Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh mạch vành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh mạch vành. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

Chế độ ăn dành cho người điều trị suy tim


Ở những người mắc bệnh suy tim cần tăng cường ăn nhiều rau quả để tạo môi trường kiềm, chống lại tình trạng toan của cơ thể bởi trong rau quả chứa nhiều kali nên có tác dụng lợi tiểu và tốt cho bệnh nhân suy tim. 
Nguyên tắc ăn uống cho người bị suy tim
- Nguyên tắc quan trọng dành cho người bị suy tim và đang điều trị suy tim là giảm lượng muối và nước đưa vào cơ thể. Khi lượng muối được hạn chế đưa vào thì cơ thể giảm phù, giảm lượng huyết lưu thông và tăng bài tiết các chất thải. 
- Số lượng nước uống ngoài bữa ăn bằng số lượng nước tiểu trong 24h cộng thêm 300 ml.
Chế độ ăn dành cho người điều trị suy tim - Ảnh 1Người điều trị suy tim nên ăn nhạt hoàn toàn (Ảnh minh họa)

- Lượng muối tối đa cho 1 ngày là từ 0,2 đến 0,5g.
- Không dùng mỳ chính, bột canh để chế biến thức ăn cho người bị suy tim bởi trong đó có chứa nhiều natri dưới dạng natri glutamat có hại cho tim. 
- Chọn thực phẩm ít natri như gạo trắng, khoai củ, rau, quả ngọt, thịt, cá, trứng ăn cả lòng trắng.
- Sữa nguyên kem, đồ hộp, các thức ăn nướng, rán, xào, muối, ướp, bánh mỳ cũng không nên đưa vào sử dụng vì chứa nhiều muối.
Đối với chế độ ăn nhạt vừa thì không dùng thức ăn giàu muối như bánh mỳ, sữa nguyên kem, đồ nướng, ướp sẵn,...
Chế độ ăn nhạt hẳn, nhạt vừa hay không tùy thuộc vào bệnh cảnh lâm sàng mà áp dụng, bên cạnh đó còn dựa theo đáp ứng của từng người bệnh để thay đổi từ chế độ này sang chế độ khác.

Chế độ ăn dành cho người điều trị suy tim - Ảnh 2Thực đơn dinh dưỡng cho người điều trị suy tim bạn có thể tham khảo (Ảnh: báo Sức khỏe và đời sống)

Tổng số năng lượng/ngày nên có cho:
+ Chế độ ăn nhạt hoàn toàn: 1.200kcal
+ Chế độ ăn nhạt: 1.400kcal
+ Chế độ ăn nhạt vừa: 1.600kcal.



Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

7 bước đơn giản giảm suy tim

Bảng kiểm 7 bước này được thiết kế bởi Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) với mục đích cải thiện sức khỏe cộng đồng thông qua việc giáo dục thay đổi lối sống.

Những người thực hiện càng nhiều bước trong số 7 bước đơn giản thay đổi lối sống thì ít bị nguy cơ suy tim, theo kết quả của một nghiên cứu mới vừa được đăng tải trên tạp chí chuyên ngành về tim mạch.
Bảng kiểm 7 bước này được thiết kế bởi Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) với mục đích cải thiện sức khỏe cộng đồng thông qua việc giáo dục thay đổi lối sống.
Những nghiên cứu trước đây cho thấy việc tuân thủ các bước này có thể giúp giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Trong nghiên cứu mới trên 3.201 người tham gia, tuổi trung bình là 69 được theo dõi trong vòng 12 năm, đã cho thấy những người càng tuân thủ đủ 7 bước có thể giảm được 50% nguy cơ suy tim khi so với những người ít tuân thủ các bước thay đổi lối sống.
7 bước này gồm:
1. Kiểm soát tốt huyết áp
2. Kiểm soát tốt lượng mỡ trong máu
3. Kiểm soát tốt đường huyết
4. Tăng cường hoạt động thể lực
5. Thực hiện chế độ ăn có lợi cho sức khỏe
6. Kiểm soát tốt cân nặng
7. Không hút thuốc lá.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Đã có thể thay van động mạch chủ qua da

