Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Bệnh nhân tim mạch có quan hệ tình dục được không?

Câu trả lời là bạn vẫn có thể tiếp tục sinh hoạt tình dục, nhưng cần có sự hiểu biết và tôn trọng những lời khuyên của thầy thuốc.

Có nhiều người coi hoạt động tình dục chỉ là những hành vi giao hợp đơn thuần. Nhưng tình dục còn có ý nghĩa nhiều hơn thế. Bạn có thể thể hiện ham muốn tình dục của mình theo nhiều cách. 
Bạn có thể ôm ấp hay vuốt ve bạn tình mà không nhằm mục đích đạt cực khoái. Các bạn vẫn có cảm giác được yêu thương và che chở mà không phải gắng sức thể lực quá nhiều. 
Chẳng cần quá nhiều năng lượng cho những cử chỉ ôm ấp vuốt ve, và việc ấy hoàn toàn có thể diễn ra ngay khi bạn xuất viện. Bạn có thể quay lại chuyện sinh hoạt tình dục một cách từ từ. Khi tự tin hơn, bạn sẽ thấy thư giãn hơn với bản thân và với bạn tình của mình.
Bệnh nhân tim mạch có quan hệ tình dục được không?
Hoạt động giao hợp đòi hỏi nhiều năng lượng hơn đôi chút. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn đợi đến khi sức khoẻ khá lên. Đa số bắt đầu lại chuyện giao hợp khoảng 4 đến 6 tuần sau cơn đau ngực. Những bệnh nhân không có biến chứng có thể sớm hơn, sau 7 đến 10 ngày.
Đối với phẫu thuật tim mạch, khoảng thời gian này thường là 2 đến 3 tuần. Theo ước tính, nếu bạn có thể đi bộ lên 3 tầng thang gác một cách bình thường, bạn có thể trở lại hoạt động tình dục một cách từ từ và bình thường.
Nếu bạn không chắc chắn về tình trạng sức khoẻ của mình, bác sĩ có thể cho bạn làm nghiệm pháp gắng sức để đánh giá khả năng gắng sức của bạn. Dựa trên nhịp tim và huyết áp, thày thuốc sẽ quyết định bạn đã có thể sinh hoạt tình dục hay chưa.
Nếu các triệu chứng xuất hiện khi bạn quan hệ tình dục, hãy ngừng lại và nằm nghỉ. Sau đó đến khám bác sĩ.


