng viêm không steroid: một số nhóm thuốc chữa CHA như chẹn beta, ức chế men chuyển kích thích tổng hợp chất prosataglandin, một chất gây giãn mạch nên làm hạ HA. Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) sức chế sự sản xuất prostaglandin làm giảm hiệu lực hạ huyết áp của thuốc chẹn beta, ức chế men chuyển.
Cách khắc phục: nên tránh dùng chung hai loại thuốc này.
Thuốc co mạch: trừ phân nhóm 1 của chẹn beta có tác dụng chẹn chọn lọc beta-1, giảm lượng máu từ tim tống ra động mạch nên làm hạ huyết áp, còn hầu hết các nhóm thuốc chữa CHA còn lại đều làm hạ HA thông qua việc làm giãn mạch ngoại vi trực tiếp hay gián tiếp. 
Thuốc co mạch như ergotamin làm co mạch ngoại vi, ngược lại với cơ chế làm hạ huyết áp, nên làm giảm hiệu lực hạ HA của các nhóm thuốc trên.
Cách khắc phục: không nên dùng chung thuốc chữa cao huyết áp với thuốc co mạch.
Thức ăn và thuốc chứa nhiều ion natri (Na+): khi nghiên cứu nhóm chuột bị cao huyết áp di truyền thấy Na+ trong sợi cơ trơn thành tiểu động mạch của chúng có nhiều Na+ hơn trong cơ trơn thành tiểu động mạch của nhóm chuột chứng không bị cao HA. 
Na+ không gây co cơ trơn thành tiểu động mạch nhưng kéo theo Ca+2 vào nội bào. Chính Ca+2 khi vào nội bào nhiều thì sẽ gắn kết với phức tropomin C, làm thay đổi cấu trúc không gian của phức này, bộc lộ actin, tạo điều kiện cho actin kết hợp với myosin gây nên co cơ. 
Sự co cơ thành tiểu động mạch tăng sẽ cản trở lưu thông máu, dẫn tới cao huyết áp. Như vậy sự tồn tại nhiều Na+ trong nội bào cơ trơn thành tiểu động mạch không lợi cho chuột bị cao huyết áp.
Vì Na+ có vai trò gián tiếp làm tăng sự co cơ, có thể không có lợi cho người cao huyết áp, nên khuyến cáo người bị cao huyết áp không nên ăn mặn (muối Natrichlorid = NaCl). 
Ví dụ: một năm một người miền biển ăn khoảng 6.000g muối (16g/ngày), miền đồng bằng ăn khoảng 5.000g muối (13,5g/ngày). Người sinh ra lớn lên ở vùng nào thì không nên ăn muối vượt mức ăn trung bình của vùng đó. 
Thí dụ thang dinh dưỡng Việt Nam (2013) khuyến cáo mức ăn hạn chế muối dưới 10g/ngày. Nhiều người cao huyết áp chưa hiểu rõ điều này, tạo ra chế độ ăn nhạt, rất bất tiện, rất khổ vì ăn nhạt rất khó, không cảm thấy ngon. Cũng nên biết, người cao huyết áp cũng cần đủ Na+ để thiết lập hệ cân bằng nội môi, nên ăn quá nhạt, không đủ Na+ sẽ có hại.
Tất cả các chất chứa nhiều Na+ như các loại viên hay dung dịch sủi bọt (chưa NAHCO3) thuốc chữa đau dạ dày (chứa NAHCO3, Na2CO3), mì chính (chữa natriglutamat) đều làm tăng Na+, không lợi cho người cao HA chứ không riêng gì muối ăn (NaCl). 
Mỗi ngày giảm ăn 1g muối thì chỉ giảm được 390mg Na+ nhưng uống một viên sủi canxium sandor thì đưa thêm vào cơ thể 290mg Na+, dùng một thìa cà phê mì chính thì đưa vào cơ thể thêm tới 680mg Na+. Nhiều người kiêng ăn mặn (NaCl) mà vẫn thừa Na+ là vì dùng các chất này.
Cách khắc phục: ăn hạn chế muối, không dùng thái quá các loại viên sủi (như dùng viên sủi C để giải khát thường xuyên), không nên dùng thuốc chữa dạ dày chứa Na2CO3 mà nên làm giảm tiết dịch vị bằng chất khác.
Thuốc gây hạ huyết áp
Thuốc lợi tiểu: thuốc này dùng trong điều trị cao huyết áp. Nhưng trong điều trị cao huyết áp, người ta dùng cơ chế hạ HA do ức chế protein vận chuyển natri - chlor qua trung gian giãn mạch, nên chỉ cần dùng liều nhỏ là đã có hiệu lực hạ HA mà không gây mất nước, mất K+ nhiều, nên không gây tụt huyết áp, không hại cho tim mạch(thiazid dùng 100mg/ngày, indapamid dùng 2 - 5mg/ngày). 
Song nếu dùng lợi tiểu với liều cao hay khi phối hợp lợi tiểu với các thuốc chữa CHA khác không tính toán kỹ thì có thể gây mất nhiều nước mất nhiều K+ gây ra tụt huyết áp gây hại cho tim mạch.
Cách khắc phục: khi dùng lợi tiểu đơn trị liệu thì chỉ cần dùng liều nhỏ vừa đủ gây hạ HA (lúc đầu dùng liều thấp rồi tăng dần đến liều có hiệu lực). Khi dùng lợi tiểu trong trị liệu phối hợp thì cần tính toán kỹ để cộng hợp cả hiệu lực hạ HA của lợi tiểu và thuốc khác chỉ đưa HA về mức HA mục tiêu mà không gây tụt HA. 
Có hai cách: hoặc dùng lợi tiểu trước sau đó nghỉ dùng thuốc lợi tiểu vài ba ngày rồi mới dùng thuốc hạ HA khác (như chẹn beta) hoặc nếu phối hợp cùng lúc thì phải phối hợp dần dần thuốc lợi tiểu (lúc đầu phối hợp liều thấp, sau đó tăng dần liều phối hợp đến mức đạt được yêu cầu).
Thuốc giãn mạch: các thuốc chữa cao huyết áp do gây giãn mạch gián tiếp hay trực tiếp mà làm hạ HA. Các thuốc như glyceryl trinitrat, isosorbid cũng gây giãn mạch. Nếu phối hợp thuốc chữa cao huyết áp với thuốc giãn mạch thì hai thuốc này cộng hợp cơ chế giãn mạch, gây ra tụt HA đột ngột.
Cách khắc phục: số thuốc giãn mạch được dùng trong bệnh tim mạch như dùng trong bệnh mạch vành. Nếu người cao huyết áp có nhu cầu dùng cả thuốc hạ HA lẫn thuốc giãn mạch thì cần dùng liều phối hợp thận trọng để không gây ra tụt HA đột ngột.
Thuốc đái tháo đường: thuốc đái tháo đường týp 1 (insulin tiêm) hoặc thuốc đái tháo đường týp 2 (uống) đều làm hạ glucose - máu dẫn đến làm hạ HA, nếu dùng liều cao (quá liều chỉ định) có thể gây tụt HA mạnh.
Cách khắc phục: khi điều trị cho người mắc cả hai bệnh cao huyết áp, đái tháo đường thì buộc phải dùng cùng lúc hai loại thuốc này. Thầy thuốc tính liều phối hợp thích hợp để không gây ra tụt HA. 
Người bệnh cần tuân thủ liều này, đồng thời phải giữ chế độ ăn ổn định (không bỏ bữa, không ăn ít hơn) giữ chế độ luyên tập ổn định (không lao động nặng, không luyện tập quá mức) để tránh hạ đường huyết, tụt HA.
Những thuốc thông thường gây tăng hay gây giảm HA nói trên không phải là chống chỉ định với người cao huyết áp nhưng không lợi cho người cao huyết áp, có trường hợp nên tránh dùng nếu có thể được), có trường hợp phải dùng thận trọng (nếu cần) nhằm hạn chế tác dụng không mong muốn, gây ảnh hưởng không lợi đến việc điều trị cao huyết áp.
Theo DS.CKII Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống

Cách hạ mỡ máu không cần thuốc nhưng vô cùng hiệu quả

Mỡ máu cao hay còn được gọi là máu nhiễm mỡ, rối loạn mỡ máu,…là nguyên nhân dẫn đến các căn bệnh về tim mạch, huyết áp cao, xơ vữa động mạch, đột quỵ.