Phẫu thuật thay van động mạch chủ (ĐMC) là tiêu chuẩn điều trị vàng cho các trường hợp hẹp van ĐMC có triệu chứng.
Phẫu thuật thay van động mạch chủ (ĐMC) là tiêu chuẩn điều trị vàng cho các trường hợp hẹp van ĐMC có triệu chứng. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân hẹp van ĐMC đến bệnh viện có kèm theo nhiều bệnh lý trầm trọng khác, làm tăng nguy cơ tử vong liên quan đến phẫu thuật hay không thể phẫu thuật được. Sự xuất hiện của kỹ thuật thay van ĐMC qua da trở thành giải pháp tối ưu nhất cho những bệnh nhân này, đồng thời khẳng định một bước tiến mới của tim mạch can thiệp.
Van Corevalve Revalving.
Niềm hy vọng của bệnh nhân có nguy cơ cao
Một số yếu tố làm tăng nguy cơ và có ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong khi phẫu thuật thay van ĐMC. Có 5 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong bao gồm bệnh nhân lớn tuổi (trên 80 tuổi), suy tim mức độ nặng (> độ 3), chức năng tâm thu thất trái giảm nặng (EF < 30%), tiền sử nhồi máu cơ tim, thay van ĐMC cấp cứu hay kết hợp cùng phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành. Thêm vào đó, một số điều kiện phẫu thuật làm cho thay van ĐMC có thách thức nhiều hơn và nguy cơ phẫu thuật cao hơn như: phẫu thuật lại trên bệnh nhân đã phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành; ĐMC lên bị vôi hoá nặng, bị xơ vữa nặng hay mỏng manh dễ vỡ; trung thất bị chiếu xạ hay cơ tim bị tổn thương do tia xạ.
Hiện nay, nhiều bệnh nhân hẹp van ĐMC đến bệnh viện có kèm theo nhiều bệnh lý trầm trọng khác, đặc biệt là bệnh động mạch vành, đã phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành và có tỷ lệ cao bị suy tim trái. Do vậy, kỹ thuật thay van ĐMC qua da mang đến một phương pháp ít xâm lấn hơn vì tránh được phải mở lồng ngực, tuần hoàn ngoài cơ thể, do vậy mang đến một phương pháp điều trị thay thế cho các bệnh nhân cần phải thay van ĐMC nhưng có nguy cơ quá cao.
Sự kết hợp giữa ngoại khoa, can thiệp và gây mê hồi sức sẽ đem lại kết quả tốt nhất
Hiện nay có hai loại dụng cụ được sử dụng trên thế giới:     Van Edwards SAPIEN bao gồm 3 lá van làm bằng màng ngoài tim của bò được khâu gắn trên một khung giá đỡ (stent) hình ống làm bằng thép không gỉ và hệ thống van Corevalve Revalving bao gồm 3 lá van được làm bằng màng ngoài tim lợn gắn trên một khung giá đỡ (stent) tự nở được làm bằng notinol, một kim loại nhớ hình.
Thay van ĐMC qua da được tiến hành dưới màn huỳnh quang tăng sáng và dưới sự hướng dẫn của siêu âm tim qua thực quản. Lý tưởng là thủ thuật được tiến hành tại một phòng mổ ghép bao gồm đầy đủ các phương tiện kỹ thuật can thiệp tim mạch và phẫu thuật tim mạch. Một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các nhà phẫu thuật tim mạch, can thiệp tim mạch và gây mê là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự thành công của thủ thuật. Tại nhiều trung tâm tim mạch lớn trên thế giới, thay van ĐMC qua da đã được thực hiện một cách thường qui hằng ngày. Tỷ lệ thành công của thủ thuật và tỷ lệ sống còn đã tăng lên một cách nhanh chóng do kinh nghiệm của phẫu thuật viên, sự cải tiến kỹ thuật, sự thiết kế tinh vi của các dụng cụ và sự lựa chọn các bệnh nhân phù hợp hơn.
