Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm cơ tim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm cơ tim. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác

Có nhiều nguyên nhân gây nên suy tim như:
1. Nhồi máu cơ tim cũ: khi động mạch vành cung cấp máu nuôi dưỡng cơ tim có một chỗ bị tắc gây nhồi máu, một số vùng cơ tim chết đi, thành sẹo làm giảm khả năng co bóp của quả tim.
2. Tăng huyết áp mạn tính làm quả tim phải làm việc quá sức trong một thời gian dài do phải bóp với một lực mạnh hơn để thắng được sức cản lớn trong lng mạch (do tăng huyết áp), lâu dần sẽ làm tim bị suy.
3. Bệnh van tim gây hở hoặc hẹp van tim, khi đó hoặc tim phải bóp nhiều hơn (do hở van tim) hoặc bóp mạnh hơn (do hẹp van tim), lâu ngày cũng sẽ gây suy tim.
4. Bệnh tim bẩm sinh
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
5. Bệnh cơ tim do rượu: uống quá nhiều rượu làm co bóp cơ tim bị yếu đi.
6. Viêm cơ tim nhất là viêm cơ tim do siêu vi trùng
7. Do rối loạn nhịp tim nhanh kéo dài, mạn tính gây suy tim.
8. Suy tim cũng hay gặp ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, dù không phải đái tháo đường là nguyên nhân gây bệnh duy nhất
9. Suy tim còn gặp ở bệnh nhân uống thuốc hoá chất để điều trị ung thư hoặc một số loại thuốc đặc biệt khác
Tuy nhiên cũng có đến 40% không thể tìm được một nguyên nhân cụ thể nào gây suy tim.
Suy tim có thể có nhiều biểu hiện khác nhau; trong đó khó thở khi làm việc nặng có thể là một trong những dấu hiệu gợi ý. Tuy nhiên không phải cứ khó thở khi làm việc nặng là có suy tim, bởi nhiều khi rất khó khăn để phân biệt được chính xác nguyên nhân của các dấu hiệu trên là do suy tim hay do bệnh ở phổi hoặc do tình trạng khác.
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
Phát hiện suy tim cách nào?
Suy tim thường là hậu quả của nhiều bệnh tim gây ra, vì thế thường phải làm nhiều xét nghiệm để chẩn đoán. Các bác sĩ hỏi tiền sử bệnh, tìm các dấu hiệu như phù mắt cá chân, dùng ống nghe để nghe tiếng tim hoặc phát hiện có nước trong phổi. Nhiều xét nghiệm được dùng để khẳng định chẩn đoán, tìm nguyên nhân gây ra suy tim và đánh giá mức độ nặng của bệnh.
Điện tim không dùng để chẩn đoán suy tim, nghĩa là không thể nói chắc chắn có hay không có suy tim nếu chỉ nhìn vào kết quả điện tim đơn thuần, nhưng cũng thấy được một vài bằng chứng của bệnh gây suy tim hoặc các biểu hiện rối loạn nhịp tim.
Chụp phim tim phổi có thể chỉ ra tình trạng tim to, tình trạng ứ nước trong phổi mặc dù cũng khó lòng chẩn đoán được suy tim.
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
Ngày nay, siêu âm tim là xét nghiệm cơ bản, cho phép đo đạc kích thước buồng tim, phát hiện các bệnh lý van tim, đánh giá sức co bóp cơ tim. Thông thường mỗi lần làm siêu âm tim mất chừng 15 đến 60 phút.
Những kỹ thuật mới như chụp xạ hình cơ tim, chụp cản quang buồng tim… được áp dụng để đánh giá chính xác cũng như điều trị có hiệu quả nguyên nhân gây suy tim.

Phân số tống máu (EF tính bằng %) là chỉ số để đo phần trăm lượng máu được quả tim bóp (tống) ra khỏi buồng tim trong mỗi nhát bóp, thường trong khoảng 55 đến 70%. Bệnh nhân suy tim ứ huyết thường có EF giảm nhiều. Tuy vậy một con số EF đơn thuần không hề nói lên toàn cảnh của bệnh: một số người đã biểu hiện suy tim nặng nề khi EF mới giảm xuống 40%; song một số khác thậm chí lại chẳng biểu hiện gì ngay cả khi EF chỉ còn 20%. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân và diễn biến của suy tim.