Những cách tự nhiên để giảm huyết áp

Mặc dù nó không gây nhiều triệu chứng như các bệnh nguy hiểm khác nhưng huyết áp cao làm tăng nguy cơ tử vong hàng đầu như đau tim, đột quỵ, cũng như chứng phình động mạch, suy giảm nhận thức và suy thận. 28% người Mỹ có huyết áp cao và không biết điều đó, theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ
Trong khi thuốc làm giảm huyết áp có thể gây ra tác dụng phụ như chuột rút ở chân, chóng mặt và mất ngủ. May mắn thay, hầu hết mọi người có thể làm hạ huyết áp một cách tự nhiên mà không cần dùng thuốc.
Dưới đây là những cách tự nhiên giúp giảm huyết áp
Đi bộ
Người đi bộ tập thể dục giúp nhanh giảm áp lực gần 8 mmHg/ 6 mmHg. Tập thể dục giúp tăng cường lượng oxy đến tim mạch, tăng hiệu quả bơm máu.
Hít thở sâu
Tập thở chậm và thực hành thiền định như khí công, yoga và giảm kích thích tố căng thẳng. Hãy thử 5 phút vào buổi sáng và ban đêm bằng cách hít sâu và mở rộng bụng của bạn sau đó thở ra và giải phóng mọi căng thẳng của bạn.
Ăn thực phẩm giàu kali
Khoai lang giúp hạ huyết áp. Ảnh Internet
Những trái cây, rau quả giàu giúp hạ huyết áp. Mục tiêu là cần nồng độ kali từ 2.000 - 4.000 mg một ngày, Linda Van Horn, Tiến sĩ về y tế dự phòng tại Northwestern Feinberg School of Medical nói.
Các thực phẩm giàu kali gồm: khoai lang, cà chua, nước cam, khoai tây, chuối, đậu, dưa đỏ và hoa quả khô như mận khô và nho khô.
Giảm lượng muối trong khẩu phần ăn
Ngoài những người có tiền sử gia đình của bệnh cao huyết áp thì những người có thói quen ăn nhiều muối (hoặc natri) cũng có nguy cơ mắc bệnh cao. Không phải là họ sử dụng nhiều muối mà còn là chế độ ăn nhiều các thực phẩm đóng gói, đồ ăn chế biến sẵn.
Nêm thức ăn bằng các loại gia vị, rau thơm, chanh, và gia vị hỗn hợp muối để giảm lượng natri nạp vào cơ thể.
Chuyển sang caffein cà phê
Các nhà khoa học từ lâu đã tranh luận về ảnh hưởng của caffeine trên huyết áp. Một số nghiên cứu cho thấy không có tác dụng, nhưng Duke University Medical Center cho thấy rằng tiêu thụ khoảng 8 lý cà phê sẽ làm tăng huyết áp và kéo dài cho đến khi ngủ.
Caffeine có thể làm tăng huyết áp bằng cách thắt chặt các mạch máu do sự ảnh hưởng của stress. "Khi bạn bị căng thẳng, trái tim của bạn bắt đầu bơm máu nhiều hơn khiến tăng huyết áp", Jim Lane, tiến sĩ, giáo sư nghiên cứu sư tại Duke nói ông nói".
Thưởng thức chocolate đen
Sôcôla đen chứa flavanol làm cho các mạch máu đàn hồi hơn.Trong một nghiên cứu, 18% bệnh nhân đã ăn nó mỗi ngày đều thấy giảm huyết áp.
Uống trà hoa dâm bụt
Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm trên những người cao huyết áp, những bệnh nhân tham gia cần nhấm nháp 3 tách trà dâm bụt hàng ngày. Các chất phytochemical trong dâm bụt có lẽ là chịu trách nhiệm cho việc giảm cao huyết áp, theo các tác giả nghiên cứu.
Tập thể dục
Làm việc hơn 41 giờ mỗi tuần tại nơi làm việc làm làm tăng nguy cơ cao huyết áp bằng 15%, theo một trường ĐH California. Làm thêm giờ làm khiến bạn không còn thời gian tập thể dục và ăn uống lành mạnh, Haiou Yang, tiến sĩ, nhà nghiên cứu chính nói.
Sẽ thật khó khăn để bạn giảm thời gian làm việc nhưng hãy cố gắng đến phòng tập thể dục hay nấu những bữa ăn lành mạnh khi bạn có thể.
Thư giãn với âm nhạc
Hạ huyết áp của bạn nhiều hơn một chút bằng cách thay đổi lối sống. Những giai điệu phù hợp có thể giúp đỡ, theo các nhà nghiên cứu tại ĐH Florence ở Ý. Họ yêu cầu 28 người lớn đã dùng thuốc cao huyết áp nghe dịu cổ điển hay âm nhạc Ấn Độ trong 30 phút mỗi ngày trong khi hít thở chậm. Sau một tuần, người nghe đã giảm huyết áp tâm thu trung bình của họ 3,2 điểm; một tháng sau đó giảm 4,4 điểm.
Tìm kiếm sự giúp đỡ đối nếu bạn ngáy ngủ
Ngáy ngủ là một trong những triệu chứng chính của ngưng thở khi ngủ (OSA). ĐH Alabama, nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nhiều người ngưng thở khi ngủ mắc bệnh cũng có nồng độ cao của aldosterone, một loại hormone có thể làm tăng huyết áp.
Nếu bạn bị huyết áp cao, hãy hỏi bác sĩ và điều trị ngưng thở khi ngủ có thể làm giảm nồng độ aldosterone và cải thiện huyết áp.
Chuyển cho đậu nành
Một nghiên cứu từ Circulation, Tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ phát hiện lần đầu tiên mà thay thế một số các carbohydrate tinh chế trong chế độ ăn uống của bạn với các thực phẩm giàu protein đậu nành hoặc sữa, như sữa ít chất béo, có thể giảm huyết áp tâm thu nếu bạn bị huyết áp cao hoặc tiền cao huyết áp.