Các bệnh nhân được thay van ĐMC qua da sẽ được khám xét một cách cẩn thận, tổng thể để lựa chọn đường vào cấy ghép van: qua động mạch đùi, qua động mạch dưới đòn, hay qua mỏm tim. Lượng giá cẩn thận các yếu tố nguy cơ và lựa chọn các dụng cụ phù hợp cho từng người bệnh. Bệnh động mạch vành kèm theo cần được can thiệp trước khi thay van.
Thay van ĐMC qua mỏm tim.
Cần sẵn sàng các biện pháp dự phòng biến chứng khi làm thủ thuật
Một phòng mổ ghép với đầy đủ các phương tiện chụp mạch số hoá và hệ thống theo dõi huyết động rất cần thiết khi tiến hành các thủ thuật phức tạp. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh có chất lượng cao rất quan trọng. Siêu âm tim qua thực quản cung cấp những thông tin chi tiết về vị trí chính xác của các dụng cụ. Giúp phân biệt giữa hở trung tâm hay cạnh van ĐMC sau khi đặt van và giúp phát hiện các biến chứng như tràn dịch màng tim cấp trước khi nó gây ra các ảnh hưởng đến huyết động. Mặc dù ít khi cần đến nhưng máy tim phổi nhân tạo phải được đặt ở chế độ sẵn sàng để đề phòng các biến chứng không lường trước có thể xảy ra (tắc lỗ vào của động mạch vành, suy tim trái cấp tính). Các phương tiện để xử trí các biến chứng, bóng nong và stent động mạch vành, các dụng cụ để chọc tháo dịch màng ngoài tim cũng cần sẵn sàng.
Bản thân thủ thuật thay van ĐMC qua da đã trở nên rất an toàn và có thể dự đoán trước được nhờ sự phối hợp cẩn thận và động bộ giữa từng thành viên trong nhóm can thiệp: mỗi bước của thủ thuật được phân công trước và thời điểm chính xác tiến hành tạo nhịp tim nhanh khi bơm bóng nong van ĐMC và bơm bóng để cấy van ĐMC là điều vô cùng quan trọng. Cần tập luyện trước khi tiến hành thủ thuật để đảm bảo các thao tác được chính xác và ngay lập tức.
Tuy nhiên, cấy van ĐMC tự nở có thể được tiến hành  một cách không vội vàng, cho phép thời gian dư dật để hiệu chỉnh vị trí  trước khi cấy van vì dòng máu chỉ bị ảnh hưởng trong một khoảng thời gian rất ngắn trong khi tiến hành thủ thuật. Với cấy van ĐMC bằng bóng thì vị trí đặt van phải được lựa chọn với độ chính xác rất cao. Việc di chuyển của van theo sự co bóp của tim trong quá trình thay van có thể được loại trừ bằng cách tạo nhịp tim với tần số rất nhanh. Cần có hai phẫu thuật viên cùng phối hợp với nhau một cách chặt chẽ trong khi tiến hành cấy van. Trong khi phẫu thuật viên thứ nhất chịu trách nhiệm bơm bóng thì phẫu thuật viên thứ hai đảm bảo duy trì dụng cụ ở đúng vị trí cần đặt.
Vị trí chọc mạch ở động mạch đùi được khâu lại bằng thiết bị khâu mạch qua da. Trong thời gian tới, việc giảm kích thước của các dụng cụ giúp làm giảm các biến chứng liên quan đến thủ thuật và tăng tỉ lệ thành công cũng như chỉ định của thủ thuật.