Ở Việt Nam có khoảng 29.1 % dân số mắc phải căn bệnh này. Trong đó, người cao tuổi chiếm 63%, độ tuổi trung niên từ 35-45 chiếm khoảng 41,7%.
Cholesterol tốt, cholesterol xấu và triglyceride là 3 thành phần chứa trong mỡ máu. Tỷ lệ cholesterol chiếm 60-70%, khi cholesterol xấu và triglyceride đột ngột tăng cao sẽ khiến lượng mỡ trong máu tăng.
Khi đó, tình trạng xơ vữa động mạch, các cụ máu đông tích tụ gây tắc nghẽn, vỡ động mạch máu dẫn đến hiện tượng đột quỵ, nguy hiểm đến tình mạng của người bệnh.
Mỡ máu cao gây ra xơ vữa và tắc nghẽn động mạch
Mỡ máu cao gây ra xơ vữa và tắc nghẽn động mạch
Nguyên nhân khiến mỡ máu cao
Nguyên nhân hàng đầu khiến mỡ máu cao được xác định là do béo phì. Tuy nhiên, còn những yếu tố kinh điển hơn mà bạn không ngờ có thể khiến bạn mắc phải căn bệnh nguy hiểm này.
Giới tính - tuổi tác
Giới tính và tuổi tác khác nhau sẽ có lượng Estrogen tăng giảm khác nhau.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở những phụ nữ trong độ tuổi từ 15 - 45 tuổi thường có tỉ lệ triglyceride thấp hơn so với nam giới. Tuy nhiên, khi tuổi tác tăng, bước vào giai đoạn mãn kinh thì lượng
triglyceride và cholesterol xấu sẽ tăng lên làm tăng khả năng mắc bệnh xơ vữa động mạch khi mỡ máu tăng cao.
Người béo phì
Đây được xác định là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mỡ máu cao. Khi cân nặng của chúng ta vượt quá mức cho phép thì tất nhiên lượng mỡ trong máu sẽ tăng vọt và các bệnh về tim mạch, huyết áp cao, xơ vữa động mạch sẽ rình rập bạn.
Vì vậy, hãy giữ cho trọng lượng cơ thể ở mức ổn định để tránh nguy cơ mắc bệnh mỡ máu.
Người bị Stress
Thường xuyên căng thẳng, stress hay thường xuyên cáu gắt, tâm trạng bất ổn cũng sẽ khiến lượng cholesterol tăng cao. Do khi đó bạn cảm thấy mình cần ăn nhiều hơn để giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi và tiếp năng lượng cho hoạt động.
Trong trường hợp này chúng ta cũng sẽ có xu hướng ăn nhiều đồ ăn ngọt, chất béo. Đây là nguyên nhân khiến lượng mỡ trong máu bị dư thừa.
Ngoài ra, việc ít vận động cũng là nguyên nhân khiến lượng mỡ tích tụ lại trong cơ thể và máu của bạn đó.
Làm gì để phòng tránh mỡ máu cao?
- Ổn định trọng lượng cho cơ thể để cân bằng lượng cholesterol tốt và xấu cũng như triglyceride trong mỡ máu.
- Tăng cường luyện tập để cơ thể khỏe mạnh, tiêu hao lượng mỡ dư thừa trong cơ thể.
- Ăn uống lành mạnh. Hạn chế các đồ ăn nhiều dầu mỡ, chất béo, tránh dùng những thực phẩm chứa chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, caffein,…
- Sinh hoạt điều độ, tránh làm việc quá sức, căng thẳng và stress, có thời gian vui chơi giải trí để giảm áp lực công việc,…
- Thường xuyên kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, nhất là ở những người ở độ tuổi từ 40 trở lên, phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh,…
Theo Tuyết Anh - Đại lộ

Nhận diện nguy cơ bệnh tim ở phụ nữ

Tạp chí Circulation (Hiệp hội Tim mạch Mỹ) gần đây đăng tải, mỗi năm, hơn một triệu người Mỹ từng trải qua một cơn đau tim và gần một nửa trong số đó tử vong.

Bệnh tim được đánh giá là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với phụ nữ Mỹ.
Các nguyên nhân gây bệnh tim ở phụ nữ
Theo giải thích của các nhà khoa học, khi các cục huyết khối hình thành sẽ làm tắc nghẽn quá trình lưu thông máu về tim, gây nên các cơn đau tim.
Các yếu tố gây nên bệnh tim bao gồm: cao cholesterol, cao huyết áp và béo phì - ảnh hưởng đến cả đàn ông và phụ nữ. Bên cạnh đó, một vài yếu tố khác có thể được xem là nguy cơ làm phát triển bệnh tim ở phụ nữ bao gồm: hội chứng chuyển hóa; căng thẳng tinh thần và trầm cảm; hút thuốc lá; sụt giảm mức estrogen sau giai đoạn mãn kinh; có tiền sử gia đình mắc bệnh tim.
Thay đổi lối sống để giảm rủi ro
BS Marianne J. Legato, người sáng lập và là giám đốc bộ phận y học đặc thù về giới tính tại trường đại học (ĐH) Columbia (Mỹ) cho biết, điều đầu tiên chị em cần làm để ngăn ngừa nguy cơ bệnh tim là tầm soát căng thẳng và trầm cảm. 
Bất cứ khi nào phải đối diện với một vấn đề gây căng thẳng kéo dài, không thể giải quyết, chị em nên tâm sự với bạn bè hoặc các nhà tâm lý. Phương pháp này rất hiệu quả nhằm giúp giải tỏa căng thẳng.
Làm thế nào để nhận biết bạn có bị căng thẳng hay không? Hãy quan sát những việc bạn đang làm như có ăn quá nhiều hoặc không ăn, có thích mua sắm, uống rượu, cờ bạc… không? Tất cả những việc này khi vượt quá tầm kiểm soát, có thể được xem là chỉ dấu báo hiệu bạn đang bị căng thẳng.
BS Legato lưu ý, việc tập thể dục cũng là một giải pháp giúp giảm căng thẳng, ngay cả chỉ đơn giản là đi bộ. Chị em hãy thường xuyên thực hiện việc đi bộ để tăng cường hoạt động thể chất bất cứ khi nào có thể, như đi cầu thang bộ thay vì thang máy, đi bộ hoặc đi xe đạp khi cần đến những nơi gần, thường xuyên thay đổi tư thế hoặc rảo bước quanh phòng khi xemti vi…
Bên cạnh đó, việc thay đổi lối sống và thói quen hàng ngày có thể giúp chị em giảm nguy cơ phát triển bệnh tim, như không hút thuốc lá, duy trì thể trọng khỏe mạnh và tuân thủ chế độ ăn uống có lợi cho tim bao gồm:
- Trái cây và rau quả.
- 100% các loại ngũ cốcnguyên cám.
- Sữa và các loại sản phẩm từ sữa không béo hoặc ít chất béo.
- Protein từ thịt nạc, gia cầm, cá, đậu, trứng và các loại hạt.
- Thực phẩm chứa ít chất béo bão hòa, chất béo trans, cholesterol, muối, natri và đường.
Trong trường hợp chị em đang mắc phải một vài yếu tố góp phần gây bệnh tim, như cao huyết áp, cao cholesterol, hoặc bệnh tiểu đường, hãy tuân thủ thực hiện theo lời khuyên của bác sĩ, uống thuốc đúng liều lượng và thời gian theo toa, tầm soát mức huyết áp và đường huyết.
Theo Nguyễn Niệm - Phụ nữ TPHCM

5 món sinh tố cho người cao huyết áp

Theo Hoàng Minh - Kiến thức

Cảnh giác với tăng huyết áp thai kỳ

Tăng huyết áp (THA) khi mang thai là một bệnh lý nguy hiểm và cũng là nguyên nhân gây ra các biến chứng, thậm chí tử vong cho cả mẹ và thai nhi.