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

10 dấu hiệu thường gặp trước cơn đau tim 30 ngày

Bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu hoặc để lại di chứng nặng nề cho người bệnh. Tuy nhiên nhiều người thường bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo ban đầu trước khi cơn đau tim xảy ra.
Bệnh tim là nguyên nhân gây ra cái chết của 40% những trường hợp tử vong ở Mỹ, nhiều hơn tất cả các trường hợp tử vong do ung thư cộng lại. Tuy nhiên nếu để ý bạn sẽ phòng tránh được căn bệnh này, bởi có rất nhiều dấu hiệu cảnh báo trước khi cơn đau tim thực sự xảy ra.
10 dấu hiệu thường gặp trước cơn đau tim 30 ngày
Trái tim là bộ phận làm việc miệt mài nhất trong cơ thể, nó liên tục bơm máu có oxy và chất dinh dưỡng đi nuôi các bộ phận. Điều không may là một trong những cơ quan vận chuyển máu (động mạch) lại dễ gặp vấn đề nếu chúng ta không có một sức khỏe tốt, mắc các bệnh mạn tính, như mỡ máu, tăng huyết áp.... Bệnh động mạch vành được cho là nguyên nhân phổ biến gây ra các cơn đau tim, nhưng thực tế, có rất nhiều loại bệnh tim gây ra các cơn đau. Bất kể là nguyên nhân gì, các chuyên gia tim mạch cho biết, trong vòng 30 ngày hoặc ít hơn trước khi xảy ra một cơn đau tim, người bệnh thường xuất hiện những triệu chứng cảnh báo. Nhưng không phải ai cũng để ý và thường bỏ qua những dấu hiệu này.
Nhồi máu cơ tim thường bắt đầu từ từ, triệu chứng có thể từ nhẹ đến mạnh, tần xuất ít đến nhiều các cơn đau. Riêng những người bị bệnh tiểu đường thường không có triệu chứng hoặc các biểu hiện rất nhẹ. Triệu chứng của một cơn đau tim mỗi người một khác, các bác sĩ tim mạch cho biết, nếu có ít nhất 5 triệu chứng dưới đây, bạn cần phải đi gặp bác sĩ ngay.
10 dấu hiệu thường gặp trước cơn đau tim 30 ngày
1. Khó thở
Khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, đặc biệt vào ban đêm khiến bạn phải tỉnh dậy, ngồi dậy là những dấu hiệu ban đầu của bệnh tim. Giáo sư Nieca Goldberg, Trung tâm y tế NYU Langone ở New York, Mỹ cho biết: “Đôi khi người ta bị một cơn đau tim nhưng không đau ngực hoặc đau kết hợp khó thở. Giống như người bệnh vừa mới chạy marathon ngay cả khi họ không đi lại." Trong một cơn đau tim, khó thở thường đi kèm với khó chịu ở ngực.
2. Chóng mặt, vã mồ hôi
Khi dòng máu đến não không đủ, nó ảnh hưởng đến nhiều chức năng của cơ thể. Nhồi máu cơ tim có thể gây choáng váng và mất ý thức, ngoài ra chóng mặt còn do nguyên nhân rối loạn nhịp tim gây ra. Khi không vận động và môi trường không quá nóng, mà bạn vã mồ hôi như tắm, điều này báo hiệu một cơn đau tim sắp đến.
10 dấu hiệu thường gặp trước cơn đau tim 30 ngày
3. Mệt mỏi
Khi bạn cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức mỗi ngày, điều này kéo dài hàng tuần, đó có thể là dấu hiệu thiếu máu đến tim, não và phổi. Bạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động thường ngày, bởi lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, ngay cả với những công việc đơn giản, nhẹ nhàng. Đối với phụ nữ, mệt mỏi bất thường hãy nghĩ tới một cơn đau tim sắp xảy ra, nhưng nếu cảm thấy lúc nào cũng mệt mỏi, đó có thể là triệu chứng của bệnh suy tim.
4. Đau ngực, lưng, vai, cánh tay và cổ
Triệu chứng phổ biến nhất trước mỗi đau tim là đau ở ngực. Cơn đau này thường báo hiệu một cơn đau tim thực sự sắp xảy ra. Khi cơn đau ngực đầu tiên xảy ra, hầu hết mọi người đều hoảng sợ, nhưng khi nó hết, người bệnh bỏ qua dấu hiệu ban đầu này và không đi bệnh viện kiểm tra. Thường sau các cơn đau ngực , người bệnh sẽ thấy xuất hiện những cơn đau lan đến vai, cánh tay, và lưng. Nhồi máu cơ tim thường có liên hệ với đau cánh tay, có thể đau cả hai bên hoặc giữa hai xương bả vai.
10 dấu hiệu thường gặp trước cơn đau tim 30 ngày
5. Sưng, phù
Suy tim là do sự tích tụ dịch trong cơ thể. Điều này có thể gây ra sưng (thường ở bàn chân, mắt cá chân, cẳng chân, hoặc bụng), nhiều khi người bệnh thấy có cảm giác mình tăng cân đột ngột và mất cảm giác ngon miệng.
6. Điểm yếu không rõ nguyên nhân
Khoảng 1 vài tuần hoặc vài ngày trước khi cơn đau tim xảy ra, người bệnh thường cảm thấy yếu trong người. Phó trưởng khoa nghiên cứu Đại học y Arkansans, Mỹ, Jean C. McSweeney cho biết: "Một bệnh nhân nói với tôi, cô ấy cảm thấy như không thể giữ nổi một mảnh giấy giữa các ngón tay". Nó giống như việc bị cúm có hoặc không có chút sức lực nào nữa. Triệu chứng cảnh báo sớm này rất nhiều người găp phải nhưng cũng nhiều người bỏ qua. Thực tế đây là một biểu hiện sớm của một cơn đau tim trong tương lai.
7. Nhịp tim nhanh hoặc không đều
Các bác sĩ thường cho rằng không có gì đáng lo ngại nếu một người có một nhịp tim đập nhanh một thời điểm nào đó rồi trở lại bình thường. Nhưng một mạch nhanh hoặc không đều - đặc biệt là khi đi kèm với kiệt sức, chóng mặt, hoặc khó thở - có thể là bằng chứng sắp tới của một cơn đau tim, suy tim, hoặc rối loạn nhịp. Nếu không điều trị, một số rối loạn nhịp tim có thể dẫn đến đột quỵ, suy tim, hoặc đột tử.
8. Tiêu hóa
Đau bụng không phải là triệu chứng hiếm gặp, trước những cơn đau tim, nhiều người thường cảm thấy khó chịu ở bụng, thậm chí nhiều trường hợp xuất hiện sưng bụng – thường là dấu hiệu liên quan đến suy tim. Vì suy tim thường ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, có cảm giác chán ăn, khó tiêu, hay ợ nóng.
10 dấu hiệu thường gặp trước cơn đau tim 30 ngày
9. Thay đổi tâm trạng
Nhồi máu cơ tim có thể gây ra sự lo lắng và căng thẳng hay thậm chí là một nỗi sợ hãi về cái chết cận kề. Những người sống sót cơn đau tim thường nói chuyện về việc “chết đi sống lại”, họ có cảm giác lo lắng về tính mạng của mình nhiều hơn.
10. Ho

