Hiển thị các bài đăng có nhãn Tăng huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tăng huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Huyết áp ở nam và nữ khác nhau thế nào

Theo Boldsky, cao huyết áp còn gọi tăng huyết áp, là căn bệnh phổ biến ở cả hai giới ở độ tuổi ngoài 50. Ở mỗi giới, căn bệnh này lại phát triển và hoạt động khác nhau. Dưới đây là những khác nhau cơ bản về huyết áp ở nam và nữ.
Cao huyết áp ở nam và nữ
Trước tuổi 50, nam giới dễ mắc huyết áp cao hơn cao so với phụ nữ. Tuy nhiên sau tuổi 55 tỷ lệ phụ nữ bị bệnh này cao hơn nam giới. Ở độ tuổi này, sự chênh lệch ở buồng trứng, nội tiết của tinh hoàn, nhiễm sắc thể giới tính là nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp.
Đàn ông trẻ bị cao huyết áp
Bệnh béo phì hoặc làm việc căng thẳng, lối sống không lành mạnh, tiêu thụ rượu quá nhiều là lý do tăng huyết áp ở nam giới dưới tuổi 45. Điều này liên quan đến các bệnh về tim mạch và tiểu đường.
Phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh
Tăng huyết áp không làm phiền phụ nữ cho đến khi họ bước vào thời kỳ mãn kinh và sau khi mãn kinh. Bác sĩ cho biết thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ này chính là nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp.
Oestrogen
Phụ nữ trong độ tuổi 20 đến 40 tuổi thường không bị các bệnh về cao huyết áp và tim mạch do có sự bảo vệ của estrogen (hormone giới tính nữ).
Đàn ông 30 tuổi cũng bị huyết áp cao
Những người trẻ tuổi cho rằng huyết áp chỉ ảnh hưởng ở những năm tháng "hoàng hôn". Tuy nhiên đàn ông trẻ ở độ tuổi 30 và 40 cũng mắc bệnh mà không nhận ra.Đến tuổi 54, người đàn ông có nguy cơ tăng huyết áp hơn so với phụ nữ.
Thuốc tránh thai
Cũng giống như nam giới, phụ nữ bị tăng huyết áp do không hoạt động thể chất hoặc uống rượu quá nhiều. Đôi khi chế độ ăn nhiều muối, sử dụng thuốc tránh thai cũng khiến phụ nữ mắc bệnh. Phụ nữ thường xuyên uống thuốc tránh thai nên tích cực đi kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Tình trạng hôn nhân
Thông thường huyết áp bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sinh học và kinh tế - xã hội. Một số nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết ảnh hưởng về cao huyết áp là do tình trạng hôn nhân. Người đã kết hôn có nguy cơ cao huyết áp hơn người độc thân.
Mức độ stress
Một nghiên cứu mới chứng minh rằng đàn ông có vợ thì khả năng cao bị cao huyết áp tâm thu, với nữ giới thì không. Trái tim của người phụ nữ không bao giờ bị ảnh hưởng do mức độ căng thẳng khi đối diện với bạn đời.


Phụ nữ uống ít bia giảm nguy cơ mắc bệnh tim

Bia không chỉ là đồ uống được nam giới ưa chuộng mà còn rất tốt cho sức khỏe phụ nữ nếu biết sử dụng hợp lý. Nghiên cứu của các nhà khoa học Trường đại học Gothenburg - Mỹ đã chỉ ra rằng: Phụ nữ uống 1-2 cốc bia/ tuần có thể giảm được khoảng 30% nguy cơ mắc bệnh tim so với những người không bao giờ uống bia.
Giáo sư Dominique Hange - Viện  Nghiên cứu Sahlgrenska cho biết: Việc uống nhiều đồ uống có chứa cồn là không tốt cho sức khỏe, thậm chí làm tăng thêm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm như bệnh gan, ung thư... tuy nhiên, đồ uống nhẹ như bia lại có tác dụng khá tích cực, thậm chí phụ nữ uống bia đều đặn còn giảm được tới 50% nguy cơ mắc ung thư. Kết quả này được đưa ra sau cuộc điều tra xã hội học với hơn 1.500 phụ nữ Mỹ có độ tuổi trung bình từ 16-47 tuổi từ năm 2000. Họ được yêu cầu tham gia một bài test để kiểm tra về thói quen ăn uống trong thời gian 10 năm trước, trong đó có thói quen uống bia, rượu. Kết quả là tính đến thời điểm năm 2015, có 185 phụ nữ trong số trên bị mắc bệnh tim, 162 người bị đột quỵ, 160 trường hợp mắc bệnh đái tháo đường và 345 trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư. So sánh với thói quen ăn uống của họ trong suốt 10 năm, thì hơn 50% trường hợp mắc ung thư tập trung vào những người có thói quen uống rượu bia nhiều, hoặc nghiện đồ uống có cồn, các trường hợp ít mắc bệnh tim và các bệnh khác nhất tập trung vào số người có thói quen uống bia ít - khoảng 1- 2 lần/tuần, số người khỏe mạnh và ít mắc bệnh này cao hơn khoảng 30% so với những người không bao giờ uống bia.


Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Làm sao có thêm trái tim phòng hờ?

Uổng ghê vì ai cũng có hai trái tim nhưng ít người biết dùng! Tại sao khi còn khỏe mạnh lại không mượn sức của trái tim thứ hai để trái tim thứ nhất nhẹ gánh ưu phiền.

Cho dù kỹ thuật mổ tim đang được phát triển không ngừng, vấn đề của người bệnh là liệu căn bệnh có thực sự khóa sổ sau ngày xuất viện, nếu như may mắn tai qua nạn khỏi hay thủ thuật thông tim chỉ là biện pháp tạm bợ đúng nghĩa cấp cứu? Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Nhiều người ắt hẳn đã tiếc rẻ nếu "trời sinh voi sinh cỏ", tại sao lại không gắn thêm trong cơ thể con người trái tim phòng hờ?
Tận dụng chức năng của cơ hoành
Ước muốn đó tưởng chừng như chuyện không tưởng lại không hẳn là "điệp vụ bất khả thi" nếu đừng quên cơ hoành, lớp cơ trơn giữ vai trò lá chắn giữa lồng ngực và xoang bụng, một thành phần tưởng chừng như không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể. Ấy vậy mà chỉ cần biết cách thay đổi điều kiện vận hành, cơ hoành có thể lột xác để trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh.
Người tập khí công, dưỡng sinh, yoga… bao giờ cũng có một điểm tương đồng trong thao tác. Người tập bao giờ cũng phải tiến hành hai công đoạn hô hấp hầu như trái ngược về kỹ thuật. Nếu hít vào bằng mũi thì thở ra bằng miệng. Nếu hít vào thật nhanh thì thở ra thật chậm hay ngược lại. Người tập kỹ thuật hô hấp sở dĩ chọn động tác vào ra tương phản như thế là vì muốn tận dụng chức năng của cơ hoành!
Một số động tác ít nhiều phức tạp, từ cách ngồi hoa sen, nằm kê mông cho đến trồng chuối… đều tăng cường hiệu năng cho cơ hoành.