Tăng huyết áp (THA) khi mang thai là một bệnh lý nguy hiểm và cũng là nguyên nhân gây ra các biến chứng, thậm chí tử vong cho cả mẹ và thai nhi. Có khoảng 15% phụ nữ mang thai bị THA và 25% trường hợp đẻ non do THA. Trong đó, tiền sản giật và sản giật là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất.
Thế nào là tăng huyết áp thai kỳ?
THA thai kỳ có thể được chẩn đoán dựa vào trị số huyết áp đo được hoặc dựa vào sự tăng huyết áp tương đối so với trước khi mang thai. 
Khi huyết áp trên 140/90mmHg thì được gọi là THA. Nếu huyết áp tâm thu tăng trên 30mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng trên 15mmHg so với mức huyết áp đo được ở thời điểm trước khi mang thai thì cũng được gọi là THA thai kỳ.
Cảnh giác với tăng huyết áp thai kỳThai phụ nên kiểm tra sức khỏe và được tư vấn thường xuyên trong suốt thai kỳ
Muốn biết chính xác số đo huyết áp phải sử dụng máy đo huyết áp, tuy nhiên, nếu thai phụ chú ý quan sát sức khỏe của bản thân có thể nhận biết qua một số dấu hiệu như: cảm giác căng thẳng, khó chịu, nhức đầu, thấy ù ù trong tai, hoa mắt, chóng mặt, nếu nhìn thấy mờ đi thì bệnh đã nặng. Khi xuất hiện triệu chứng trên thì phải nghĩ ngay đến THA do nhiễm độc thai nghén. Bệnh này thường xảy ra sau tuần mang thai thứ 20.
Một số nguyên nhân gây ra chứng THA ở thai phụ: Tuổi của sản phụ quá cao (trên 35 tuổi). Gia đình có người bị THA. Thai phụ quá cân, trước khi mang thai đã bị bệnh THA, viêm thận mạn tính, đái tháo đường. Chế độ dinh dưỡng lúc mang thai chưa tốt, kèm theo đó là chứng thiếu máu trầm trọng. Chửa sinh đôi, sinh ba. Thai phụ có nước ối quá nhiều. Thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường...
Nguy cơ do THA thai kỳ
Hậu quả lâu dài trên hệ tim mạch: Những người bị THA ở lần mang thai đầu có nguy cơ cao bị THA ở lần mang thai sau. Họ còn có nguy cơ bị THA và đột quỵ cao sau này. Những người bị tiền sản giật hoặc chậm phát triển bào thai trong buồng tử cung sẽ tăng nguy cơ bị bệnh và nguy cơ tử vong do bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ. 
Thế nhưng, với những phụ nữ đã trải qua thời kỳ sinh nở mà không bị THA thì sẽ ít bị nguy cơ mắc bệnh tim mạch hơn những phụ nữ không sinh đẻ. Việc sinh đẻ cũng khiến phụ nữ giảm được nguy cơ mắc bệnh tim mạch về sau này, điều mà nam giới không thể có được.
Tiền sản giật và sản giật: Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thời kỳ thai nghén và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau. 
Trước đây người ta chẩn đoán tiền sản giật dựa vào ba triệu chứng: THA, phù và protein niệu nhưng quan niệm hiện đại thì cho rằng chỉ cần có THA thai nghén kèm với protein niệu nhiều là đủ để chẩn đoán tiền sản giật. Nguy cơ của thai nhi là chậm phát triển trong buồng tử cung và bị sinh non.
Tăng huyết áp có thể dự phòng được không?
Giới y khoa khuyên rằng, phụ nữ mắc các bệnh như hen suyễn, tim, bệnh viêm gan... thì không nên mang thai. Tuy nhiên, những phụ nữ bị chứng THA vẫn có thể mang thai. Nếu biết trước trong gia đình có người bị THA hoặc do các nguyên nhân khách quan, họ có thể chủ động phòng tránh bằng một số biện pháp như sau:
Tư vấn trước sinh: Phụ nữ bị THA trước khi mang thai cần được đánh giá kỹ lưỡng để loại trừ nguyên nhân gây THA thứ phát như bệnh lý thận, đánh giá hiệu quả điều trị huyết áp và chỉnh liều thuốc để đạt hiệu quả hạ áp tối ưu. 
Đặc biệt, họ cần được tư vấn về nguy cơ xuất hiện tiền sản giật và việc phải thay đổi một số thuốc nếu họ muốn mang thai an toàn. Phần lớn những phụ nữ bị THA đều có thể mang thai và sinh nở bình thường nếu họ được kiểm soát và theo dõi tốt tình trạng huyết áp của mình.
Điều trị bằng thuốc: THA cần phải điều trị cho dù cơ chế sinh bệnh là gì. Việc điều trị chủ yếu để phòng tránh biến chứng chảy máu nội sọ. Tuy nhiên không nên điều trị THA quá tích cực sẽ làm giảm việc cung cấp máu cho nhau thai và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. 
Điều trị những trường hợp THA nhẹ và vừa (dưới 155/100 mmHg) có lợi cho mẹ hơn là cho thai nhi trong những ngày đầu của thai kỳ. Một số phụ nữ đang được điều trị THA từ trước thì khi mang thai có thể giảm hoặc ngừng thuốc do trong nửa đầu của thai kỳ, huyết áp sẽ giảm một cách sinh lý. 
Tuy nhiên, sự giảm huyết áp này chỉ mang tính chất tạm thời, thai phụ cần được theo dõi sát và phải dùng thuốc lại khi cần thiết. Đối với trường hợp bị THA nặng (trên 170/110mmHg): Nguy cơ bị biến chứng và tử vong cho mẹ trong những trường hợp (trên 170/110mmHg) nặng và tiền sản giật rất cao. Điều trị hạ huyết áp không có tác dụng ngăn chặn tiền sản giật. 
Chỉ đình chỉ thai nghén mới có tác dụng trong trường hợp này nhưng điều trị hạ huyết áp lại có thể làm giảm biến chứng chảy máu nội sọ. Nếu huyết áp trên 170/110mmHg là nặng, điều trị bao gồm kiểm soát tốt huyết áp bằng các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch và cố gắng duy trì quá trình thai nghén đến mức tối đa mà không gây ảnh hưởng gì đến mẹ và thai nhi.
Dự phòng tiền sản giật khi mang thai: Tiền sản giật có thể dự phòng hoặc giảm bớt biến chứng nhờ khám thai định kỳ, thường xuyên. Cần tuân thủ việc điều trị đái tháo đường nghiêm ngặt hoặc các bệnh nội khoa khác đang có sẵn. Sản phụ có thể nghỉ ngơi tại nhà nếu bệnh nhẹ, tự đếm cử động thai, tự theo dõi các dấu hiệu trở nặng như phù tăng, lên cân nhanh, nhức đầu nặng, mắt nhìn mờ, đau vùng gan, buồn nôn, nôn nhiều.
Cần nhập viện ngay khi có một trong các dấu hiệu trên bởi thực tế lúc nào tiền sản giật biến thành sản giật khó đoán trước được. Nếu xảy ra sản giật, sản phụ có thể rơi vào hôn mê, phù não, xuất huyết não, phù phổi cấp, suy tim, rau bong non gây tử vong cho mẹ và con.
Lời khuyên của thầy thuốc
Bệnh THA ảnh hưởng lớn đến phụ nữ mang thai, thai nhi và trẻ sơ sinh sau này. Vì thế, việc chẩn đoán sớm và phòng ngừa bệnh có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ sức khỏe của phụ nữ mang thai, thai nhi, góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. 
Do đó, thai phụ cần đi khám thai đều đặn, theo dõi chặt chẽ mọi biến đổi của cơ thể, trong đó có vấn đề huyết áp. Nếu có những biểu hiện THA cần đi khám sản khoa và tim mạch để được điều trị kịp thời.
Theo BS Hạnh Nguyễn - Sức khỏe và đời sống

Thuốc nào cứu mạng người thiếu máu cơ tim?