Khi nào cần phẫu thuật van tim

Thông thường trường hợp nặng bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuậtPhẫu thuật van tim có thể được sửa chữa hoặc thay thế. Sửa chữa van bằng cách loại bỏ cặn canxi hoặc mở rộng van đóng không đúng vị trí. Sửa chữa cũng có thể được áp dụng để điều trị các khuyết tật bẩm sinh và khuyết tật của van hai lá.
Thay thế van được áp dụng để điều trị bất kì bệnh lý van tim mà không thể sửa chữa được. Thủ thuật được thực hiện bằng cách cắt bỏ van cần thay thế và gắn vào một van giả. Van có thể làm bằng vật liệu hóa học (nhựa, carbon hoặc kim loại) hoặc sinh học (được làm từ các mô của con người hoặc động vật).
Cách phòng bệnh hiệu quả
Để phòng bệnh van tim do thấp tim gây ra, cần có chế độ vệ sinh phòng bệnh tốt. Ngăn chặn các yếu tố nguy cơ (di truyền, gia đình, kiểm soát và điều trị tốt tình trạng nhiễm khuẩn như viêm họng...); Chủ động điều trị bệnh để các yếu tố nguy cơ không phát triển thêm, đó là điều trị cho bệnh không dẫn đến biến chứng hoặc có biến chứng thì cần điều trị nội khoa, can thiệp hoặc phẫu thuật.
Đặc biệt, phòng chống thấp tim là biện pháp cơ bản ngăn ngừa các biến chứng tim mạch nguy hiểm. Khi phát hiện bị thấp tim cần được quản lý theo dõi chặt chẽ ở các cơ sở y tế và tiêm phòng thấp tim đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ.
Cần loại bỏ các yếu tố nguy cơ như: điều trị tốt bệnh tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, rối loạn lipid máu; hạn chế ăn mặn, hạn chế ăn mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế uống rượu, bia; không hút thuốc lá; tăng cường vận động thể lực theo khả năng (ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần), tránh stress, không để thừa - cân béo phì... đề phòng bệnh mạch vành (nguyên nhân gây suy tim, hở van tim); Hằng ngày cần vệ sinh thân thể và môi trường để không bị bệnh nhiễm trùng... Nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng cách ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi khoa học và hợp lý.

Tim khỏe nhờ tập thể dục

Tập thể dục thường xuyên không những giúp giảm nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch mà còn làm cho con người cảm thấy khỏe khoắn và thoải mái hơn trong cuộc sống. Theo nghiên cứu, nếu tập thể dục 30 - 60 phút mỗi ngày và tập thể dục hầu hết các ngày trong tuần sẽ giảm được nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch, kiểm soát được các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và béo phì.
Ngoài ra, tập thể dục còn giúp giảm căng thẳng trong cuộc sống, khỏe hơn, ngủ ngon hơn và ăn ngon miệng hơn. Các hình thức tập thể dục như đi xe đạp, tập yoga, bơi... cũng rất tốt cho tim mạch. Tuy nhiên, trong các hình thức tập thể dục thì đi bộ được chứng minh rất tốt cho sức khỏe tim mạch, bạn có thể đi bộ mọi nơi, mọi lúc với các tốc độ khác nhau.
Người bệnh, người cao tuổi vẫn rất cần tập thể dục, hãy trao đổi với bác sĩ về hình thức, thời gian tập thể dục và cường độ tập thể dục cho phù hợp với từng thể bệnh cụ thể.
Nên ngừng tập thể dục nếu cảm thấy: đau ngực, đau lưng, đau vai, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, khó thở, mệt, nhịp tim đập nhanh hoặc đập chậm... hoặc khi thấy có dấu hiệu bị nói ngắt quãng khi đang tập thể dục.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Có thể đột tử vì cơ tim giãn