Ho dai dẳng hoặc khò khè có thể là một triệu chứng của suy tim - đây được cho là nguyên nhân do sự tích tụ chất dịch trong phổi do bệnh suy tim gây nên. Trong một số trường hợp, người bị suy tim ho ra đờm có máu.

Phát hiện mới về nguy cơ bệnh tim

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Florida (Mỹ) vừa khám phá ra rằng, hiện tượng tự sát của tế bào chính là thủ phạm khiến tim của người cao tuổi dễ nhiễm bệnh. Cơ chế tự sát có vai trò quan trọng trong việc sa thải những tế bào “xấu” - như tế bào ung thư chẳng hạn - nhưng theo thời gian, nó cũng góp phần làm suy yếu chức năng tim mạch.
Khi tự sát, tế bào ngừng mọi chức năng, co lại và tự tiêu hủy. Rất khó xác định chính xác số lượng tế bào mất đi theo kiểu này. Tuy nhiên, theo ước tính, đàn ông có tuổi khỏe mạnh, không mắc bệnh tim hoặc tăng huyết áp bị mất khoảng 30% tế bào tim. Đó là do cơ thể họ giải phóng quá nhiều cytochrome, chất trực tiếp tham gia vào quá trình tự sát của tế bào.
Ở người trẻ tuổi, quá trình tự sát này được kiểm soát rất chặt chẽ khiến tim không mất quá nhiều tế bào.


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Đau ngực do nhồi máu cơ tim

Đau ngực trái, lan ra cánh tay trái kèm theo mệt, cảm thấy tim đập hỗn loạn, vã mồ hôi... trên bệnh nhân có tiền căn cao huyết áp hay bệnh lý tim mạch. Đây là triệu chứng làm cho chúng ta nghĩ đến khả năng nhồi máu cơ tim cấp, một bệnh gây tử vong cao do tắc nghẽn động mạch vành.