Đau thắt ngực do thiếu máu cục bộ cơ tim thường xảy ra sau khi bệnh nhân làm việc gắng sức, trải qua những stress nặng nề hoặc sau khi ăn quá no.

Đau thắt ngực do thiếu máu cục bộ cơ tim thường xảy ra sau khi bệnh nhân làm việc gắng sức, trải qua những stress nặng nề hoặc sau khi ăn quá no. Đau thắt ngực do bệnh này có hai dạng là đau thắt ngực ổn định và đau thắt ngực không ổn định. 
Cơn đau thắt ngực ổn định thường kéo dài từ 1 - 15 phút và giảm đi khi nghỉ ngơi hoặc đặt thuốc nitrates dưới lưỡi. Còn cơn đau thắt ngực không ổn định, mặc dù ít gặp nhưng nếu xuất hiện thì cơn đau ngực xuất hiện nhiều và dài hơn, không giảm khi nghỉ và ít đáp ứng với các nitrates.
Cơn đau thắt ngực có thể là triệu chứng của nhồi máu cơ tim.Cơn đau thắt ngực có thể là triệu chứng của nhồi máu cơ tim
Dấu hiệu cho biết đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim
Vị trí đau thường sau xương ức, đột ngột làm bệnh nhân đang gắng sức phải ngừng lại ngay. Bệnh nhân có cảm giác tức ngực như có gì bóp, có gì đè chẹn sau xương ức hoặc phía bên quả tim. Hoặc đau lan lên hai vai, lên hai bên quai hàm dưới ra phía trong tay trái, lên cổ.
Trường hợp không điển hình, cơn đau xuất hiện bên phải, ở vùng thượng vị mà có khi nhầm là cơn đau dạ dày cấp. Cũng có khi đau ở bả vai, cổ tay và cổ.
Tính chất đau có khi như dao đâm hoặc trái lại không đau mà chỉ có cảm giác tức ngực, khó thở, nghẹn thở, có vật gì chèn ép ở cổ, bỏng rát ở trước tim, hướng lan cũng khác, có khi xuống thượng vị hoặc ra sau lưng. Người bệnh bồn chồn, hốt hoảng, lo sợ có cảm giác sắp chết đến nơi không dám cử động vì sợ cơn đau dữ dội thêm. Thời gian đau kéo dài từ vài giây đến 10, 15 phút.
Dùng thuốc gì khi có cơn đau thắt ngực?
Khi đang đau, bệnh nhân cần phải đứng im, ngừng mọi cử động, nếu đang ở nhà hoặc không phải trong bệnh viện thì cần nằm yên hoặc theo tư thế nửa nằm nửa ngồi, tránh di chuyển, thường chỉ nghỉ ngơi như vậy cũng có thể hết đau, nhưng nếu đau nặng lên thì cần phải dùng thuốc và đi bệnh viện ngay.
Thuốc thường được sử dụng ngay, có thể dùng cấp cứu tại nhà là nitroglycerin ngậm dưới lưỡi. Nitroglycerin là một thuốc chống cơn đau thắt ngực và là dẫn xuất của nitrat. Thuốc dễ hấp thụ qua đường tiêu hóa, tuy nhiên lại bị chuyển hóa qua gan lần đầu nên sinh khả dụng thấp, vì vậy thường được sử dụng dưới dạng ngậm dưới lưỡi. 
Nếu đặt dưới lưỡi, thuốc có tác dụng ngay sau 1 - 2 phút và đạt nồng độ tối đa sau 4 phút. Ngoài dạng ngậm dưới lưỡi, thuốc còn có dạng uống, dạng tiêm hoặc dạng dùng ngoài da, tuy nhiên dùng các dạng thuốc này ở liều cao dễ dẫn đến quen thuốc.
Nitroglycerin làm giãn tất cả các cơ trơn, nhưng không ảnh hưởng đến cơ vân và cơ tim, đặc biệt tác dụng rất rõ trên cả động mạch và tĩnh mạch lớn nên làm giảm lượng máu tĩnh mạch trở về, đồng thời làm giãn động mạch lớn, vì vậy làm giảm sử dụng ôxy cơ tim và giảm công năng tim, làm giãn mạch vành và làm lưu lượng vành tăng tạm thời. 
Bên cạnh đó, thuốc còn làm thay đổi phân phối máu cho tim, tăng tuần hoàn phụ cho vùng tim thiếu máu có lợi cho vùng dưới nội tâm mạc, thuốc còn chống kết tập tiểu cầu cản trở fibrinogen bám vào tiểu cầu để hình thành huyết khối, nhất là ở vùng nội tâm mạc bị tổn thương, chính vì vậy thuốc có tác dụng để điều trị cơn đau thắt ngực. 
Ngoài ra, thuốc làm giãn mạch toàn thân trực tiếp và thoảng qua nên làm giảm lưu lượng tim, giảm sức cản ngoại vi và lưu lượng tâm thu nên thuốc còn có tác dụng gây hạ huyết áp.
Với điều trị cấp cứu cắt cơn đau thắt ngực thường dùng loại 0,25mg hoặc 0,75mg ngậm dưới lưỡi; để điều trị dự phòng thường dùng loại 2,5mg hoặc 7,5mg để uống; có thể dùng dạng dán ngoài da vùng ngực trái hoặc dạng mỡ bôi.
Tuy nhiên, cần chú ý khi sử dụng thuốc có thể gây ra tình trạng giãn mạch ngoại vi làm đỏ bừng da nhất là vùng ngực, mặt, mắt, có thể gây tăng nhãn áp; thuốc có thể gây giãn mạch não làm cho bệnh nhân bị nhức đầu, có thể làm tăng áp lực nội sọ; làm hạ huyết áp tư thế đứng; gây tăng tiết dịch vị, làm tăng nhịp tim; nếu sử dụng liều cao kéo dài sẽ gây quen thuốc; do đó thuốc không được sử dụng cho bệnh nhân huyết áp thấp (huyết áp tối đa < 100mmHg), bệnh nhân bị tăng nhãn áp hoặc tăng áp lực nội sọ.
Bên cạnh việc điều trị cấp cứu, cần tìm hiểu kỹ để điều trị nguyên nhân gây nên cơn đau thắt ngực. Điều trị lâu dài bằng các loại thuốc giãn mạch khác như: lenitral, isosorbit, tildiem, vastarel... hoặc bằng phẫu thuật động mạch vành, khoét mảng xơ vữa động mạch, bắc cầu nối, nong động mạch vành.
Bên cạnh việc dùng thuốc, người đau thắt ngực không cần nghỉ ngơi tuyệt đối nhưng cần hạn chế lao động chân tay và trí óc, tránh gắng sức, nhất là gắng sức đột ngột, đi bộ nhanh, lên dốc, lên cầu thang, ngược gió, tránh lạnh, tránh gió lùa, không được tắm đêm, sống điều độ, có giờ giấc nghỉ ngơi, tránh làm việc ngay sau bữa ăn. 
Tập thể dục nhẹ, đi bộ ngắn và chậm nhưng không chơi thể thao nặng như tập tạ, tennis, chú trọng giải trí, nghe nhạc... Không hút thuốc lá vì thuốc lá là nguyên nhân xuất hiện cơn đau, hạn chế cà phê đặc và nước chè đặc vì nó gây mất ngủ. 
Không nên ăn những bữa quá thịnh soạn, không uống rượu. Ăn hạn chế chất có nhiều lipid và cholesterol như mỡ động vật, bơ, lòng đỏ trứng, óc, gan, thận và nên dùng dầu thực vật thay mỡ động vật.
Theo ThS Nguyễn Thu Hiền - Sức khỏe và đời sống

Bạn có bệnh tim không?

Trên thế giới bệnh tim mạch hiện nay là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của con người.

