Hiển thị các bài đăng có nhãn nguy cơ đau tim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguy cơ đau tim. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Phụ nữ uống ít bia giảm nguy cơ mắc bệnh tim

Bia không chỉ là đồ uống được nam giới ưa chuộng mà còn rất tốt cho sức khỏe phụ nữ nếu biết sử dụng hợp lý. Nghiên cứu của các nhà khoa học Trường đại học Gothenburg - Mỹ đã chỉ ra rằng: Phụ nữ uống 1-2 cốc bia/ tuần có thể giảm được khoảng 30% nguy cơ mắc bệnh tim so với những người không bao giờ uống bia.
Giáo sư Dominique Hange - Viện  Nghiên cứu Sahlgrenska cho biết: Việc uống nhiều đồ uống có chứa cồn là không tốt cho sức khỏe, thậm chí làm tăng thêm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm như bệnh gan, ung thư... tuy nhiên, đồ uống nhẹ như bia lại có tác dụng khá tích cực, thậm chí phụ nữ uống bia đều đặn còn giảm được tới 50% nguy cơ mắc ung thư. Kết quả này được đưa ra sau cuộc điều tra xã hội học với hơn 1.500 phụ nữ Mỹ có độ tuổi trung bình từ 16-47 tuổi từ năm 2000. Họ được yêu cầu tham gia một bài test để kiểm tra về thói quen ăn uống trong thời gian 10 năm trước, trong đó có thói quen uống bia, rượu. Kết quả là tính đến thời điểm năm 2015, có 185 phụ nữ trong số trên bị mắc bệnh tim, 162 người bị đột quỵ, 160 trường hợp mắc bệnh đái tháo đường và 345 trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư. So sánh với thói quen ăn uống của họ trong suốt 10 năm, thì hơn 50% trường hợp mắc ung thư tập trung vào những người có thói quen uống rượu bia nhiều, hoặc nghiện đồ uống có cồn, các trường hợp ít mắc bệnh tim và các bệnh khác nhất tập trung vào số người có thói quen uống bia ít - khoảng 1- 2 lần/tuần, số người khỏe mạnh và ít mắc bệnh này cao hơn khoảng 30% so với những người không bao giờ uống bia.


Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Những tình huống khẩn cấp ở người cao huyết áp

Người cao huyết áp trong một số tình huống nếu không cấp cứu kịp sẽ dễ mất mạng. Đó là những trường hợp nào.


Nhung tinh huong khan cap o nguoi cao huyet apẢnh minh họa
Tăng huyết áp (THA) cấp cứu thường trên 200/100mmHg. Các tình huống thường gặp trong THA cấp cứu: Bệnh não do THA. THA và nhồi máu cơ tim. THA và đau ngực không ổn định. THA kèm tách thành động mạch chủ. Suy tim trái cấp do THA. THA kèm xuất huyết dưới nhện và xuất huyết não. Cơn THA trong u tủy thượng thận. THA do dùng các thuốc kích thích (cocain, amphetamin...). THA quanh phẫu thuật; THA trong tình trạng sản giật và tiền sản giật.
Trong các trường hợp THA cấp cứu, cần được điều trị giảm huyết áp nhanh chóng, nhưng không cần trở về bình thường ngay, nhất là ở những người cao huyết áp bị tai biến mạch não kèm theo. Trường hợp bệnh nhân bị tách thành động mạch chủ cần đưa huyết áp xuống mức thấp nhất có thể. 

Sau khi qua cơn THA cấp cứu, bệnh nhân cần tiếp tục theo dõi và điều trị tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ, đánh giá lại tình trạng toàn thân, các tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ kèm theo để được theo dõi, tư vấn và điều trị lâu dài, tránh các biến chứng.
Tổn thương các cơ quan đích có thể gặp trong tăng huyết áp bao gồm: Tim (cấp tính như phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp. Mạn tính như dày thất trái, suy vành mạn, suy tim...). Mạch não (cấp tính như tai biến mạch não, bệnh não do THA... 

Mạn tính gồm tai biến mạch não, tai biến mạch não thoáng qua). Thận: Đái máu, đái ra protein, suy thận. Đáy mắt: Phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ... Bệnh động mạch ngoại vi: Tắc động mạch chi, tắc động mạch cảnh...

