Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Virut - nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim

Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc ly giải của tế bào cơ tim gây nên do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân. Các quá trình bệnh lý này ảnh hưởng đến cơ tim kèm theo hoặc không kèm theo triệu chứng toàn thân. Những biểu hiện thường gặp nhất là triệu chứng của suy tim, tuy nhiên đôi khi là rối loạn nhịp tim hoặc đột tử là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Cho đến thời điểm hiện nay,viêm cơ tim vẫn là một trong những bệnh lý nguy hiểm.
Những năm trước đây, thấp khớp cấp là nguyên nhân thường gặp của viêm cơ tim. Ngày nay, chúng ta biết thêm nhiều nguyên nhân khác như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, một số hóa chất và thuốc có khả năng gây dị ứng hoặc nhiễm độc, các bệnh hệ thống... Virut là nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim hiện nay, trong đó hay gặp là Coxsakie virus B, Adenovirus, virut cúm, virut dengue và virut viêm gan C đều có thể gây viêm cơ tim. Virut HIV có khả năng xâm nhập cơ tim trực tiếp. Tỷ lệ mắc bệnh không được biết rõ do có nhiều trường hợp viêm cơ tim nhẹ tự khỏi nên người bệnh và gia đình không nhận thấy, do vậy cũng không đến bệnh viện khám. Viêm cơ tim do virut thường xảy ra rải rác, tuy nhiên đôi khi cũng xảy ra thành dịch.
Virut - nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim
Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc ly giải của tế bào cơ tim do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân.
Viêm cơ tim do virut có biểu hiện bằng một tình trạng viêm rất đột ngột, đặc trưng bởi sự thâm nhiễm tế bào viêm, thoái hóa và hoại tử tế bào cơ tim, sau đó là quá trình xơ hóa của cơ tim. Một hình thức khác của viêm cơ tim do virut là ARN hoặc ADN, vật chất di truyền của virut, có thể tồn tại lâu dài trong cơ tim. Cơ thể chống lại tình trạng này bằng những phản ứng miễn dịch. Tuy nhiên những phản ứng miễn dịch này cùng với sự phát triển không bình thường của virut lại làm suy giảm chức năng tim mà không có sự tiêu tế bào rõ rệt. Hậu quả cuối cùng của các quá trình bệnh lý phức tạp trên, thường là bệnh cơ tim giãn.
Bệnh nhân nhập viện hầu hết đã có biến chứng nặng
Hầu hết các virut thâm nhập cơ thể qua đường hô hấp trên hay đường tiêu hóa. Cơ thể con người dễ bị nhiễm virut hơn khi bị suy dinh dưỡng, tập luyện hay làm việc quá sức, trẻ nhỏ hay người lớn tuổi, căng thẳng stress... do làm thay đổi đáp ứng tự miễn dịch khi bị nhiễm virut. Bệnh nhân thường không để ý do vậy chậm trễ nhiều ngày đến nhiều tuần trước khi triệu chứng ở tim xuất hiện như suy tim ứ huyết, rối loạn nhịp tim (đột tử) và biến chứng thuyên tắc mạch. Biểu hiện lâm sàng tùy thuộc vào lứa tuổi bị bệnh và bản chất cấp tính hay mạn tính của tình trạng nhiễm virut.
Trẻ sơ sinh thường biểu hiện bằng sốt cao, suy tim, suy hô hấp nặng, tím tái, tiếng tim nghe xa xăm, mạch nhanh nhỏ, hở van hai lá do vòng van bị giãn rộng, nhịp ngựa phi, nhiễm toan và sốc. Chụp Xquang tim phổi thường thấy bóng tim to, phổi ứ huyết, có thể có hình ảnh tràn dịch màng phổi hai bên. Điện tâm đồ có thể thấy nhịp nhanh xoang, điện thế giảm, bất thường về đoạn ST cũng như sóng T. Đôi khi rối loạn nhịp tim là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Lúc này các triệu chứng như sốt và tim to gợi ý viêm cơ tim cấp.