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Dấu hiệu nhận biết cơn đột quỵ sắp đến

Theo BS Tăng Quốc Chí, chuyên khoa Ngoại thần kinh, BV Tâm Trí Sài Gòn, nhận biết một người bị tai biến mạch máu não qua những dấu hiệu: Bỗng dưng phát âm không rõ, yếu một tay hoặc chân, mắt mờ một bên, miệng méo, mất cảm giác ở một bộ phận. Có thể kiểm tra bằng cách yêu cầu bệnh nhân nói, cười, nhấc tay hoặc chân lên, nhắm mắt, chu miệng... sẽ thấy rõ tình trạng yếu cơ hoặc méo miệng, mờ mắt.
BS Chí khuyến cáo không được châm kim vào đầu ngón tay, nặn chanh vào miệng hay cho nạn nhân uống nước sẽ dễ bị sặc, ngạt thở. Nên đặt bệnh nhân nằm nghiêng hoặc ngửa với đầu cao 30 độ, nghiêng sang một bên, nới lỏng quần áo trong và ngoài. Giữ không khí thông thoáng, giải tán đám đông xung quanh. Đưa bệnh nhân đi cấp cứu càng sớm càng tốt.
BS Chí từng tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị đột quỵ trong nhà vệ sinh ngã xuống dẫn đến chấn thương. Trường hợp này khi phát hiện,người nhà không nên di chuyển nạn nhân mà cần giữ cho đầu họ nghiêng sang một bên rồi gọi 115 ngay. Trong quá trình đó, hãy nhờ nhân viên y tế tư vấn qua điện thoại cách sơ cấp cứu ban đầu để hạn chế thương tổn, biến chứng.
Theo GS.TS Lê Văn Thành, Chủ tịch Hội Phòng chống Tai biến mạch máu não Việt Nam, đột quỵ não đứng đầu các nguyên nhân gây tàn tật, xếp thứ ba trong nhómcác bệnh gây tử vong nhiều nhất (chỉ sau ung thư và tim). Thống kê tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 225.000 người bị đột quỵ, trong đó tỷ lệ bệnh nhân được cứu sống là 6,08 trên 1.000 người, tử vong 1,31 trong 1.000 người.
Xu hướng bệnh nhân đột quỵ ngày càng trẻ hóa không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, đặc biệt gia tăng nhanh ở các nước đang phát triển. Nếu như trước đây bệnh ghi nhận nhiều ở nhóm người già 50-60 tuổi trở lên thì hiện nay số bệnh nhân tuổi 40 nhập viện vì bệnh này ngày càng gia tăng, trong đó nam nhiều hơn nữ. Ước tính trung bình cứ 6 người đang sống có ít nhất một trường hợp bị đột quỵ một lần trong đời.
ngay-cang-nhieu-nguoi-tre-bidot-quy
Ảnh minh họa: Health
Giáo sư Thành cho rằng có nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh. Trong đó có vấn đề di truyền, tuổi già, riêng ở nhóm người trẻ mắc bệnh được cho là liên quan đến lối sống, ăn uống không lành mạnh và lười vận động. 
Tai biến mạch máu não được ghi nhận gia đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển người dân phải làm việc căng thẳng trong khi chế độ ăn uống nhiều chất béo, thói quen hút thuốc, lạm dụng bia rượu, tình trạng thừa cân béo phì do ít vận động ngày càng tăng. Các bệnh nhân có tiền sử tiểu đường, huyết áp không ổn định, bị xơ vữa mạch máu cũng dễ dẫn đến đột quỵ.
Đột quỵ não (hay tai biến mạch máu não) xảy ra khi việc cung cấp máu lên não bị ngừng trệ đột ngột. Bệnh có hai loại: Nhồi máu não (do mạch máu bị tắc) và xuất huyết não (do vỡ mạch, máu tràn ra chèn ép các vùng xung quanh). Khi tai biến xảy ra ở vùng nào thì các tế bào thần kinh ở vùng đó có nguy cơ bị tổn thương, sau khi điều trị có thể để lại di chứng như yếu hoặc liệt nửa người, méo miệng, rối loạn tri giác, rối loạn phát âm, thậm chí chết não nếu hôn mê kéo dài do không được điều trị kịp thời.
Có nhiều cách điều trị đột quỵ, tùy vào nguyên nhân, bác sĩ sẽ chỉ định biện pháp phù hợp. Trường hợp xuất huyết não nhẹ có thể điều trị bằng can thiệp nội mạch. Nếu xuất huyết não nhiều phải mổ não để hút bớt máu. Bệnh nhân nhồi máu não có thể điều trị bằng X-quang can thiệp mạch. 