Mát xa được nội tạng mới hay
Tập động tác hô hấp cơ hoành di chuyển lên, xuống nhịp nhàng trong từng nhịp thở. Với cách thở thông thường, cơ hoành hầu như không ảnh hưởng được bao nhiêu trong vùng xoang ngực và xoang bụng. Nhưng nếu biết cách hít thật sâu để tăng áp lực trong lồng ngực khiến cơ hoành bị đẩy xuống với sức ép cao hơn bình thường thì cơ hoành khi đó như bàn tay đưa thêm máu đến toàn bộ cơ quan khu trú trong xoang bụng.
Ngay lúc đó, nếu động tác giữ hơi được thực hiện đúng kỹ thuật thì cơ hoành chẳng khác nào chiếc van đóng kín để lượng máu luân lưu đến gan, thận, tụy tạng, dạ dày, ruột… đừng vội vã tháo chạy mà ngược lại, có đủ thời giờ bàn giao dưỡng chất và tiếp nhận phế chất.
Liền sau đó, động tác thở ra lại kéo cơ hoành trở về vị trí bình thường và qua đó giải tỏa áp lực trong xoang bụng để máu được hút từ nội tạng đổ về tim một cách hồ hởi. Chuyên gia ngành yoga ở Ấn Độ đã không quá lời khi so sánh cơ hoành như bàn tay điêu luyện vừa xoa vừa bóp nội tạng bằng động tác khi bóp khi buông, lúc bơm lúc hút. Không lạ gì khi rối loạn chức năng tiêu hóa, tiết niệu… là điều xa lạ với người khổ công tập thở!
Cơ hoành: Trợ thủ khéo tay
Chưa hết hay. Cơ hoành một khi được kéo lên, trong thời thở ra sẽ tạo áp lực trong lồng ngực để đẩy máu từ tim lên phổi, đồng thời tưới máu trên thành tim. Ngược lại, cơ hoành khi hạ thấp trong thời hít vào giúp động tác co thắt của trái tim thêm phần nhẹ nhàng.
Nói cách khác, cơ hoành hoạt động càng mạnh thì trái tim càng khỏe, nhờ thế liên hoàn trong vận động cứ như đang khiêng nặng bỗng có người phụ một tay. Chính vì thế mà nhiều chuyên gia ngành khí công đã không quá lời khi đặt tên cho cơ hoành là "trái tim thứ hai"!
Một công nhiều việc
Trên thực tế, cơ hoành không chỉ hữu ích cho trái tim. Như đã phân tích, vận động của cơ hoành có tính chiến lược theo kiểu "một công hai việc", vừa trợ lực cho trái tim và hai lá phổi, vừa tiếp dưỡng khí cho đủ loại cơ quan trong xoang bụng. Người quán triệt kỹ thuật hô hấp qua đó có thể tự cải thiện chức năng hô hấp do tác dụng gián tiếp trên hệ tuần hoàn.
Với cơ chế bơm hút vừa trình bày, biết cách hít thở đồng nghĩa với tối ưu hóa chức năng của não bộ, của hệ tiêu hóa, nội tiết, sinh dục… nhờ tế bào không thiếu dưỡng khí. Thầy thuốc chuộng môn dưỡng sinh quả thật đã không xa rời thực tế khi áp dụng kỹ thuật hô hấp để điều trị từ mất ngủ, bước qua rối loạn nhịp tim, cho đến… táo bón!
Trăm hay không bằng tay quen
Để tăng cường hiệu năng của cơ hoành, người tập yoga, dưỡng sinh còn khéo hơn nữa khi kết hợp trong bài tập một số động tác ít nhiều phức tạp, từ cách ngồi hoa sen, nằm kê mông cho đến trồng chuối… Tất cả động tác ít nhiều phức tạp trong bài tập dưỡng sinh trên thực tế chỉ xoay quanh mục đích tạo điều kiện khó khăn để buộc cơ hoành hoạt động mạnh hơn, lâu hơn, dẻo dai hơn, nhịp nhàng hơn khi người tập hít thở.
Cơ hoành càng sung sức, tim càng đỡ mệt. Chuyên gia ngành khí công ở Trung Quốc ắt hẳn có lý do chính đáng khi quả quyết ai nắm vững kỹ thuật luyện tập cơ hoành, người đó quán triệt bí quyết sống lâu gần… trăm tuổi!
Bệnh tim vẫn trước sau đứng đầu về tỉ lệ tử vong mặc dù thầy thuốc đang có trong tay thuốc tốt, máy xịn! Chờ chi đến lúc trái tim thủ vai chính đã mệt gần đứt hơi mới co giò tìm thầy chạy thuốc? Rượt đuổi có khéo cách mấy cũng đã chậm ít bước.
Với bệnh tim mạch cho dù có tìm được giải pháp tạm bợ cũng mệt cầm canh! Cách tốt nhất để trị bệnh tim là sống sao để tim đừng bệnh, càng lâu càng tốt. Có khó lắm không nếu bỏ ra mỗi ngày ít phút cho vài động tác tập luyện cơ hoành? Ấy vậy mà số người xếp hàng chờ lịch mổ tim vẫn càng lúc càng đông?!


