Hiển thị các bài đăng có nhãn thấp khớp cấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thấp khớp cấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Đặt ống ghép nội mạch trong điều trị phình động mạch chủ

Khi túi phình có kích thước ngang lớn hơn 50mm hoặc mỗi năm đường kính túi phình tăng hơn 5mm thì cần được điều trị triệt để. Đối với phình hình túi thì chỉ cần đường kính lớn hơn 30mm đã cần can thiệp.
Hiện nay, hầu hết các trung tâm tim mạch trong nước đều điều trị bệnh lý này bằng phẫu thuật. Phẫu thuật mổ mở, cắt bỏ đoạn phình và thay bằng đoạn động mạch nhân tạo dưới sự hỗ trợ của máy tuần hoàn ngoài cơ thể. Đây là phẫu thuật khó, đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm của các thầy thuốc. Điều trị phẫu thuật có tỉ lệ tử vong chu phẫu 5-35% và tỉ lệ biến chứng vẫn còn cao, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi và có các tổn thương khác phối hợp. Chăm sóc sau mổ cũng nặng nề và khá phức tạp.
Tuy nhiên, cùng với tiến bộ của y học, đặc biệt tiến bộ của ngành tim mạch can thiệp, bệnh nhân có thể không cần phải mổ. Một phương pháp điều trị đặc biệt sẽ thay thế phương pháp mổ truyền thống, gọi là đặt ống ghép nội mạch qua da. Đây là can thiệp ít xâm lấn với kết quả ban đầu tốt.
Đặt ống ghép nội mạch là phương pháp điều trị thay thế an toàn và hiệu quả so với phương pháp phẫu thuật.
Để đặt ống ghép nội mạch an toàn cần phải đánh giá kích thước của động mạch đầu xa làm đường dẫn có đủ hay không, đường đi của động mạch chủ có bị quặn xoắn hay bị gập góc và quan trọng nhất là hình thái học của túi phình có thích hợp hay không. Các bác sĩ can thiệp sẽ luồn ống ghép qua da vào vùng mạch bị phình và ống ghép này sẽ thay thế đoạn mạch bệnh lý. Bệnh nhân sẽ hồi phục nhanh chóng, không cần nằm viện lâu, theo dõi chăm sóc sau can thiệp cũng nhẹ nhàng. Tuy nhiên, chi phí cho can thiệp này còn cao so với thu nhập người dân của nước ta. Phương pháp đã đạt được kết quả rất khả quan và mở ra một hướng đi mới cho những bệnh nhân có bệnh lý phình động mạch chủ ngực.


Trái tim thường... già trước tuổi

Các nhà nghiên cứu của Mỹ nói rằng, 3/4 số người lớn ở Mỹ có “tuổi tim” lớn hơn tuổi đời của họ. Điều này khiến họ tăng nguy cơ bị đau tim và đột quỵ. TS. Thomas Frieden, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) cho biết: “Trái tim của bạn thường già hơn tuổi bạn. Đó là thực trạng của hầu hết người lớn ở Mỹ”.
CDC tính toán tuổi của tim dựa vào các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như hút thuốc, tăng huyết áp, đái tháo đường và béo phì. Các nhà nghiên cứu của CDC đã sử dụng dữ liệu về nguy cơ bệnh tim trên khắp nước Mỹ cũng như thông tin từ các nghiên cứu bệnh tim đang tiến hành. Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, gần 69 triệu người lớn tuổi từ 30 đến 74 có tuổi tim lớn hơn tuổi thực tế của họ. Nghiên cứu cũng cho thấy những khác nhau đáng kể về giới tính và những yếu tố khác. Thí dụ, tuổi tim trung bình của đàn ông lớn hơn tuổi của họ là 8 năm trong khi con số này đối với phụ nữ là 5 năm.
Nghiên cứu cũng tiến hành đối với tất cả các chủng tộc và thấy, tuổi tim “già” nhất thuộc người Mỹ gốc Phi, trung bình là 11 năm so với tuổi của họ (đàn ông và đàn bà như nhau).
Trả lời về mối lo ngại của mọi người về tuổi tim, TS. Frieden nói rằng, để giảm bớt tuổi tim và rủi ro bệnh tim mạch, mọi người cần bỏ hút thuốc và kiểm soát huyết áp. TS. Frieden nói: “Không bao giờ là muộn để làm “trẻ” trái tim của bạn”.