Bệnh thường kết hợp với các bệnh khác của cơ thể như: tiểu đường, rối loạn chuyển hoá lipide, hội chứng thận hư…
Và ở những bệnh nhân có bệnh kết hợp này, tỉ lệ tử vong tăng lên từ 2-4 lần so với những người bị bệnh tim mạch đơn thuần.
Lồng ngực khó chịu, đau thắt ngực khi hoạt động
Có rất nhiều triệu chứng mà trong thuật ngữ chuyên môn các thầy thuốc thường gọi là triệu chứng cơ năng, gợi ý cho người bệnh cảm thấy mình bị bệnh tim mạch và thấy cần phải đi khám bệnh ở bệnh viện hay phòng khám. 
Những triệu chứng này thường do tình trạng thiếu máu cục bộ của cơ tim, tình trạng rối loạn vận động cơ tim, giãn các buồng tim và tổn thương của hệ thống van trong buồng tim gây ra.
Biểu hiện hay gặp nhất của thiếu máu cơ tim cục bộ là khó chịu ở lồng ngực bên trái và nặng hơn là đau thắt ngực. Còn giảm khả năng làm việc của cơ tim sẽ dẫn đến cảm giác yếu, dễ mệt, nhất là khi hoạt động hoặc nặng hơn là xanh tím, tụt huyết áp, ngất và tăng áp lực động mạch phổi, suy tâm thất trái điều này đưa đến phù và khó thở.
Các triệu chứng cơ năng mà người bệnh gặp phải thường tăng lên khi hoạt động nhiều, gắng sức, trong trạng thái xúc động … Hiếm khi xuất hiện lúc nghỉ ngơi, nếu triệu chứng đau ngực, khó thở, hồi hộp….xuất hiện lúc nghỉ ngơi cần phải nghĩ đến những bệnh của hệ thống thần kinh thực vật hơn là các tổn thương thực thể của tim.
Những lầm lẫn thường gặp trong khi chẩn đoán bệnh tim
Vì bệnh tim mạch rất phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân và có rất nhiều người không phải là thầy thuốc cũng đã quen nghe đến các triệu chứng chủ yếu của loại bệnh này. Chính vì vậy, rất nhiều người và cả thầy thuốc cứ gán bừa những triệu chứng cơ năng không phải của bệnh tim coi như là bệnh sự.
Hơn nữa sự kết hợp giữa tư tưởng sợ bệnh tim phổ biến trong xã hội với sự liên tưởng sâu đậm giữa bệnh tim và các rối loạn cảm xúc làm cho những người không bị bệnh tim, nhưng luôn luôn tưởng tượng ra những triệu chứng giống bệnh tim. Bản thân họ không biết những chuyện như vậy chỉ làm khổ bản thân họ, gia đình và thậm chí cho cả thầy thuốc nữa.
Trong các triệu chứng hay gặp ở bệnh tim thì hiện tượng khó thở là triệu chứng gây khó khăn nhiều nhất cho công việc chẩn đoán vì không chỉ đặc trưng cho bệnh tim, mà còn là dấu hiệu của nhiều loại bệnh khác như các bệnh về phổi, những người béo phì và những người có tình trạng cảm xúc bị rối loạn. 
Tương tự, triệu chứng đau và nặng ngực cũng do nhiều bệnh khác như đau cơ thành ngực, viêm dạ dày thực quản… gây ra chứ không riêng gì bệnh thiếu máu cơ tim. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ cách xuất hiện của cơn đau và các triệu chứng đi kèm, người thầy thuốc có thể chẩn đoán chính xác người bệnh có bị bệnh tim thật sự hay không?
Bệnh tim có di truyền hay không?
Khá nhiều bệnh tim có tính chất gia đình, nhất là những bệnh tim có kết hợp với các bệnh khác như tiểu đường, rối loạn chuyển hoá… Một số bệnh tim khác phải kể đến cũng có yếu tố gia đình như: hội chứng Marfan, bệnh cơ tim phì đại, đột tử trong hội chứng QT kéo dài…
Trong cao huyết áp không rõ nguyên nhân thì có yếu tố gia đình nhưng không rõ rệt lắm. Nhiều bệnh tim khác trong gia đình không những do di truyền mà còn do các thói quen về sinh hoạt và ăn uống của gia đình bệnh nhân như: ăn quá mặn, ăn nhiều mỡ và chất bột đường, hút thuốc lá, thuốc lào… 
Chính vì vậy, ở những gia đình có người bị bệnh tim, các thành viên khác trong gia đình cần phải chú ý khả năng mắc bệnh tim của mình. Việc phát hiện bệnh sớm là rất cần thiết cho điều trị, ở tuổi trên 40, những người có yếu tố nguy cơ cao trong gia đình có tiền sử bệnh tim mạch nên đi khám bệnh định kỳ mỗi sáu tháng để tầm soát sớm bệnh tim mạch.
Bạn có bị bệnh tim?
Sau khi khám bệnh tại một thầy thuốc chuyên khoa về tim mạch và được làm thêm một số xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán xác định cũng như loại trừ bệnh như đo điện tim, siêu âm tim, chụp x quang tim phổi…người bệnh có thể ở vào một trong ba trường hợp sau đây:
- Bạn hoàn toàn không bị bệnh tim, khi đó chính bản thân người thầy thuốc phải cương quyết khẳng định với người bệnh như vậy và không nên hẹn họ quay lại kiểm tra tim mạch định kỳ vì nếu quá quan tâm đến người bệnh, họ sẽ bị ám ảnh bởi bệnh tim và luông nghĩ mình đẵ mắc bệnh.
- Nếu không thấy dầu hiệu của bệnh tim thật sự, nhưng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh thiếu máu cơ tim: béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, tiền căn gia đình, hút thuốc lá, phụ nữ trên 40 tuổi… nên có kế hoạch điều trị để giảm các yếu tố nguy cơ đó và hẹn tái khám định kỳ nhằm tầm soát sớm bệnh tim mạch.
- Nếu thật sự mắc bệnh tim, cần phải điều trị ngay. Bệnh nhân cần phải yêu cầu thầy thuốc chuyên khoa tim mạch nói rõ hường điều trị cho mình: 
Điều trị nội khoa, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng lưu ý rằng: các điều trị cho bệnh tim mạch là rất tốn kém, là một gánh nặng về kinh tế cho xã hội, gia đình và bản thân người bệnh.
Theo PGS.TS Nguyễn Hoài Nam - Tuổi trẻ

Những cách đơn giản có thể phòng tránh đau tim

Đi bộ hàng ngày, luôn cởi mở yêu thương mọi người, ăn nhiều cá, không nhịn đi vệ sinh... để bảo vệ tim và giữ sức khỏe cho chính mình.

Đau tim là bệnh có thể xảy ra với bất cứ ai không kể tuổi tác.Vì vậy, duy trì sức khỏe là lựa chọn tốt nhất để tránh đau tim. Dưới đây là những cách giúp bạn phòng tránh được các cơn đau tim.
Tập luyện hàng ngày
Bạn nên hoạt động thể chất ít nhất 15 phút mỗi ngày. Đi bộ là hình thức tập luyện tốt nhất để duy trì sức khỏe cho tim bạn.
Tránh thực phẩm nhiều dầu
Đồ ăn nhanh thường chứa nhiều dầu mỡ không tốt cho tim. Vì vậy, tốt nhất là bạn nên nói "không" với các thực phẩm nhiều dầu để có trái tim khỏe mạnh.
happy-life-5822-1429243342.jpg
Luôn lạc quan, chăm hoạt động thể chất có thể giúp bạn tránh bệnh tim. Ảnh minh họa: Thrivehappinessmovement.org.
Tránh béo phì
Nếu bạn bị béo phì, bạn có thể gặp rắc rối. Béo phì có thể ảnh hưởng tới tim vì khiến tim bạn phải bơm nhiều máu hơn, vì vậy khiến cho cơ quan này phải hoạt động quá mức.
Tuân thủ chế độ ăn lành mạnh
Chế độ ăn lành mạnh nên được duy trì. Hơn thế nữa, một chế độ ăn cân bằng là quan trọng và nó là một trong những bí quyết giúp phòng tránh bệnh tim.
Không nhịn đi vệ sinh
Nếu bạn có nhu cầu đi vệ sinh, bạn cần đi ngay, không được kìm nén. Nếu bạn nhị đi sẽ gây ảnh hưởng tới tim và gây nhiễm trùng đường tiểu.
Tránh trầm cảm
Nếu bạn bị mất một người bạn yêu thương trong cuộc sống, hãy chia sẻ nỗi đau đó và mở rộng trái tim đón tình yêu một lần nữa.
Kiểm tra huyết áp
Huyết áp cần được kiểm tra thường xuyên nếu bạn muốn có trái tim khỏe mạnh. Huyết áp cao có thể rút ngắn cuộc sống của bạn.
Yêu thương
Hãy luôn yêu thương và tránh mọi xung đột để bảo vệ tim bạn.
Uống trà
So với cà phê, trà tốt hơn vì nó giúp bơm nhiều máu tới tim hơn và cũng giúp tim khỏe mạnh. Vì vậy hãy uống trà để tránh đau tim.
Ăn nhiều cá
Cá không chỉ tốt cho mắt bạn, nó còn tốt cho tim và có thể tránh được đau tim nếu bạn ăn ít nhất một lần trong tuần.
Nếu bạn bị tiểu đường
Người bị tiểu đường cần biết những gì là tốt cho họ và những gì không. Bệnh tiểu đường có nhiều ảnh hưởng tới tim và khi không được điều trị hợp lý, bạn dễ bị đau tim.
Ngủ đủ
Để tránh đau tim, bạn nên ngủ 8 tiếng mỗi ngày.
Tránh hút thuốc
Nguyên nhân là vì thuốc lá gây nhiều ảnh hưởng lên tim và phổi của bạn.
Theo Hải Ngân - VnExpress

Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim

Khó thở, nặng trong ngực, ho, mệt mỏi nhiều.... đều là những dấu hiệu cho thấy bạn đang mắc bệnh tim, cần phải đi khám ngay.

Nhiều bệnh nhân tim mạch cho biết họ thường thấy xuất hiện một vài các triệu chứng dưới đây, nhưng chỉ thoáng qua rồi nhanh chóng bỏ qua các triệu chứng ban đầu đó. Khi bệnh đã trở nặng, họ mới tìm đến gặp bác sĩ. 
Điều này làm quá trình điều trị trở nên khó khăn và không đạt hiệu quả mong muốn, thậm chí nhiều bệnh nhân phải bỏ ra những khoản tài chính vô cùng lớn để chữa bệnh. Nếu phát hiện và can thiệp sớm, người bệnh không chỉ giảm chi phí y tế mà hiệu quả điều trị cao, nhất là trong các can thiệp tim mạch.
Người bệnh tim hoặc có nguy cơ mắc bệnh tim như người cao tuổi, thừa cân, béo phì hoặc bị bệnh tăng huyết áp nên được thăm khám định kỳ tim mạch. Nếu cùng lúc xuất hiện ít nhất 2 triệu chứng trong các triệu chứng dưới đây người bệnh cần đi khám bác sĩ.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Khó thở, đặc biệt là khi nằm xuống
Nếu bạn cảm thấy khó thở như có vật gì đó đè nén ngực hoặc gặp khó khăn khi hít thở sâu, bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa tim mạch để nhận được tư vấn và tìm nguyên nhân. Người mắc bệnh tim thường xuất hiện triệu chứng khó thở kể cả khi phải gắng sức hoặc không. 
Để phân biệt bệnh tim với bệnh COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), tình trạng khó thở này xảy ra ngay khi bạn nằm xuống hoặc đi ngủ. Khó thở cũng có khi xảy ra vào ban đêm,lúc bạn đang ngủ, đó là do việc đột ngột tim giảm khả năng co bóp, làm gián đoạn quá trình bơm máu từ tim đến phổi gây khó thở.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Cảm giác nặng trong ngực hoặc tức ngực
Thông thường, những người được chẩn đoán mắc bệnh tim hay phàn nàn về triệu chứng họ thường gặp là cảm giác bị đè nặng lên ngực hoặc tức ngực. Những cơn đau ngực là dấu hiệu của bệnh tim. Người bệnh có cảm giác đau thắt ngực ở khu vực dưới xương ức, phía trước, cơn đau thường kéo dài 10 phút và hay lặp lại. 
Khi bị đau ngực kéo dài, người bệnh cần nghỉ ngơi tuyệt đối và khẩn trương đi khám vì đây có thể là dấu hiệu của một cơn nhồi máu cơ tim. Đau thắt ngực hoặc đau ngực nói chung thường là do các tế bào cơ tim không nhận đủ ôxy do lưu lượng máu tới tim giảm.Trong suy tim, do khả năng bơm máu của quả tim bị suy giảm, việc lưu thông máu tới các cơ quan trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng. 
Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở, thậm chí người bệnh khó thở khi làm những công việc cá nhân hoặc cả khi ngồi nghỉ. Các cơn khó thở đến mức có cảm giác quần áo, giầy thít chặt vào cơ thể.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Hiện tượng phù
Hiện tượng suy tim xuất hiện cùng lúc với hiện tượng phù, cơ thể có dấu hiệu tích nước. Nếu thấy khi ngủ dậy mặt bị căng phù, mí mắt nặng, hoặc điển hình phù bàn chân vào thời điểm nhất định trong ngày cảm thấy đi dép chật...., tất cả đều cho thấy bạn đang có những triệu chứng của suy tim. 
Khi lượng máu ra khỏi tim chậm, máu trở về tim qua tĩnh mạch bị ứ lại, khiến dịch tích tụ tại các mô. Thận không thể đào thải muối và nước cũng gây giữ nước trong các mô làm bệnh nhân bị phù.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Cảm thấy mệt mỏi hoặc kiệt sức
Nếu thấy mệt mỏi hoặc kiệt sức nhiều lần trong ngày, thậm chí mệt mỏi cả sau khi ngủ dậy. Nếu hiện tượng này xảy ra một cách thường xuyên, nó báo hiệu bạn đang gặp vấn đề về tim mạch. Mệt mỏi không rõ nguyên nhân thường xuất hiện do các bộ phận trong cơ thể của bạn không nhận được đủ oxy cần thiết do tim bị suy giảm chức năng co bóp.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Ho dai dẳng hoặc khò khè
Người bị suy tim sung huyết là khi chức năng bơm máu của tim không đủ cung cấp cho cơ thể, máu bị ứ lại, gọi là ứ dịch. Nó ứ dịch ở nhiều cơ quan như phổi sẽ gây ho mạn tính, thở khò khè, nếu ứ dịch ở gan, ruột gây chán ăn, buồn nôn... 
Đối với trường hợp ho dai dẳng nhiều khi người bệnh dễ nhầm với bệnh phổi như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính... Tình trạng ho có thể xấu đi khi nằm hoặc mới dậy khỏi giường. Ho do bệnh tim thường ho khan hoặc có thể có đờm trắng hoặc chất nhầy đặc.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Chán ăn
Một trong những dấu hiệu chính của suy tim sung huyết là người bệnh lúc nào cũng có cảm giác no. Đó là do sự tích tụ của dịch trong gan hoặc hệ thống tiêu hóa của người bệnh. Kết quả là, người bệnh không còn cảm giác muốn ăn và ăn ít hơn. Nếu có thêm triệu chứng mệt mỏi đến mức không muốn ăn, người bệnh cần được đi khám chuyên khoa tim mạch.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Đi tiểu ban đêm
Đi tiểu thường xuyên vào ban đêm là một dấu hiệu quan trọng của suy tim. Điều này xảy ra do sự chuyển dịch lượng nước tích tụ trong cơ thể gây phù ở nhiều bộ phận đến thận thông qua các mạch máu. Để tránh hiện tượng này, người bệnh cần kiểm soát lượng nước đưa vào cơ thể vào buổi tối hoặc sử dụng thuốc lợi tiểu vào buổi sáng.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Nhịp tim có vấn đề
Trong suy tim, trái tim người bệnh thường đập với tốc độ nhanh hơn, hay cảm giác như đang chạy hoặc đập dồn dập. Nguyên nhân khiến tim đập nhanh là để bù đắp cho khả năng suy giảm chức năng bơm máu. Các biểu hiện như hồi hộp bất thường, nghe rõ tim đập như đánh trống ngực đều cần được người bệnh lưu tâm.
Dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc bệnh tim
Lo lắng
Đây là một trong những dấu hiệu phổ biến cảnh báo bạn đang bị suy tim nhưng lại là dấu hiệu rất hay bị bỏ qua. Bệnh nhân thường có biểu hiện như thở nhanh, nhịp tim bất thường và lòng bàn tay đổ mồ hôi; nhiều người thường nhầm lẫn với các dấu hiệu như lo lắng hay căng thẳng. 
Do đó, nếu bạn hoặc người thân của bạn gần đây cảm thấy lo lắng hoặc cảm thấy bất an, cộng thêm một trong những triệu chứng đã nói ở trên cần đi kiểm tra bởi rất có thể đây là dấu hiệu của bệnh suy tim.
Theo Hà Nguyễn - Sức khỏe và Đời sống