Phòng tụt huyết áp thể đứng ở người cao tuổi

Tụt huyết áp thể đứng (tụt huyết áp tư thế) ở người cao tuổi (NCT) là một bệnh hay gặp khi đứng lên từ tư thế ngồi hoặc nằm và rất nguy hiểm vì dễ làm bệnh nhân ngã bất thình lình, gây nên những hậu quả xấu (ngất xỉu,gãy xương, đột quỵ, nhũn não). Tuy vậy, tụt huyết áp thể đứng có thể phòng ngừa được.
Phòng tụt huyết áp thể đứng ở người cao tuổi
Nguyên nhân gây tụt huyết áp thể đứng
Huyết áp tức là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch (được gọi là huyết áp động mạch). Khi tim co bóp, máu sẽ được đẩy đi và ép vào thành của động mạch làm cho thành động mạch căng ra và được gọi huyết áp tâm thu (huyết áp cao nhất). 
Sau khi co bóp, tim sẽ giãn ra và khi đó thành động mạch sẽ co lại về trạng thái ban đầu, số đo ở thời điểm này là huyết áp tâm trương (huyết áp thấp nhất). Ở người bình thường chỉ số huyết áp mục tiêu là 120/80mmHg. 
Khi huyết áp ≥ 140/90mmHg được gọi là tăng huyết áp, khi huyết áp dưới 100/80mmHg, được gọi là huyết áp thấp và khi huyết áp dưới 90/60mmHg được gọi là tụt huyết áp. Như vậy, huyết áp thấp khác với tụt huyết áp.
Có hai loại huyết áp thấp, sinh lý và bệnh lý (tụt huyết áp). Huyết áp thấp sinh lý thường gặp ở những người khỏe mạnh với đặc điểm huyết áp thấp duy trì trong suốt cuộc đời, có thể do thể trạng, do ở vùng núi cao (để thích nghi với sự thiếu oxy do loãng không khí trường diễn) hoặc do di truyền. 
Vì vậy, huyết áp thấp sinh lý thường khó phát hiện được những biến đổi khác thường khi chẩn đoán lâm sàng cũng như xét nghiệm hoặc cận lâm sàng. Huyết áp thấp bệnh lý có 2 loại, tụt huyết áp thể đứng cấp tính và mãn tính.
Tụt huyết áp thể đứng cấp tính thường biểu hiện hoa mắt chóng mặt, vã mồ hôi, rất mệt, đánh trống ngực, đôi khi bị ngất xỉu và đôi khi chỉ thoáng qua. 
Tụt huyết áp thể đứng cấp tính có thể do xuất huyết (dưới da, niêm mạc, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục), do dùng thuốc hạ huyết áp quá liều, do hạ đường huyết (đường huyết dưới 2,5mmol/l), do chấn thương chảy máu nhiều, do mất nước (tiêu chảy, sốt).
Riêng với tụt huyết áp thể đứng mãn tính có thể là nguyên phát do giảm trương lực thần kinh - mạch máu, do thiếu máu, mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng huyết) hoặc nhiễm trùng mãn tính (viêm họng mãn, viêm loét dạ dày - tá tràng, viêm đường mật, sâu răng, viêm lợi...) hoặc do sau ngộ độc thức ăn, ngộ độc độc tố của vi khuẩn và các chất độc trong phân (NCT bị táo bón kéo dài). 
Ngoài ra, tụt huyết áp thể đứng ở NCT còn có thể do rối loạn chức năng tuyến thượng thận (bệnh Addison), bệnh tuyến yên hoặc bệnh tuyến giáp làm cho NCT thiếu hụt hóc - môn hoặc do giảm đường huyết (glucoza huyết). 
Giảm đường huyết ở NCT có thể do ăn thiếu bữa, thiếu số lượng tinh bột (cơm, bánh mì), do suy dinh dưỡng, lười uống nước, ít ăn rau, quả hoặc dùng thuốc hạ đường huyết trong bệnh đái tháo đường. 
Bởi vì, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, ăn uống kém hoặc do ốm yếu nằm lâu ngày, ít vận động sẽ ảnh hưởng đến trương lực cơ tim, trương lực thành mạch, từ đó sẽ làm giảm lưu lượng máu đến nuôi dưỡng các cơ quan, đặc biệt là tim và não bộ gây nên hiện tượng tụt huyết áp khi đứng dậy từ ngồi hoặc nằm.
Tụt huyết áp thể đứng ở NCT cũng có thể do tác động của chấn thương tâm lý liên tục (stress), hoặc có thể do thiếu hụt hemoglobin (nếu thấp dưới 9g/dl sẽ làm cho lượng oxy vận chuyển tới não bộ và tim bị giảm). 
Một số NCT tụt huyết áp thể đứng do dùng một số thuốc ảnh hưởng đến huyết áp như là thuốc lợi tiểu, thuốc chữa cao huyết áp, thuốc chữa bệnh tim mạch, thuốc chữa bệnh Parkinson...
Nhận biết tụt huyết áp thể đứng
Muốn biết NCT có bị tụt huyết áp thể đứng hay không thì chỉ cần đo huyết áp. Để biết chính xác chỉ số huyết áp thì cần để bệnh nhân nằm nghỉ khoảng 20 phút rồi đo huyết áp ở tư thế nằm. Sau đó cho bệnh nhân đứng dậy. 
Sau khi đứng từ 5 - 10 phút sẽ đo huyết áp ở tư thế này. Nếu thấy huyết áp tâm thu tụt xuống ≥ 20mmHg so với huyết áp khi nằm là có thể gọi tụt huyết áp thể đứng. Nên kiểm tra huyết áp vào những thời điểm huyết áp thường thấp nhất như buổi tối trước khi đi ngủ, buổi chiều tối hoặc sau khi vừa ăn xong.
Triệu chứng của tụt huyết áp thể đứng cấp tính thường có hoa mắt, chóng mặt trong vài giây, thậm chí ngất xỉu. Triệu chứng của tụt huyết áp mãn tính thường có đau đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tim mạch (đau ngực trái, rối loạn nhịp tim, điện tim biến đổi...), mệt mỏi, rất muốn nghỉ ngơi, lười hoạt động, lười suy nghĩ, thiếu tập trung tư tưởng, chóng quên. 
Đôi khi cảm giác buồn nôn, vã mồ hôi nhưng vẫn thấy lạnh. Ngoài ra, tụt huyết áp tư thế mạn tính ở NCT có thể làm giảm khả năng tình dục vốn dĩ đã suy giảm. Một số xuất hiện tình trạng rụng tóc. 