Tuy nhiên, có một ngoại lệ mà ít người nghĩ đến ngay cả các bác sĩ đôi khi cũng bị nhầm lẫn, đó là những bệnh nhân bị đau ngực vùng giáp ranh với vùng thượng vị, rất dễ chẩn đoán nhầm với bệnh viêm dạ dày cấp, nhưng thực ra đó là biểu hiện của nhồi máu cơ tim cấp thể dưới hoành. Thực tế đã có một trường hợp trong một phiên trực đêm tại bệnh viện vị bác sĩ trực bị đau ngực gần vùng thượng vị như vậy, do nghĩ mình bị đau dạ dày nên yêu cầu điều dưỡng trực tiêm cho mình một ống thuốc giảm đau, sau đó mươi phút vị bác sĩ tử vong và vụ án kéo dài đến mấy năm mới giải quyết xong. Chính vị bác sĩ này chết do nhồi máu cơ tim thể tối cấp vùng dưới hoành.
Nhồi máu cơ tim là câu chuyện muôn thuở và là bệnh tim gây tử vong nhiều nhất ở những người trên 50 tuổi. Theo kinh điển, chỉ những người trên 50 tuổi cả nam lẫn nữ mới có khả năng nhồi máu cơ tim . Tuy nhiên, hiện nay có nhiều người còn rất trẻ tuổi khoảng 20 - 30 tuổi đã bị nhồi máu cơ tim rồi, có lẽ là do thay đổi cách sống, thay đổi môi trường, thay đổi chế độ ẩm thực như hiện nay là một trong những nguyên nhân rất quan trọng gây ra bệnh. Thông thường, bệnh nhân có tiền căn xơ vữa động mạch và cao huyết áp từ trước, đột nhiên đau thắt ngực bên trái lan xuống cánh tay trái, bệnh nhân mệt nhiều, đổ mồ hôi lạnh, đau càng ngày càng tăng, có những cơn đau ngắn thoáng qua trong trường hợp bệnh nhân bị cơn đau thắt ngực không ổn định hay đau nhiều liên tục trong bệnh nhồi máu cơ tim cấp.
Cách phòng ngừa cũng không có gì quá phức tạp, chỉ cần bệnh nhân chú ý đến sức khỏe của mình, nên đi khám kiểm tra sức khỏe định kỳ, nếu có dấu hiệu của xơ vữa động mạch và cao huyết áp, cũng như thỉnh thoảng có đau ngực bên trái nhất là khi phải làm việc gắng sức. Nên duy trì cân nặng ở mức độ cho phép, tránh béo phì, không ăn nhiều thức ăn có chất béo, không hút thuốc lá, điều trị tốt bệnh đái tháo đường nếu có và uống rượu vừa phải. Bệnh nhân nên đo điện tim, nếu thấy dấu hiệu của thiểu năng động mạch vành hay thiếu máu cơ tim cần phải đi khám bệnh và điều trị ở bác sĩ chuyên khoa tim mạch để được sử dụng thuốc hạ huyết áp, chống xơ vữa động mạch, giãn động mạch vành, tăng cường oxy cho cơ tim và thuốc chống hình thành cục máu đông trong động mạch vành.


Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Đặt ống ghép nội mạch trong điều trị phình động mạch chủ

Khi túi phình có kích thước ngang lớn hơn 50mm hoặc mỗi năm đường kính túi phình tăng hơn 5mm thì cần được điều trị triệt để. Đối với phình hình túi thì chỉ cần đường kính lớn hơn 30mm đã cần can thiệp.
Hiện nay, hầu hết các trung tâm tim mạch trong nước đều điều trị bệnh lý này bằng phẫu thuật. Phẫu thuật mổ mở, cắt bỏ đoạn phình và thay bằng đoạn động mạch nhân tạo dưới sự hỗ trợ của máy tuần hoàn ngoài cơ thể. Đây là phẫu thuật khó, đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm của các thầy thuốc. Điều trị phẫu thuật có tỉ lệ tử vong chu phẫu 5-35% và tỉ lệ biến chứng vẫn còn cao, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi và có các tổn thương khác phối hợp. Chăm sóc sau mổ cũng nặng nề và khá phức tạp.
Tuy nhiên, cùng với tiến bộ của y học, đặc biệt tiến bộ của ngành tim mạch can thiệp, bệnh nhân có thể không cần phải mổ. Một phương pháp điều trị đặc biệt sẽ thay thế phương pháp mổ truyền thống, gọi là đặt ống ghép nội mạch qua da. Đây là can thiệp ít xâm lấn với kết quả ban đầu tốt.
Đặt ống ghép nội mạch là phương pháp điều trị thay thế an toàn và hiệu quả so với phương pháp phẫu thuật.
Để đặt ống ghép nội mạch an toàn cần phải đánh giá kích thước của động mạch đầu xa làm đường dẫn có đủ hay không, đường đi của động mạch chủ có bị quặn xoắn hay bị gập góc và quan trọng nhất là hình thái học của túi phình có thích hợp hay không. Các bác sĩ can thiệp sẽ luồn ống ghép qua da vào vùng mạch bị phình và ống ghép này sẽ thay thế đoạn mạch bệnh lý. Bệnh nhân sẽ hồi phục nhanh chóng, không cần nằm viện lâu, theo dõi chăm sóc sau can thiệp cũng nhẹ nhàng. Tuy nhiên, chi phí cho can thiệp này còn cao so với thu nhập người dân của nước ta. Phương pháp đã đạt được kết quả rất khả quan và mở ra một hướng đi mới cho những bệnh nhân có bệnh lý phình động mạch chủ ngực.