Bệnh cơ tim giãn là một bệnh lý của cơ tim không rõ nguyên nhân, gặp ở hầu hết các nước trên thế giới. Các bệnh nhân thường tử vong do cơ tim giãn ra và giảm dần chức năng tâm thu và tâm trương dẫn đến suy tim ứ huyết nặng. Giới khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu các mối liên quan đến bệnh cơ tim giãn của hệ thống tạo keo, tự miễn, thần kinh cơ, các quá trình viêm, hay chuyển hóa nhằm góp phần lý giải bệnh sinh phức tạp của căn bệnh này.
Bệnh cơ tim giãn là bệnh lý của cơ tim không rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi sự giãn ra của các buồng tim và giảm khả năng co bóp của cơ tâm thất trái/hoặc phải, tăng thể tích tâm thu, tâm trương, cơ tâm thất thường bị mỏng đi. Lứa tuổi thường gặp nhất là trung niên và thanh niên.Hầu hết các bệnh nhân có độ tuổi từ 20-50.Tuy nhiên, đây là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi.
Có thể đột tử vì cơ tim giãn
Tim bình thường (trái) và cơ tim bị giãn (phải).
Các tổn thương cơ tim này do nhiều nguyên nhân không rõ ràng như yếu tố gia đình, yếu tố miễn dịch hay do virut. Những thay đổi về cấu trúc của cơ tim đã đưa đến những rối loạn huyết động như suy giảm nặng nề chức năng tâm thu và giãn tâm thất. Giảm cung lượng tim và thể tích nhát bóp. Giảm khả năng đáp ứng với gắng sức. Hở van hai lá và ba lá do giãn các buồng tâm thất.
Có thể đột tử vì những rối loạn nhịp tim

Theo những nghiên cứu thì đây là bệnh gặp nhiều hơn ở nam giới với tỷ lệ nam/nữ là 3/1. Các bệnh nhân thường tử vong do cơ tim giãn ra và giảm dần chức năng tâm thu và tâm trương dẫn đến suy tim ứ huyết nặng. Nguy hiểm nhất là có tới 50% bệnh nhân cơ tim giãn bị đột tử do rối loạn nhịp tim. Những phụ nữ bị bệnh cơ tim sau đẻ (bệnh cơ tim chu sản) thì thường có tiên lượng tốt hơn, có thể hồi phục chức năng tim hoàn toàn sau vài năm. Tiên lượng phụ thuộc vào việc phát hiện và điều trị bệnh sớm. Hiện nay ghép tim là một giải pháp khá hiệu quả đối với những bệnh nhân bị bệnh cơ tim giãn có suy tim nặng không đáp ứng với điều trị nội khoa.

Dấu hiệu nhận biết bệnh lý van tim

Bệnh lý van tim là một trong những bệnh tim mạch thường gặp, nếu không được điều trị tốt sẽ dẫn đến nguy cơ suy tim, thậm chí tử vong. Trên thực tế, rất nhiều bệnh nhân bị bệnh lý van tim đến viện trong tình trạng đã có nhiều biến chứng nặng, lúc này quá trình điều trị phức tạp và tốn kém hơn nhiều. Trong nhiều trường hợp phải có chỉ định phẫu thuật sửa van hoặc thay van mới có thể cứu sống được.
Dấu hiệu nhận biết bệnh lý van tim
Có 4 van tim: van ba lá, van hai lá, van động mạch phổi, van động mạch chủ.
Hai vấn đề của van tim có thể làm ảnh hưởng lưu lượng tuần hoàn bao gồm: Hở van hay còn được gọi là suy van tim. Hở van xảy ra khi van đóng không đúng vị trí hay đóng không hoàn toàn gây rò rỉ máu ngược trở lại thay vì di chuyển theo một chiều cố định. Điều này làm cho tim phải hoạt động nhiều hơn để đáp ứng được tuần hoàn cho cơ thể. Theo thời gian, do làm việc quá sức nên buồng tim sẽ bị giãn rộng, gây ra bệnh lý suy tim; Hẹp van khi các van tim mở không đủ rộng và chỉ một lượng nhỏ máu có thể chảy qua van. Hẹp van xảy ra khi các lá van dày lên, xơ cứng hoặc dính lại với nhau. Tương tự như hở van, hẹp van cũng làm cho tim phải hoạt động nhiều hơn để đảm bảo quá trình lưu thông tuần hoàn.
Các bệnh lý van tim (hở, hẹp van) có thể xảy ra từ khi mới ra đời (bẩm sinh) hoặc do mắc phải (thấp tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, thoái hóa van ở người già, do tổn thương mạch vành...). Trong thực tế, tại các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam), bệnh van tim chủ yếu do thấp tim gây ra.
Tùy thuộc vào bệnh nhân và mức độ nghiêm trọng của bệnh mà các triệu chứng thay đổi, ở một số bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng tuy nhiên có nhiều trường hợp bệnh nhân có thể biểu hiện triệu chứng bệnh lý van tim trong kéo dài. Các biểu hiện bao gồm: suy tim sung huyết; bệnh cơ tim; loạn nhịp tim; rối loạn đông máu gây hình thành cục máu đông, có thể làm tắc mạch.
Chẩn đoán và điều trị thế nào?
Ngoài việc khám lâm sàng thì bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân làm các xét nghiệm như: Xquang, siêu âm tim, điện tâm đồ, chụp cộng hưởng từ (MRI)... để đánh giá mức độ chính xác và trầm trọng của bệnh.