Để chẩn đoán tụt huyết áp thể đứng cần làm xét nghiệm máu, điện tim, siêu âm tim, kiểm tra sức khỏe tim, trong đó người bệnh sẽ được thực hiện các hoạt động như đi bộ trên máy, để làm sao cho tim hoạt động mạnh hơn.


Giảm huyết áp bằng các phương pháp tự nhiên

Với những người bị bệnh cao huyết áp, nếu song song kết hợp việc uống thuốc hàng ngày với việc kiên trì thực hiện những phương pháp tự nhiên sau đây thì sẽ có hiệu quả rất tốt, bạn có thể làm hạ huyết áp của mình một cách nhanh chóng.

song song kết hợp việc uống thuốc hàng ngày với việc kiên trì thực hiện những phương pháp tự nhiên sau đây thì sẽ có hiệu quả rất tốt, bạn có thể làm hạ huyết áp của mình một cách nhanh chóng
Song song kết hợp việc uống thuốc hàng ngày với việc kiên trì thực hiện những phương pháp tự nhiên sau đây thì sẽ có hiệu quả rất tốt, bạn có thể làm hạ huyết áp của mình một cách nhanh chóng

Sau đây là 10 phương pháp tự nhiên có thể giúp làm hạ thấp huyết áp của bạn.

1. Tập thể dục

Bằng cách luyện tập 30 phút mỗi ngày, bạn có thể làm hạ huyết áp của mình một cách nhanh chóng. Nếu bạn phải làm việc một chỗ, hãy thử những bài tập aerobic để làm giảm huyết áp tâm thu – mức huyết áp cao nhất – từ 3 đến 5 đơn vị, và mức thấp nhất từ 2 đến 3 đơn vị.

Những người thường xuyên vận động thường có khả năng không cần đến thuốc hạ huyết áp cao hơn. Hãy chọn một phương pháp tập luyện mà bạn thích – đi bộ, chạy, bơi lội, đạp xe – và kiên trì với nó.

2. Ăn chuối

Chắc hẳn bạn biết rằng ăn quá nhiều muối sẽ dẫn đến việc tăng áp lực máu, nhưng nhiều người không biết đến lợi ích của kali, nguyên tố vô hiệu hoá ảnh hưởng không tốt này của natri. Và vì thế nhiều người trong chúng ta không hấp thụ đủ loại muối khoáng này.

Những người bị huyết áp cao có thể cải thiện tình trạng của mình nhờ việc tăng lượng kali trong khẩu phần ăn. Người lớn cần ít nhất 4700 miligram kali một ngày. Một số nguồn cung cấp kali là chuối (mỗi quả chứa 422 miligram kali), cà chua bỏ lò còn vỏ (738 miligram), nước cam (496 miligram mỗi cốc), và sữa chua không béo hoặc ít béo (531-579 miligram trong mỗi 227g).

3. Ăn ít muối

Những người với huyết áp bình thường, hơi cao hay cao đều có thể giảm huyết áp một cách đáng kể bằng việc giảm lượng muối hấp thụ. Những người huyết áp cao nên hạn chế lượng muối xuống ít hơn 1500 miligram (600 miligram natri) một ngày.

Hầu hết lượng muối chúng ta hấp thụ là từ thức ăn chế biến sẵn, vì vậy hãy ăn nhiều thực phẩm chưa qua chế biến. Khi bạn ăn thức ăn có ghi thành phần dinh dưỡng, hãy kiểm tra lượng natri có trong loại thực phẩm đó.