Ở trẻ lớn hơn, viêm cơ tim cấp cũng biểu hiện bằng suy tim ứ huyết cấp, nhưng thường gặp hơn là suy tim tiến triển từ từ hoặc tình trạng nhịp nhanh thất xảy ra đột ngột. Những bệnh nhân này, tình trạng nhiễm virut cấp tính đã qua và thường có tình trạng bệnh cơ tim giãn. Đôi khi bệnh nhân có triệu chứng giống như bị nhồi máu cơ tim cấp tính: đoạn ST chênh lên, tăng men tim CK, CK-MB, rối loạn vận động vùng, nhưng chụp động mạch vành bình thường. Chẩn đoán dựa vào sinh thiết cơ tim. Rối loạn vận động vùng sẽ hồi phục theo thời gian.


Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

10 dấu hiệu hạ đường huyết


tired-5877-1441589960.jpg
Ảnh: 103fm.
Đường huyết được coi là thấp khi xuống dưới 70 mg/dl. Một nghiên cứu gần đây cho thấy người bị tiểu đường tuýp 2 có trung bình 19 cơn hạ đường huyết mỗi năm. Hiện tượng này rất hay xảy ra vào ban đêm, gây ra một số rối loạn giấc ngủ như đổ mồ hôi, ác mộng và nhầm lẫn.
Tụt đường huyết có thể gây ra khó tập trung, chóng mặt. Nếu không được chữa trị, các triệu chứng này có thể kéo dài, thậm chí người bệnh có thể hôn mê hoặc tử vong. Dưới đây là những triệu chứng báo hiệu hạ đường huyết để bạn có thể nhận biết và điều trị kịp thời.
Đói cồn cào
Nếu bạn đã ăn nhưng vẫn chưa cảm thấy thỏa mãn, hoặc đột nhiên lên cơn đói mà không hiểu vì sao, có nghĩa cơ thể bạn đang cần nhiều glucose hơn. Tốt nhất hãy bổ sung 15 g thực phẩm giàu carbohydrate. Hoặc bạn có thể ăn nho, uống nước cam và ngậm kẹo cứng.
Cảm giác lo lắng
Khi nồng độ glucose giảm quá thấp, các tuyến thượng thận sẽ giải phóng hormon ephinephrine (hay còn gọi là adrenaline) báo hiệu cho gan tiết thêm đường. Các hormon dư thừa tạo ra một “cơn sốt adrenaline” khiến bạn cảm thấy lo lắng.
Mệt mỏi ban đêm
Hạ đường huyết vào ban đêm rất phổ biến và gây nên một số rối loạn giấc ngủ. Các triệu chứng bao gồm đổ mồ hôi, mơ ác mộng, đột nhiên thức dậy và khóc, hoặc cảm giác mệt mỏi chưa được nghỉ ngơi đủ và mơ hồ, hay nhầm lẫn khi ngủ dậy. Ăn nhẹ trước khi ngủ có thể giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng này.
Run rẩy
Hệ thống thần kinh trung ương bắt đầu hoạt động kém khi nồng độ glucose mất cân bằng. Kết quả, catecholamine được giải phóng kích thích sản sinh glucose và khiến người bệnh bị run.
Cảm xúc không ổn định
Thay đổi tâm trạng một cách đột ngột không phải là một điều bình thường. Khi bị hạ đường huyết, bạn có thể bỗng dưng cáu giận, buồn bã, khóc lóc, muốn ở một mình. Một số biểu hiện không nặng lắm như dễ bực mình cũng báo hiệu đường huyết đang giảm.
Ra mồ hôi
Đổ mồ hôi thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên của tụt đường huyết. Hãy coi chừng nếu bạn đột ngột ra mồ hôi bất kể thời tiết nóng hay lạnh.
Chóng mặt, choáng váng
Nếu bạn đã trải qua những triệu chứng này, hãy nhanh chóng điều trị hạ đường huyết. Lượng đường trong máu giảm có thể dẫn đến ngất xỉu. Khi cảm thấy bản thân như sắp ngất, hãy ngồi hoặc nằm xuống ngay lập tức để tránh bị thương.
Suy nghĩ vẩn vơ
Bộ não đặc biệt nhạy cảm với glucose nên bạn sẽ hay nhầm lẫn, khó tập trung vào công việc tại một thời điểm nếu bị hạ đường huyết.
Vấn đề thị giác
Nếu mắt bạn đột nhiên bị mờ đi hoặc bạn nhìn thấy hai hình ảnh, có thể là do lượng đường trong máu bị giảm.
Nói lắp
Khi bị thiếu đường, não không còn phát hiện ra sự thay đổi trong lời nói khiến bạn dễ nói lắp. Những người xung quanh sẽ nghĩ bạn bị say rượu trong khi vấn đề thực sự là tụt đường huyết.