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Người mắc bệnh tim nên ăn uống như thế nào?

Hiện nay, phần lớn người có nguy cơ mắc bệnh tim chỉ chú ý làm sao để hạ cholesterol máu ở mức ổn định trong chế độ dinh dưỡng, nên hàng ngày đành phải từ bỏ các món ăn khoái khẩu.

Song các chuyên gia về tim mạch lại khuyên rằng: để có một trái tim khỏe mạnh, không nhất thiết phải kiêng khem quá khắt khe, mà cần phải điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hàng ngày sao cho đầy đủ và hợp lý.

nguoi mac benh tim nen an uong nhu the nao? hinh 0
Giảm lượng muối ăn

Để phòng ngừa bệnh tăng huyết áp, trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày cần phải hạn chế lượng muối ăn.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo lượng muối ăn tối đa trong chế độ ăn mỗi ngày là 3g, nhưng thông thường chúng ta ăn gấp đôi số này. Vì trong thức ăn chế biến sẵn và các loại thực phẩm tự nhiên cũng đã có một lượng muối khoáng nhất định. Do đó, chú ý hạn chế các thức ăn chế biến sẵn có nhiều muối.

Giảm chất béo trong chế độ ăn


nguoi mac benh tim nen an uong nhu the nao? hinh 1Người bị bệnh tim mạch nên giảm chất béo, tăng cường chất xơ
Để phòng ngừa bệnh lý tim mạch, trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày cần phải hạn chế sử dụng chất béo với cơ cấu lượng mỡ dưới 30% tổng năng lượng, nhất là lượng chất béo bão hòa. Chất béo bão hòa cần phải hạn chế dưới 10% vì nó là nguyên nhân chính và trực tiếp làm tăng cholesterol máu và cholesterol tăng cao là một yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra chứng xơ vữa động mạch và bệnh lý mạch vành. Do đó, cần phải thực hiện chế độ ăn giảm đến mức tối đa lượng cholesterol. Và phải thực hiện việc điều trị triệt để tình trạng tăng cholesterol

Tăng lượng chất bột chiếm 50 - 55% tổng số năng lượng

nguoi mac benh tim nen an uong nhu the nao? hinh 2
Chất bột là chất cần gia tăng trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày nhưng chỉ dừng lại ở mức 50 - 55%, loại chất bột có trong các loại trái cây. Các loại rau quả, trái cây và hạt nguyên vỏ ngoài việc cung cấp tinh bột nó còn chứa nhiều chất rất có ích cho sức khỏe tim mạch và ung thư như chất xơ, chất chống oxy hóa...

Tinh bột còn có trong các sản phẩm như: ngũ cốc, cơm, các loại mì ống và bánh mì.

Hạn chế lượng đạm ở khoảng 15% tổng số năng lượng.

Theo các chuyên gia về dinh dưỡng, trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày của người bình thường, lượng chất đạm chiếm 30% khẩu phần và đối với người mắc bệnh tim mạch, trong khẩu phần ăn, lượng đạm chỉ nên chiếm 15% tổng nhu cầu năng lượng.

Cần tránh xa bia, rượu

Các chuyên gia về dinh dưỡng cho rằng rượu có tác dụng phức tạp đối với sức khỏe tim mạch. Do đó, cần phải tránh xa bia rượu. Mặt khác, các chuyên gia tim mạch lại cho rằng việc uống một ít rượu vang đỏ làm giảm nguy cơ lên cơn đau tim, vì các lý do như sau:

Thứ nhất, rượu làm tăng nồng độ loại cholesterol tốt (HDL) trong máu, giúp giảm nguy cơ bệnh tim.

Thứ hai, vài loại rượu có khả năng hạn chế sự đông máu, đây là quá trình chính dẫn đến cơn đau tim.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa xác định chính xác chất nào có trong rượu vang đỏ có tác dụng hạn chế đông máu nói trên.

Kiểm soát trọng lượng

Béo phì, thừa cân là yếu tố nguy cơ gây nên nhiều bệnh lý như: đái tháo đường, tim mạch. Do vậy, trong chế độ ăn hàng ngày việc giảm cung cấp năng lượng sẽ làm giảm nguy cơ béo phì. Ngoài ra, còn phải tập thể dục thể thao để cơ thể duy trì cân nặng ở mức lý tưởng

Tóm lại, để có thể phòng ngừa các bệnh lý tim mạch, ngoài việc phải tập luyện thể dục thể thao thì chế độ ăn đầy đủ chất trong phạm vi nhất định theo tỉ lệ nhất định có vai trò rất lớn.




Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Triệu chứng bệnh mạch vành

Với bệnh nhân có bệnh động mạch vành, triệu chứng đầu tiên thường là cơn đau thắt ngực. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không đau ngực hoặc cơn đau không điển hình, nhất là ở những bệnh nhân đái tháo đường, tăng huyết áp. Nếu nghi ngờ có bệnh mạch vành, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh làm một số thăm dò sau:
Điện tâm đồ là biện pháp đơn giản nhất để tìm các dấu hiệu của bệnh mạch vành. Siêu âm tim: Siêu âm tim thường chỉ phát hiện được bệnh mạch vành ở giai đoạn muộn khi bệnh đã gây ra các rối loạn vận động buồng tim. Các thăm dò chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính đa dãy động mạch vành, chụp cộng hưởng từ tim ngày càng được ứng dụng rộng rãi để chẩn đoán sớm động mạch vành..
Nghiệm pháp gắng sức là biện pháp kinh điển để chẩn đoán bệnh mạch vành vì khi nghỉ ngơi thì động mạch vành dù bị hẹp vẫn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ôxy của cơ thể. Khi phải gắng sức, nhu cầu ôxy cơ thể tăng lên, và khi đó mới lộ ra các dấu hiệu thiếu máu cơ tim.
Để phòng bệnh, cần khám sức khỏe định kỳ để kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, ngoài ra cần có chế độ ăn uống hợp lý, thể dục, thể thao đều đặn, không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu, bia, tránh căng thẳng.




Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Dấu hiệu sớm nhận biết đột quỵ

Đột quỵ là sự suy giảm chức năng não một cách nhanh chóng do rối loạn cung cấp máu lên não. Đây có thể là do thiếu máu cục bộ vì tắc nghẽn hoặc xuất huyết. Tuy nhiên, nhiều người không biết đột quỵ là gì, biểu hiện bệnh như thế nào, nên hành động gì ngay lập tức và bệnh nhân đột quỵ sẽ hồi phục như thế nào.
Bệnh tiểu đường, huyết áp cao, hút thuốc, béo phì, hàm lượng cholesterol cao và bệnh tim là những yếu tố nguy cơ quan trọng của đột quỵ.
Bệnh diễn tiến nhanh, điều trị phức tạp. Việc nhận biết những dấu hiệu sớm của đột quỵ giúp kịp thời chữa trị, hạn chế những biến chứng ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe. Dưới đây là những dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ não:
Mặt chảy xệ: Nếu thấy khuôn mặt một người bị chảy xệ một bên hoặc tê liệt một bên, cần đề phòng nguy cơ đột quỵ. Bạn có thể đề nghị người đó cười, nếu họ không thể, hãy đưa tới bệnh viện ngay lập tức.
Dấu hiệu sớm nhận biết đột quỵ
Cánh tay yếu: Bệnh nhân đột quỵ sẽ bị yếu ở một hoặc cả hai cánh tay. Bạn có thể yêu cầu người đó giơ cánh tay lên cao, nếu bị đột quỵ, cánh tay này sẽ buông thõng xuống.
Khó phát âm: Khi thấy một người đột nhiên khó phát âm, hãy yêu cầu họ trả lời những câu hỏi đơn giản. Thông thường nếu bị đột quỵ, người đó sẽ không thể trả lời câu hỏi chính xác, hãy yêu cầu họ nhắc lại để kiểm tra xem họ có bị bệnh không.
Mất thăng bằng: Bệnh nhân đột quỵ thường khó giữ thăng bằng cơ thể, họ gặp khó khăn trong khi di chuyển và thiếu sự phối hợp.
Đau nhói đầu: Nếu một người bị đau đầu đột ngột không rõ nguyên nhân, hãy cảnh giác vì đó có thể là dấu hiệu của đột quỵ do xuất huyết.
Các triệu chứng khác có thể báo hiệu đột quỵ gồm:
- Mất trí nhớ ngắn hạn
- Giảm thị lực