Về điều trị, tùy từng thể bệnh và mức độ bệnh mà bác sĩ có những chỉ định cụ thể. Đối với bệnh nhân không có bất kỳ triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng rất nhẹ có thể không cần điều trị. Đối với các trường hợp bệnh nhân thể nhẹ có thể được chỉ định dùng thuốc để điều trị giảm đau và các triệu chứng đi kèm, nhưng thuốc không thể chữa trị hết bệnh van tim.


Nhận diện bệnh cơ tim giãn

Trong giai đoạn đầu của bệnh, việc giảm thể tích nhát bóp có thể được bù bằng cơ chế tăng nhịp tim để đảm bảo lưu lượng. Tuy nhiên lưu lượng tim không tăng khi gắng sức và gây ra triệu chứng khó thở. Có thể trong một thời gian dài các tâm thất bị giãn ra nhưng bệnh nhân không cảm thấy khó chịu gì. Đến giai đoạn sau cả lưu lượng tim và thể tích nhát bóp đều giảm. Thể tích tâm thu và tâm trương của tâm thất tăng lên, giảm độ bão hòa ôxy máu tĩnh mạch và kết quả là làm tăng chênh lệch về ôxy giữa máu động mạch và máu tĩnh mạch. Tăng áp lực động mạch phổi và sức cản động mạch phổi từ từ do suy tim trái, giảm cung cấp máu thận, tăng tiết catecholamin và kích thích hệ thống renin-angiotensin-aldosterone do cung lượng tim thấp, do đó làm tăng sức cản ngoại biên lại càng làm cho cung lượng tim bị giảm đi nhiều hơn.
Nhận diện bệnh cơ tim giãn
Tim bình thường (trái) và cơ tim bị giãn (phải).
Các bệnh nhân bị bệnh cơ tim giãn thường có triệu chứng như khó thở, ho khan, đau ngực, phù chân, tiểu ít... các bệnh nhân thường có triệu chứng suy tim nặng giai đoạn 3-4. Tuy nhiên khoảng 10% các trường hợp phát hiện ra bệnh là do tình cờ chụp Xquang tim phổi thấy bóng tim to hơn bình thường. Khám bệnh nhân thấy có các triệu chứng ứ trệ tuần hoàn ngoại biên như gan to, tĩnh mạch cổ nổi, phù chân hay toàn thân. Các triệu chứng suy tim trái như có ran ẩm ở phổi, huyết áp hạ...
Điều trị bệnh cơ tim giãn cũng tương tự như các bệnh nhân bị suy tim do nguyên nhân khác, mục đích là ổn định tình trạng suy tim. Việc điều trị bao gồm chế độ ăn hạn chế muối và nước, dùng thuốc trợ tim, thuốc lợi tiểu, thuốc giãn mạch, các thuốc chống đông máu để phòng ngừa biến chứng tắc mạch. Các nghiên cứu cho thấy một số dụng cụ có hiệu quả trong điều trị bệnh cơ tim giãn như máy tạo nhịp phá rung tự động có thể cấy được vào trong cơ thể, tạo nhịp ba buồng tim...

Ghép tim: Chỉ định trong các trường hợp suy tim nặng không đáp ứng với điều trị nội khoa (đã bao gồm cả chẹn beta). Tuy nhiên phẫu thuật này tốn kém và mới chỉ được thực hiện tại một số trung tâm y học lớn.