7 tác hại không ngờ của cô đơn

Cô đơn là phản ứng cảm xúc phức tạp, thiếu liên kết cộng đồng hoặc đồng loại, cả hiện tại lẫn tương lai. Cho dù diễn ra như thế nào thì ảnh hưởng của cô đơn đối với sức khỏe là không nhỏ, thủ phạm rút ngắn tuổi thọ, kể cả con người lẫn động vật.
Não người cô đơn hoạt hóa khác người bình thường
Nghiên cứu của ĐH Chicago, Mỹ (UOC) vừa phát hiện thấy não người cô đơn hoạt hóa khác với người bình thường. Trong nghiên cứu, những người tình nguyện trả lời câu hỏi vì sao họ bị cô lập hay cô đơn. Khi những người này được chứng kiến hình ảnh của họ được những người khác bình luận thì vùng não phản ứng với cảm giác thưởng-phạt lại trì trệ, ít hoạt hóa. Các nhà khoa học cho rằng, nếu não giảm hoạt hóa có thể dẫn đến cảm giác cô đơn kéo dài, ngược với quy luật tiến hóa. Ngoài ra, nếu não hoạt hóa yếu còn dẫn đến tình trạng chịu lạnh kém, dễ mắc bệnh, người trong cuộc ngại giao tiếp và lâu ngày phát sinh nhiều căn bệnh nan y, mạn tính.
7 tác hại không ngờ của cô đơn
Cô đơn làm gia tăng bệnh tim mạch.
Cô đơn cũng lây lan như dịch bệnh
Theo nghiên cứu ở 5.000 người do Đại học Chicago thực hiện, cô đơn cũng có tính lây lan trong cộng đồng như một loại dịch bệnh. Chỉ trong thời gian ngắn, những người cô đơn bị đẩy ra rìa xã hội và hậu quả người thân, bạn bè của họ cũng bị cô đơn lây, sự lây lan này giống như lan truyền virut, vi khuẩn, gây khó chịu và làm suy giảm năng suất lao động, và chất lượng cuộc sống. Bằng chứng, sống chung với người suy sụp tinh thần thì những người xung quanh cũng không thể vui, vì vậy để điều trị bệnh tâm thần, trầm cảm, cô đơn mạn tính, người ta thường quan tâm đến mối quan hệ xã hội, nên trị liệu tâm lý được xem là có tác dụng cao nhất.
Cô đơn mạn tính gia tăng bệnh tim mạch
Theo nghiên cứu, những người cô đơn mạn tính có tỉ lệ mắc bệnh tim mạch cao hơn những người bình thường bởi phải chống chọi với stress. Kể cả stress cấp tính lẫn mạn tính, nếu cấp tính chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn còn mạn tính, kéo dài nhiều ngày, nhiều năm sẽ làm tăng bệnh tim, tiểu đường, thậm chí cả ung thư và rút ngắn tuổi thọ.
Cô đơn làm thay đổi nhận thức