Ăn ngoài làm tăng nguy cơ mắc chứng cao huyết áp

Theo Huffingtonpost, kể cả với người trẻ tuổi, việc ăn các thức ăn bên ngoài ở các nhà hàng, quán ăn sẽ làm tăng nguy cơ mắc chứng cao huyết áp.

an-ngoai-lam-tang-nguy-co-mac-chung-cao-huyet-apHình minh họa
Để tiến hành nghiên cứu, các nhà nghiên cứu tại ĐH Y Singapore đã mời 500 sinh viên khỏe mạnh ở độ tuổi 18-40 tham gia và thu thập các dữ liệu về các hoạt động thể chất, thói quen ăn uống, chỉ số cân nặng và huyết áp của họ.
Kết quả sau khảo sát cho thấy, 27,4% số sinh viên mắc chứng tiền cao huyết áp và 2,2% mắc chứng cao huyết áp. Và dĩ nhiên, chứng cao huyết áp này hoàn toàn có liên quan đến việc chỉ số cân nặng lớn, tuổi cao và ít vận động.
Tuy nhiên, điều gây ngạc nhiên cho các nhà nghiên cứu đó là hầu hết tất cả các sinh viên mắc bệnh này đều có thói quen ăn ngoài thường xuyên.
Theo các chuyên gia, mỗi bữa ăn bên ngoài sẽ làm tăng 6% nguy cơ bị cao huyết áp và mức độ này sẽ tăng cùng với tuổi tác. Vì vậy, các nhà nghiên cứu khuyến cáo chúng ta nên gia tăng các bữa ăn nấu tại nhà và hạn chế việc ăn bên ngoài.
Theo Thanh Minh - Sức khỏe gia đình

10 nguyên nhân làm tăng huyết áp

Lười tập thể dục, hay ăn mặn, cơ thể tích nhiều mỡ thừa, thường xuyên uống thuốc tránh thai... có thể khiến huyết áp của bạn tăng cao.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh về tim mạch ảnh hưởng đến khoảng 80% dân số sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Nguyên nhân chính của căn bệnh gây tử vong cao này là do cao huyết áp. Dưới đây là 10 nguyên nhân hàng đầu khiến bạn bị tăng huyết áp, bạn cần biết để phòng tránh:
Tuổi tác
Khi bạn càng nhiều tuổi, bạn càng có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao. Những người cao tuổi có nguy cơ cao tăng chỉ số huyết áp tâm thu. Nguy cơ này là do xơ cứng động mạch.
Di truyền
Nếu bạn có tiền sử gia đình bị cholesterol tăng thì bạn cần cảnh giác. Dạng cao huyết áp do di truyền có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe đối với người trẻ tuổi.
highbloodpressure-1532-1429576589.jpg
Ảnh minh họa: Doctormurray.com.
Giới tính
Nam giới được cho là có nguy cơ lớn hơn bị huyết áp cao so với nữ giới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa phụ nữ không cần lo lắng. Vì vậy hãy duy trì thói quen sống và ăn uống lành mạnh.
Thừa cân
Thừa cân hoặc béo phì có thể là một trong những nguyên nhân hàng đầu của huyết áp cao nhưng có sự khác nhau ở mỗi người. Những người tích trữ nhiều mỡ ở bụng, mông và đùi có nguy cơ cao hơn bị huyết áp cao. Vì vậy hãy duy trì cân nặng.
Ăn mặn
Một số người bị nhạy cảm với muối hoặc natri, điều này khiến cho họ bị tăng huyết áp. Nếu bạn nằm trong số này thì lựa chọn an toàn duy nhất là giảm lượng muối tiêu thụ. Bạn phải rất thận trọng khi sử dụng muối để chế biến thức ăn và đọc kỹ nhãn mác của bất cứ loại thực phẩm chế biến sẵn nào. Thức ăn nhanh có hàm lượng muối cao vì vậy bạn nên hạn chế những loại thức ăn này.
Uống rượu
Nếu bạn bị say chỉ với 2 cốc rượu thì đó là dấu hiệu cho thấy bạn nên ngừng uống. Uống nhiều rượu có hại cho sức khỏe cũng như huyết áp của bạn. Do đó, hãy tránh uống nhiều rượu để duy trì huyết áp ổn định.
Cuộc sống căng thẳng
Cuộc sống của bạn bị căng thẳng thường xuyên do công việc hoặc các nguyên nhân khác, đây là lý do có thể khiến huyết áp của bạn bị tăng lên. Hãy giải tỏa mọi căng thẳng, giữ sự bình tĩnh và thư giãn chính bạn.
Tránh thai
Trong một nghiên cứu gần đây, người ta thấy rằng sử dụng thường xuyên thuốc tránh thai làm tăng nguy cơ bị huyết áp cao.
Lối sống lười vận động
Lối sống lười vận động không chỉ khiến vòng bụng của bạn to ra mà còn khiến bạn có nguy cơ cao bị tăng huyết áp. Vì vậy hãy tăng cường vận động dưới bất cứ hình thức nào mà bạn thích, có thể là tập một môn thể thao hoặc đi bộ tới chỗ làm. 
Lý do mà hoạt động thể chất có thể làm giảm nguy cơ tăng huyết áp của bạn là vì vận động sẽ giúp bạn lưu thông mạch máu, duy trì áp suất trong tĩnh mạch và động mạch trong giới hạn bình thường.
Một số loại thuốc
Một số loại thuốc được sử dụng để điều trị các triệu chứng cảm lạnh hoặc dị ứng có thể làm tăng huyết áp của bạn. Do đó, hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất cứ loại thuốc nào và cho bác sĩ biết về tiền sử bệnh của bạn để tránh các biến chứng.
Theo Hải Ngân - VnExpress

Cách phòng trị cao huyết áp do nắng nóng

Nắng nóng kéo dài có thể khiến nhiều người bị say nắng, cảm nắng, sốt cao,... Không chỉ vậy, trời nắng nóng cũng rất nguy hiểm với những người bị cao huyết áp.

Nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp trong mùa nắng nóng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Vào mùa hè, sự bài tiết mồ hôi gia tăng, quá trình trao đổi chất của cơ thể cũng được đẩy mạnh. Cơ thể bị mất một lượng nước khá lớn sẽ khiến nồng độ máu giảm, độ kết dính trong máu tăng cao, dễ dẫn đến những bệnh lý có liên quan đến máu, làm tăng tỷ lệ nguy cơ cho tim và não.
Cách phòng trị cao huyết áp do nắng nóng.Cách phòng trị cao huyết áp do nắng nóng.
Cũng giống như bệnh tim, người mắc bệnh cao huyết áp trong mùa hè nếu ngủ không ngon giấc, sẽ xuất hiện hiện tượng ban đêm huyết áp tăng làm tổn hại tim mạch.
Cách phòng trị bệnh cao huyết áp trong mùa nắng nóng
Tăng huyết áp nếu không phát hiện sớm, điều trị đúng thì có thể để lại những hậu quả xấu cho người bệnh. Đặc biệt, thời tiết nắng nóng, người bệnh cần hết sức thận trọng để phòng ngừa những biến chứng do tăng huyết áp.
Khi thời tiết nắng nóng, người đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp không nên hoạt động nhiều ngoài trời để đề phòng giãn mạch quá mức dẫn đến tụt huyết áp.
Tuyệt đối không tự động bỏ thuốc hoặc thay đổi thuốc hay nghe theo sự mách bảo của người khác hoặc dùng đơn thuốc của bệnh nhân khác để điều trị cho mình bởi vì thuốc điều trị hạ huyết áp có nhiều nhóm khác nhau, mỗi một nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau và có thể nhóm thuốc này phù hợp với người này nhưng không phù hợp với người kia.
Người có bệnh cao huyết áp nên uống nhiều nước và uống đều đặn, không nên đợi đến lúc khát mới uống, để giảm được độ kết dính trong máu, thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể đồng thời tạo thói quen uống 1 ly nước sau khi thức dậy vào buổi sáng và 1 ly trước lúc đi ngủ ban đêm.
Nên lưu ý là điều trị tăng huyết áp cần phối hợp giữa thuốc, chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng một cách hợp lý mới đưa lại hiệu quả cao.
Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Những thói quen tốt để có trái tim khỏe