- Chóng mặt

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác

Có nhiều nguyên nhân gây nên suy tim như:
1. Nhồi máu cơ tim cũ: khi động mạch vành cung cấp máu nuôi dưỡng cơ tim có một chỗ bị tắc gây nhồi máu, một số vùng cơ tim chết đi, thành sẹo làm giảm khả năng co bóp của quả tim.
2. Tăng huyết áp mạn tính làm quả tim phải làm việc quá sức trong một thời gian dài do phải bóp với một lực mạnh hơn để thắng được sức cản lớn trong lng mạch (do tăng huyết áp), lâu dần sẽ làm tim bị suy.
3. Bệnh van tim gây hở hoặc hẹp van tim, khi đó hoặc tim phải bóp nhiều hơn (do hở van tim) hoặc bóp mạnh hơn (do hẹp van tim), lâu ngày cũng sẽ gây suy tim.
4. Bệnh tim bẩm sinh
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
5. Bệnh cơ tim do rượu: uống quá nhiều rượu làm co bóp cơ tim bị yếu đi.
6. Viêm cơ tim nhất là viêm cơ tim do siêu vi trùng
7. Do rối loạn nhịp tim nhanh kéo dài, mạn tính gây suy tim.
8. Suy tim cũng hay gặp ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, dù không phải đái tháo đường là nguyên nhân gây bệnh duy nhất
9. Suy tim còn gặp ở bệnh nhân uống thuốc hoá chất để điều trị ung thư hoặc một số loại thuốc đặc biệt khác
Tuy nhiên cũng có đến 40% không thể tìm được một nguyên nhân cụ thể nào gây suy tim.
Suy tim có thể có nhiều biểu hiện khác nhau; trong đó khó thở khi làm việc nặng có thể là một trong những dấu hiệu gợi ý. Tuy nhiên không phải cứ khó thở khi làm việc nặng là có suy tim, bởi nhiều khi rất khó khăn để phân biệt được chính xác nguyên nhân của các dấu hiệu trên là do suy tim hay do bệnh ở phổi hoặc do tình trạng khác.
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
Phát hiện suy tim cách nào?
Suy tim thường là hậu quả của nhiều bệnh tim gây ra, vì thế thường phải làm nhiều xét nghiệm để chẩn đoán. Các bác sĩ hỏi tiền sử bệnh, tìm các dấu hiệu như phù mắt cá chân, dùng ống nghe để nghe tiếng tim hoặc phát hiện có nước trong phổi. Nhiều xét nghiệm được dùng để khẳng định chẩn đoán, tìm nguyên nhân gây ra suy tim và đánh giá mức độ nặng của bệnh.
Điện tim không dùng để chẩn đoán suy tim, nghĩa là không thể nói chắc chắn có hay không có suy tim nếu chỉ nhìn vào kết quả điện tim đơn thuần, nhưng cũng thấy được một vài bằng chứng của bệnh gây suy tim hoặc các biểu hiện rối loạn nhịp tim.
Chụp phim tim phổi có thể chỉ ra tình trạng tim to, tình trạng ứ nước trong phổi mặc dù cũng khó lòng chẩn đoán được suy tim.
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
Ngày nay, siêu âm tim là xét nghiệm cơ bản, cho phép đo đạc kích thước buồng tim, phát hiện các bệnh lý van tim, đánh giá sức co bóp cơ tim. Thông thường mỗi lần làm siêu âm tim mất chừng 15 đến 60 phút.
Những kỹ thuật mới như chụp xạ hình cơ tim, chụp cản quang buồng tim… được áp dụng để đánh giá chính xác cũng như điều trị có hiệu quả nguyên nhân gây suy tim.

Phân số tống máu (EF tính bằng %) là chỉ số để đo phần trăm lượng máu được quả tim bóp (tống) ra khỏi buồng tim trong mỗi nhát bóp, thường trong khoảng 55 đến 70%. Bệnh nhân suy tim ứ huyết thường có EF giảm nhiều. Tuy vậy một con số EF đơn thuần không hề nói lên toàn cảnh của bệnh: một số người đã biểu hiện suy tim nặng nề khi EF mới giảm xuống 40%; song một số khác thậm chí lại chẳng biểu hiện gì ngay cả khi EF chỉ còn 20%. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân và diễn biến của suy tim.