Đại học Dartmouth vừa kết thúc nghiên cứu và phát hiện thấy thâm niên cô đơn càng cao thì mức độ thay đổi nhận thức về đối tượng vô tri vô giác càng lớn, như tiếp xúc với búp bê hay robot hình nhân hoặc nhân vật hoạt hình. Các sinh viên tình nguyện tham gia nghiên cứu đã được quan sát các vật vô tri vô giác, sau đó trả lời các câu hỏi cho sẵn liên quan đến tương lai của họ. Thông tin phản hồi hoàn toàn ngẫu nhiên, những người cô đơn thường đưa ra những dự báo ảm đạm, còn những người bình thường thì lại có những phản hồi mang tính tích cực, và lạc quan hơn.
Cô đơn nguy hiểm không kém gì thuốc lá
Nghiên cứu của Đại học Brigham Young (Mỹ) phát hiện thấy, cô đơn tác động đến cơ thể con người không khác gì khói thuốc lá và béo phì. Kết luận này được dựa vào phân tích dữ liệu của hơn ba triệu người thuộc nhóm cô đơn, cô lập xã hội và sống một mình. Theo nghiên cứu, những người cô đơn dễ mắc bệnh tăng huyết áp và tăng cholesterol, kích thích phản ứng căng thẳng, cả thể chất lẫn tinh thần, rút ngắn tuổi thọ giống như người hút 15 điếu thuốc lá mỗi ngày và nếu vừa cô đơn lại nghiện thuốc lá thì mối nguy hiểm càng cao.
Bị cách ly cộng đồng nguy hiểm hơn cô đơn?
Con người là sinh vật mang tính xã hội, dựa vào nhau để tồn tại, nhưng ở người cô đơn lại là nỗi cực nhọc. Theo các nghiên cứu của Đại học London (UCL), cô đơn và bị cô lập về mặt xã hội có sự khác biệt lớn. Sự cô đơn thường được đánh giá trong bối cảnh xã hội và cảm giác chủ quan của con người. Có người sống xa cộng đồng, rất ít liên lạc với gia đình nhưng họ lại không cô đơn, trong khi những có hôn nhân, sống giữa cộng đồng, người thân, giữa phố phường đông đúc, thường xuyên ăn uống cùng gia đình, gặp bạn bè liên tục mà vẫn cảm thấy cô đơn.
Để tìm hiểu mức độ nguy hiểm lên sức khỏe do cô đơn và cô lập, các nhà khoa học ở UCL đã tiến hành một nghiên cứu dài 12 năm với 6.500 người tuổi trên 52 tham gia. Kết quả, phát hiện thấy cô lập xã hội nguy hiểm hơn cảm giác cô đơn, nhất là sức khỏe và hạnh phúc. Riêng những người có cảm giác cô đơn, nếu tích cực duy trì mối liên kết xã hội, cộng đồng thì sức khỏe và hạnh phúc sẽ được cải thiện.
Nơi cô đơn nhất hành tinh