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Virut - nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim

Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc ly giải của tế bào cơ tim gây nên do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân. Các quá trình bệnh lý này ảnh hưởng đến cơ tim kèm theo hoặc không kèm theo triệu chứng toàn thân. Những biểu hiện thường gặp nhất là triệu chứng của suy tim, tuy nhiên đôi khi là rối loạn nhịp tim hoặc đột tử là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Cho đến thời điểm hiện nay,viêm cơ tim vẫn là một trong những bệnh lý nguy hiểm.
Những năm trước đây, thấp khớp cấp là nguyên nhân thường gặp của viêm cơ tim. Ngày nay, chúng ta biết thêm nhiều nguyên nhân khác như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, một số hóa chất và thuốc có khả năng gây dị ứng hoặc nhiễm độc, các bệnh hệ thống... Virut là nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim hiện nay, trong đó hay gặp là Coxsakie virus B, Adenovirus, virut cúm, virut dengue và virut viêm gan C đều có thể gây viêm cơ tim. Virut HIV có khả năng xâm nhập cơ tim trực tiếp. Tỷ lệ mắc bệnh không được biết rõ do có nhiều trường hợp viêm cơ tim nhẹ tự khỏi nên người bệnh và gia đình không nhận thấy, do vậy cũng không đến bệnh viện khám. Viêm cơ tim do virut thường xảy ra rải rác, tuy nhiên đôi khi cũng xảy ra thành dịch.
Virut - nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim
Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc ly giải của tế bào cơ tim do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân.
Viêm cơ tim do virut có biểu hiện bằng một tình trạng viêm rất đột ngột, đặc trưng bởi sự thâm nhiễm tế bào viêm, thoái hóa và hoại tử tế bào cơ tim, sau đó là quá trình xơ hóa của cơ tim. Một hình thức khác của viêm cơ tim do virut là ARN hoặc ADN, vật chất di truyền của virut, có thể tồn tại lâu dài trong cơ tim. Cơ thể chống lại tình trạng này bằng những phản ứng miễn dịch. Tuy nhiên những phản ứng miễn dịch này cùng với sự phát triển không bình thường của virut lại làm suy giảm chức năng tim mà không có sự tiêu tế bào rõ rệt. Hậu quả cuối cùng của các quá trình bệnh lý phức tạp trên, thường là bệnh cơ tim giãn.
Bệnh nhân nhập viện hầu hết đã có biến chứng nặng
Hầu hết các virut thâm nhập cơ thể qua đường hô hấp trên hay đường tiêu hóa. Cơ thể con người dễ bị nhiễm virut hơn khi bị suy dinh dưỡng, tập luyện hay làm việc quá sức, trẻ nhỏ hay người lớn tuổi, căng thẳng stress... do làm thay đổi đáp ứng tự miễn dịch khi bị nhiễm virut. Bệnh nhân thường không để ý do vậy chậm trễ nhiều ngày đến nhiều tuần trước khi triệu chứng ở tim xuất hiện như suy tim ứ huyết, rối loạn nhịp tim (đột tử) và biến chứng thuyên tắc mạch. Biểu hiện lâm sàng tùy thuộc vào lứa tuổi bị bệnh và bản chất cấp tính hay mạn tính của tình trạng nhiễm virut.
Trẻ sơ sinh thường biểu hiện bằng sốt cao, suy tim, suy hô hấp nặng, tím tái, tiếng tim nghe xa xăm, mạch nhanh nhỏ, hở van hai lá do vòng van bị giãn rộng, nhịp ngựa phi, nhiễm toan và sốc. Chụp Xquang tim phổi thường thấy bóng tim to, phổi ứ huyết, có thể có hình ảnh tràn dịch màng phổi hai bên. Điện tâm đồ có thể thấy nhịp nhanh xoang, điện thế giảm, bất thường về đoạn ST cũng như sóng T. Đôi khi rối loạn nhịp tim là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Lúc này các triệu chứng như sốt và tim to gợi ý viêm cơ tim cấp.

Ở trẻ lớn hơn, viêm cơ tim cấp cũng biểu hiện bằng suy tim ứ huyết cấp, nhưng thường gặp hơn là suy tim tiến triển từ từ hoặc tình trạng nhịp nhanh thất xảy ra đột ngột. Những bệnh nhân này, tình trạng nhiễm virut cấp tính đã qua và thường có tình trạng bệnh cơ tim giãn. Đôi khi bệnh nhân có triệu chứng giống như bị nhồi máu cơ tim cấp tính: đoạn ST chênh lên, tăng men tim CK, CK-MB, rối loạn vận động vùng, nhưng chụp động mạch vành bình thường. Chẩn đoán dựa vào sinh thiết cơ tim. Rối loạn vận động vùng sẽ hồi phục theo thời gian.