Vẫn chưa quá muộn, ngay bây giờ hãy thay đổi và tạo một thói quen sống lành mạnh để bệnh tim tránh xa bạn. Theo các nghiên cứu gần đây, dù là nam hay nữ, dù có nguy cơ cao như bị cholesterol cao, nếu thay đổi lối sống có thể làm giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn khả năng bị bệnh tim hoặc những cơn đau tim hỏi thăm. Các thói quen có ích đã được tổng kết qua các nghiên cứu trên hàng chục nghìn người và trong thời gian hàng chục năm.
Những thói quen tốt để có trái tim khỏe
Phụ nữ nên làm gì để tránh mắc bệnh tim?
Một nghiên cứu kéo dài 20 năm trên 70.000 phụ nữ ở Mỹ về những thói quen hàng ngày và liên hệ với bệnh tật mắc phải của họ cho thấy, thói quen, lối sống tác động rất nhiều tới tình trạng bệnh tật sau này của họ. Những người tham gia nghiên cứu khi độ tuổi trung bình của họ là 37, với nhóm người không mắc bệnh mạn tính như tiểu đường, tim mạch, huyết áp. Cứ 2 năm các nhà nghiên cứu lại cập nhật số liệu về tình trạng sức khỏe của họ một lần. Đối với những người có những thói quen dưới đây 92% trong số đó không bị đau tim, 66% không mắc bệnh cao huyết áp. Đó là những thói quenchung nào, hãy xem là làm theo để loại trừ bệnh tim mạch ra khỏi cuộc sống của bạn.
Những thói quen tốt để có trái tim khỏe
- Không hút thuốc.
- Có chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường.
- Tập thể dục cường độ trung bình đến mạnh ít nhất 2,5 giờ một tuần.
- Xem ti vi tối đa 7 giờ mỗi tuần.
- Uống một hoặc ít hơn đồ uống có cồn hàng ngày.
- Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh của các loại trái cây và rau quả , ngũ cốc nguyên hạt , cá , hoặc thực phẩm giàu axit béo omega-3, hạn chế đồ uống có đường, thịt chế biến, các loại thịt đỏ, chất béo trans , và natri.
Trưởng nhóm nghiên cứu, cô Andrea Chomistek từ Trường y tế công cộng, trường Đại học Indiana Bloomington cho biết, ngay cả những phụ nữ có từ 2 thói quen lành mạnh kể trên đã có nguy cơ mắc bệnh tim thấp hơn những người không có thói quen nào. Tuy nhiên trong 6 thói quen kể trên, việc duy trì chỉ số khối (IBM) của cơ thể được cho là có tác động nhất đối với việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Cách tính BMI = (trọng lượng cơ thể)/ (chiều cao x chiều cao). (trọng lượng cơ thể: tính bằng kg; chiều cao x chiều cao: tính bằng mét). Nếu IBM từ 18,5- 25 là bình thường, cao hơn 25 là bắt đầu thừa cân, béo phì. Kể cả những nhóm đối tượng có nguy cơ cao như cao huyết áp, mỡ máu, cholesterol cao, nếu có ít nhất 4 thói quen trên họ cũng giảm nguy cơ mắc bệnh tim cho mình.
Những thói quen tốt để có trái tim khỏe
So với trước đây, bệnh tim thường chỉ tấn công những người cao tuổi, thì nay nó đang được trẻ hóa, số phụ nữ mắc bệnh tim từ 35-44 tuổi đang tăng cao. Do đó thay đổi thói quen là cách hiệu quả giảm nguy cơ mắc căn bệnh nguy hiểm này.
Nam giới cũng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim
Trong một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Thụy Điển về mối liên hệ giữa bệnh tim và nam giới, họ cũng đưa ra một số khuyến cáo để đàn ông có thể bảo vệ trái tim của mình. Với 20.000 người tham gia nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2009, công trình nghiên cứu này tập trung ở những người đàn ông từ 45-79 tuổi, lúc khởi điểm những người này không có bệnh tim, bệnh mạch máu, tiểu đường, cao huyết áp hoặc tăng cholesterol. Họ đã nghiên cứu thói quen, lối sống, cách sinh hoạt của các nhóm đối tượng và kết luận, những người thường xuyên áp dụng các thói quen sau giảm nguy cơ đau tim tới 86%. Đó là:
- Không hút thuốc.
- Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh.
- Uống rượu vừa phải: 1ly hoặc ít hơn mỗi ngày.
- Vận động cơ thể - đi bộ hoặc đạp xe ít nhất 40 phút mỗi ngày.
- Có chu vi vòng eo nhỏ hơn 37 inch (94cm).
Những thói quen tốt để có trái tim khỏe
Tại sao loại bỏ thuốc lá là một trong những điều kiện giảm nguy cơ mắc bệnh tim ở cả 2 giới. Theo các nhà nghiên cứu, hút thuốc lá không những làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch mà còn là tác nhân dẫn đến rất nhiều bệnh như ung thư. Hút thuốc lá nhiều sẽ khiến cho động mạch tim bị hẹp lại và thậm chí là bị tổn thương. Ngoài ra thuốc lá còn có cả tác động làm tăng huyết áp của người hút. Chất nicotine và nhiều hóa chất độc hại khác trong thuốc lá chính là nguyên nhân của các triệu chứng trên. Vì vậy dù bạn có đang bị bệnh tim mạch hay là vẫn khỏe mạnh thì cũng nên tránh xa thuốc lá và các loại chất kích thích tương tự.
Những thói quen tốt để có trái tim khỏe
Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Karolinska, Thụy Điển, cho biết chỉ có 1% những người đàn ông tham gia nghiên cứu thực hiện tất cả các thói quen lành mạnh kể trên. Họ cũng cho rằng, thói quen ăn uống lành mạnh và uống ít rượu có tác động nhất trong việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim ở nam giới. Việc áp dụng một lối sống lành mạnh có thể giảm nguy cơ chết trẻ, và càng thay đổi sớm thì tim càng được bảo vệ tốt hơn.
Chuyên gia tim mạch nói gì?
Chuyên gia tim mạch tại Trung tâm y tế UCLA, Los Angeles và Santa Monica cho biết, các nghiên cứu kể trên rất có ích đặc biệt với những người trẻ, đối tượng đang chịu ảnh hưởng bởi lối sống hiện đại ngày nay với khẩu phần ăn quá nhiều năng lượng , nhưng lại ít vận động, nó khiến cho mối nguy cơ đối với sức khỏe tăng lên đặc biệt là các bệnh tim mạch.
Những thói quen xấu hàng ngày không phản ánh lên tình hình sức khỏe hiện tại của mỗi người nhưng nó thực sự trở thành “vấn đề “ của tương lai, nó ảnh hưởng tiêu cực lên sức khỏe tim mạch của bạn. Những thói quen tốt sẽ có tác động tích cực ngay cả khi bạn đã lớn tuổi, không phân biệt nam giới hay phụ nữ.
Những thói quen kể trên có thể áp dụng ngay với tất cả mọi người, nó không chỉ đem lại lợi ích cho tim mạch mà còn giúp phòng chống nhiều căn bệnh khác như ung thư, tiểu đường ....
Nguyễn Bạch Dương

Theo WebMD