Kỷ lục này thuộc về Point-Nemo, địa danh ở Nam Thái Bình Dương, giữa đảo Maher ngoài khơi bờ biển Nam Cực, Motu Nui gần đảo Phục Sinh và đảo Ducie, một hòn đảo không có người ở phía bắc. Point Nemo chính thức được lập bản đồ năm 1992, nằm cách xa các hòn đảo nói trên tới 2.300km, khiến nó trở thành địa danh cô đơn nhất hành tinh. Kể từ khi phát hiện ra hồi thập niên 40 ở thế kỷ trước đến nay, chắc chắn chưa hề có ai đặt chân đến Point Nemo. Thậm chí không có cả ngọn hải đăng mà chỉ toàn đại dương mênh mông, vô tận, cô đơn và cô đơn.


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Những căn bệnh nguy hiểm có yếu tố di truyền

Bệnh được di truyền là bệnh do bất thường về gen ở bố mẹ truyền sang cho con họ. Dưới đây là những căn bệnh nguy hiểm có yếu tố di truyền.

Cao huyết áp là căn bệnh có yếu tố di truyền

Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh cao huyết áp có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh cao huyết áp thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn. Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị cao huyết áp càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ mới có thể phòng tránh được bệnh cao huyết áp.
Những căn bệnh nguy hiểm có yếu tố di truyền (Ảnh minh họa)Những căn bệnh nguy hiểm có yếu tố di truyền như cao huyết áp, bệnh tim... (Ảnh minh họa)
Điều này có thể được thực hiện bằng cách tập thể dục, ngồi thiền và tập thở. Đồng thời cũng nên giảm lượng muối tiêu thụ hàng ngày bằng cách tránh các thực phẩm đóng gói và những thực phẩm có chất bảo quản.
Bệnh tim là căn bệnh có yếu tố di truyền
Nếu một trong hai người, cha hoặc mẹ bạn có bệnh tim, thì nguy cơ bạn bị bệnh là khó tránh khỏi. Nếu bạn hút thuốc hoặc uống rượu, nguy cơ của bệnh tim mạch còn cao hơn. Bạn có thể bắt đầu bằng cách giữ một mức cholesterol ổn định sau khi 30 tuổi.
Do vậy, bạn cũng nên giữ cho trọng lượng của mình ở mức vừa phải và bắt đầu tập thể dục để giảm lượng chất béo không lành mạnh trong chế độ ăn uống để giữ cho trái tim khỏe mạnh.
Hói đầu là căn bệnh có yếu tố di truyền
Hói đầu là hiện tượng phổ biến ở đàn ông, hiện tượng này có thể do gen của bố hoặc mẹ hoặc cả hai bên biến đổi di truyền. Gen di truyền chính là một trong những nguyên nhân của rụng tóc, hói đầu, song điều này có thể ngăn chặn nếu biết chăm sóc tóc từ sớm.
Phụ nữ bị rụng tóc do di truyền thường có xu hướng tóc mỏng và thưa dần ở vùng quanh chỏm đầu trở xuống. Hiện nay, các bác sĩ da liễu có thể kiểm tra mô hình rụng tóc để xác định xem đó có phải do di truyền hay không, đồng thời có thể yêu cầu xét nghiệm máu để loại trừ các nguyên nhân khác. Với tình trạng này, đã có thuốc bôi da đầu cho cả nam và nữ giới để làm chậm việc rụng tóc.
Ung thư vú là căn bệnh có yếu tố di truyền
Ung thư vú là một loại bệnh có tính chất di truyền rõ rệt, cao gấp 7 - 8 lần bình thường. Ví dụ trong một dòng họ có trên 2 người mắc ung thư vú thì nên nghi ngờ có phải do di truyền hay không?
Ung thư vú di truyền có thể biểu hiện theo hai thể sau: thứ nhất là mẹ mắc ung thư vú, con gái cũng mắc ung thư vú, mắc bệnh khi còn trẻ, thường phát hiện ra trước khi có biểu hiện bế kinh, đa phần là cả hai bên vú. 
Thứ hai là mẹ không mắc ung thư vú nhưng trong gia đình ngoại có ít nhất 1 - 2 người chị em mắc ung thư vú và thường phát hiện ra sau khi có biểu hiện bế kinh, thường là một bên. Thường xuyên tự kiểm tra vú để phát hiện bệnh sớm, đi khám định kì, không kết hôn sớm và tránh các thói quen xấu như hút thuốc, uống rượu bia, thức đêm.


Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Đông y điều trị suy tim

Suy tim (hay còn gọi là suy tim ứ huyết) là thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng mà trong đó tim không còn khả năng bơm đủ máu theo nhu cầu của cơ thể.