4. Không hút thuốc

Những người hút thuốc có nguy cơ mắc chứng huyết áp cao nhiều hơn người không hút. Nhưng mặc dù sợi thuốc lá và chất nicotine trong điếu thuốc có thể gây ra sự tăng cao áp lực máu đột ngột, bản thân việc hút thuốc không phải là nguyên nhân tạo ra bệnh huyết áp cao (thay vào đó, những nhân tố liên quan tới việc hút thuốc, như hay uống đồ uống có cồn và lười tập thể thao, mới là thủ phạm).

Dẫu sao, cai nghiện thuốc lá có thể giúp bạn làm giảm huyết áp của mình một chút. Và, tất nhiên, những lợi ích sức khoẻ khác là vô kể.

5. Giảm cân

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bỏ đi một ít cân nặng có thể tạo ra một ảnh hưởng đáng kể đến mức huyết áp của bạn. Cân nặng quá khổ làm cho trái tim của bạn phải làm việc nhiều hơn. Cường độ làm việc này có thể làm cho huyết áp tăng, trong khi việc giảm cân làm nhẹ đi khối lượng công việc cho trái tim bạn.

Nếu bạn thừa cân hay béo phi, việc tống khứ mỡ thừa có thể là giải pháp duy nhất bạn cần để kiểm soát mức huyết áp của mình.

6. Uống ít rượu

Mặc dù uống rượu vừa phải – không hơn một ly mỗi ngày đối với phụ nữ, và hai ly mỗi ngày với nam giới – có những lợi ích nhất định cho sức khoẻ tim mạch, uống quá nhiều có thể làm tăng huyết áp ở một số người.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống nhiều hơn hai ly rượu một ngày làm gia tăng nguy cơ mắc chứng cao huyết áp ở cả nam và nữ giới. Nếu bạn là người hay uống rượu, hãy uống trong bữa ăn, vì việc đó sẽ làm giảm tác dụng phụ của rượu với huyết áp của bạn.

7. Giảm stress

Đẩy lùi stress trong cuộc sống có thể làm giảm huyết áp của bạn một cách hiệu quả, nhưng chưa có đủ nghiên cứu để đưa ra một hướng dẫn cụ thể cho kế hoạch làm giảm stress ở tất cả mọi đối tượng.

“Có nhiều thói quen người ta phải tạo cho mình để có thể tạo ra cảm giác thư thái và phương pháp nào là tốt hơn, phương pháp nào là đúng, còn tồn tại nhiều câu hỏi chưa được trả lời,” – Tiến sĩ Burg nói. Tuy nhiên, ông khuyến khích những người mắc chứng huyết áp cao tìm hiểu cách làm giảm stress và chọn cho mình một phương pháp lâu dài để làm theo.

8. Yoga

Yoga là một phương pháp vô cùng hiệu quả giúp làm giảm stress. Một nghiên cứu gần đây cho thấy những bài tập thở của yoga làm hạ thấp huyết áp ở những người bị huyết áp cao, có thể là bằng những tác dụng của chúng đối với hệ thần kinh tự chủ – cơ quan điều khiển nhịp tim, sự tiêu hoá và những chức năng vô thức khác.

Nhưng chúng ta không nên nghĩ rằng yoga tạo ra những lợi ích giống với aerobic. “Mỗi phương pháp lại tạo ra những lợi ích khác nhau,” – Burg nói.

9. Hấp thụ ít caffeine

Cà phê có một số ích lợi với sức khoẻ, nhưng làm hạ huyết áp không phải là một trong số đó. Caffeine có thể gây ra những đợt huyết áp cao ngắn hạn, ngay cả ở những người bình thường.

Nếu bạn bi huyết áp cao, sẽ là một ý hay nếu bạn chỉ uống khoảng 2 cốc cà phê mỗi ngày. Bạn có thể kiểm tra xem mình có nhạy cảm với tác dụng làm tăng huyết áp của cà phê không bằng việc kiểm tra huyết áp trước và trong vòng nửa tiếng sau khi uống cà phê. Nếu huyết áp tăng thêm 5-10 đơn vị, bạn không nên uống cà phê.

10. Suy ngẫm

Dù đó là tụng kinh, tập thở, tưởng tượng, hay tất cả những việc trên, việc suy ngẫm cũng có thể là một công cụ giảm stress hiệu quả đối với nhiều người. Một lần nữa, điều quan trọng là bạn thích làm việc đó, và bạn có thể thực hiện phương pháp đó hằng ngày.