Nguyên nhân của suy tim
Nguyên nhân thường gặp nhất của suy tim là các tình trạng làm tổn thương cơ tim.
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến suy tim là do tim làm việc quá tải.
- Quá tải về thể tích xảy ra khi tim bắt buộc phải bơm một lượng máu quá nhiều. Việc quá tải này là do các van tim bị hở làm dòng máu "cuồn cuộn" chảy ngược chiều vào tim. Tình trạng này có thể làm tim kiệt sức, đưa đến suy tim.
- Quá tải về thể tích xảy ra khi tim bị yếu cần phải bơm mạch để thắng được trở lực quá lớn. Tình trạng này xảy ra khi các van tim dẫn về tim bị hẹp, khi túi bao quanh tim (màng ngoài tim) bị sẹo gây co thắt (viêm màng ngoài cơ tim co thắt) hay chứa đầy dịch gây chèn ép tim, hay trong một số trường hợp cơ tim bị phá hủy đến nỗi nó trở lên "cứng lại" và không thể giãn ra đủ để nhận máu trở về.
Đông y điều trị suy tim
Bắc ngũ vị tử.
Suy tim gây thiếu máu nuôi đến các cơ quan nội tạng (kể cả chính trái tim) và các cơ bắp, nên triệu chứng điển hình của suy tim là khó thở, mệt mỏi và ho, phù.
Khó thở
Đây là triệu chứng thường gặp sớm của suy tim. Thường, khó thở diễn biến từ từ nên bệnh nhân có thể hạn chế dần dần các hoạt động để tránh cảm giác khó chịu này.
Khó thở phải ngồi
Bệnh nhân suy tim, đặc biệt khi suy tim tiến triển, thường thấy dễ thở hơn khi phần trên cơ thể được nâng cao (gối đầu cao hoặc ngồi dậy).
Khó thở kịch phát về đêm
Hiện tượng gần giống với khó thở phải ngồi nhưng mô tả các đợt khó thở nặng thoáng qua xảy ra về đêm khi bệnh nhân đang nằm và có thể không hết sau khi ngồi dậy.
Mệt mỏi
Ngoài các triệu chứng hô hấp ở trên, mệt mỏi cũng là triệu chứng điển hình của suy tim, bởi do thiếu máu nuôi đến các cơ bắp, gây khó khăn cho việc hoạt động gắng sức hoặc ngay cả các hoạt động thường ngày của cuộc sống.
Phù và ho
Khi tim không đủ khả năng bơm máu đi, dịch sẽ tích tụ ở chân, mắt cá và đôi khi ở bụng, đó là tình trạng phù, dịch còn có thể tích tụ ở phổi, gây suy tim ứ huyết. Sự ứ huyết ở phổi có thể làm ho kéo dài hay thở khò khè.
Điều trị suy tim
Theo y học cổ truyền, suy tim thuộc phạm trù tâm quý, chính xung, khái suyễn, hư hao, thủy thũng... Nguyên nhân suy tim căn bản là tâm và huyết mạch bất túc, nguyên nhân ngoại tà, ăn uống, phòng dục không điều độ là yếu tố dẫn phát bệnh. Suy tim có các thể sau:
Thể khí huyết đều hư
Tim hồi hộp, khó thở, mệt mỏi, đầu váng, mắt hoa, hụt hơi, ngại nói, môi nhợt, sắc mặt tối, chất lưỡi nhợt bệu, rêu mỏng, mạch tế vô lực.
Pháp điều trị: Bổ khí huyết, dưỡng tâm an thần.
Bài thuốc: Quy tỳ thang gia giảm: Đẳng sâm 15g, hoàng kỳ 20g, chích cam thảo 5g, phục thần 12g, toan táo nhân 12g, mộc hương 6g, viễn chí 10g, bạch truật 15g, đương quy 20g, long nhãn 15g. Sắc uống ngày một thang.
Thể tâm thận hư
Khó thở, hồi hộp, khó ngủ, miệng khát họng khô, hai gò má đỏ, tai ù, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Pháp điều trị: Bổ tâm thận âm, dưỡng tâm an thần.
Bài thuốc: Thiên vương bổ tâm đan gia giảm: Sinh địa 12g, huyền sâm 12g, đan sâm 15g, thiên đông 12g, mạch đông 12g, đương quy 12g, bá tử nhân 12g, toan táo nhân 12g, ngọc trúc 12g, cát cánh 12g, ngũ vị tử 5g. Sắc uống ngày một thang.
Thể tâm huyết ứ
- Người mệt mỏi, vô lực, hồi hộp, nhịp loạn, suyễn thở, khó thở khi nằm, mặt tối, môi tím, đầu ngón tay xanh tím. Lưỡi ánh tím có ban huyết ứ. Mạch tế hoặc kết đại.
Pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ.
Bài thuốc: Đào nhân hồng hoa tiễn gia giảm: Đương quy 15g, đan sâm 15g, uất kim 10g, hồng hoa 6g, đào nhân 15g, long cốt 15g, mẫu lệ 15g, diên hồ sách 12g, quế chi 10g, xuyên khung 10g, cam thảo 5g.
- Tim đập nhanh phù thũng toàn thân, người gầy, ăn kém, đại tiện nhão, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế vô lực.
Pháp điều trị: Ôn tỳ bổ thận, thông dương lợi thủy.
Bài thuốc: Chân vũ thang gia giảm: Phụ tử chế 6g, tang bạch bì 12g, bạch truật 15g, phục linh 20g, quế chi 10g, sinh khương 5 lát, trạch tả 15g, bạch thược 15g, sa tiền tử 15g. Sắc uống ngày một thang. Cho 750ml nước vào sắc còn 250ml, chia uống 3 lần trong ngày khi thuốc còn nóng.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015

Có phòng được sốc do phản xạ thần kinh không?

Trong Y văn, ngay từ ngày xa xưa tuy chưa hiểu hết hết về cơ chế của phản xạ thần kinh, mọi người cũng đã chú ý đến rất nhiều về tình trạng sốc hay ngừng tim đột ngột do kích thích vào một số vùng khá nhạy cảm trên cơ thể con người.

Có chứ! Có thể phòng ngừa sốc hoặc ngất do phản xạ thần kinh bằng cách: không kích thích quá vào các vùng có khả năng gây ra phản xạ thần kinh như: không ấn mạnh vào nhãn cầu, không đè mạnh vào cổ vùng đường đi của động mạch cảnh.
Trong phẫu thuật hay thủ thuật Y khoa trên các vùng nhạy cảm cần phải tiến hành nhẹ nhàng, không đột ngột. Bệnh nhân trước đó phải được khám về tim mạch nhằm phát hiện những trường hợp có rối loạn nhịp tim kể cả nhịp tim quá nhanh hay quá chậm.
Theo một số chuyên gia về gây mê hồi sức thì việc sử dụng Atropin khi tiền mê là rất cần thiết vì Atropin giúp ngăn ngừa được việc làm giảm nhịp tim quá mức do phản xạ phó giao cảm. Khi tiến hành phẫu thuật trên động mạchcảnh, nên phong bế Lidocaine ngay xoang động mạch cảnh cũng là một biện pháp phòng ngừa rất tốt .
Với những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, việc chuẩn bị phẫu thuật phải hết sức cẩn thận bao gồm cả các nghiệm pháp gắng sức như: siêu âm gắng sức, đo điện tim gắng sức… nhằm đánh giá đáp ứng của cơ tim với phẫu thuật. Có nhiều trường hợp phải có sự hội chẩn giữa phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê hồi sức và bác sĩ chuyên khoa tim mạch nhằm tìm ra một giải pháp tốt và an toàn nhất cho bệnh nhân.
Khi có sốc do phản xạ thần kinh xảy ra, điều quan trọng nhất là phải nghĩ đến tình trạng sốc do phản xạ phó giao cảm mà không nên nghĩ đến sốc do các nguyên nhân khác. Thường nhất là hay nghĩ sốc do thuốc, sốc phản vệ vì hai phương pháp điều trị hoàn toàn khác nhau. Atropin vẫn là thứ thuốc đầu tay để phòng ngừa và điều trị khi tình trạng sốc do phản xạ phó giao cảm xảy ra.
Về phương diện bệnh nhân, việc khám sức khỏe định kỳ với đo điện tim thông thường và khám tư vấn ở bác sĩ tim mạch nhằm phát hiện ra những rối loạn nhịp, đặc biệt những rối loạn nhịp chậm là rất cần thiết. Nhất là trên những người thường hay mệt, hay bị ngất xỉu, một số người có dạng thần kinh dễ bị kích thích…