Đầu tiên bác sĩ loại bỏ cục máu đông hoặc mảng xơ vữa, sau đó luồn vào lòng mạch một giá đỡ (stent) để nong mạch giúp máu lưu thông trở lại. Bên cạnh đó có thể sử dụng thuốc tiêu sợi huyết qua đường động mạch để lấy huyết khối. Một phương pháp hiện đại nhưng rất tốn kém là dùng dụng cụ cơ học Solitaire stent vừa giúp giải phóng huyết khối vừa nâng đỡ thành động mạch.
GS Thành lưuý khoảng thời gian vàng để cấp cứu đột quỵ từ 3 đến 4 tiếng rưỡi. Đó là thời lượng não có thể cầm cự chịu đựng được tổn thương, càng xa quãng thời gian này, vùng thương tổn càng tỏa rộng. Ước tính cứ một phút trôi qua sẽ có 2 triệu tế bào thần kinh bị hủy hoại. Công tác cấp cứu đột quỵ rất đặc thù, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa nhiều chuyên khoa khác nhau. Việc can thiệp kịp thời, đúng cách mang lại rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân, giảm tỷ lệ tử vong và tàn tật, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí. Sau điều trị, bệnh nhân cần kiên trì tập vật lý trị liệu, uống thuốc và vận động theo hướng dẫn của bác sĩ sẽ giúp cải thiện di chứng và sớm trở về với cuộc sống bình thường.
Hiện nay cả nước đã thành lập được 25 đơn vị chuyên cấp cứu đột quỵ tại các bệnh viện ở thành phố lớn. Tuy nhiên ở các bệnh viện địa phương, nhất là tuyến quận, huyện chưa được bố trí lực lượng này. Giáo sư Thành cho biết, Hội Phòng chống Tai biến mạch máu não đã làm việc với lãnh đạo Bộ Y tế để đề xuất triển khai rộng rãi mô hình trung tâm đột quỵ ở các bệnh viện cấp tỉnh và trung ương, các đội đột quỵ ở cấp quận, huyện. 
Trong bối cảnh số bệnh nhân tai biến mạch máu não ngày càng tăng, giáo sư Thành kỳ vọng nếu việc triển khai các mô hình cấp cứu đột quỵ từ cấp địa phương đến trung ương sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Đề xuất này đang được Bộ xem xét.
Để phòng bệnh, giáo sư Thành khuyên mọi người nên có chế độ ăn uống và vận động lành mạnh. Không ăn nhiều chất béo, cai thuốc lá, không lạm dụng bia rượu, vận động phù hợp, ngủ đủ, tránh để bị béo phì. Riêng đối với bệnh nhân cao huyết áp phải theo dõi và tuân thủ điều trị, tránh làm việc gắng sức, tránh căng thẳng hoặc xúc động quá. Bệnh nhân tiểu đường nên tuân thủ điều trị liên tục, chú ý vấn đề xơ vữa mạch máu. Người bị xơ vữa mạch máu cần được điều trị giảm rối loạn mỡ máu.
Đặc biệt những người từng bị tai biến mạch máu não có thể tái phát trong vòng 6 tháng đến 3 năm, do đó cần đi khám định kỳđể tìm nguyên nhân và điều trị dứt điểm. Trong trường hợp này thầy thuốc có thể tư vấn cho dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu để tránh hình thành cục máu đông trong lòng động mạch.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Bí kíp bảo vệ tim trong mùa lạnh

Suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó cơ tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể. Triệu chứng phổ biến của suy tim là thở dốc, bắp chân và bàn chân sưng, cảm giác mệt mỏi kiệt sức, tim đập nhanh, chóng mặt.
bi-kip-bao-ve-tim-trong-mua-lanh
Ảnh: squarespace
Theo Times of India, mùa đông là thời điểm xuất hiện nhiều ca suy tim. Lý do là thời tiết lạnh cùng môi trường ô nhiễm khiến vùng ngực dễ bị nhiễm trùng, lưu thông máu bị cản trở do động mạch vành co lại và huyết áp tăng, cơ thể không bài tiết mồ hôi dẫn đến phổi tích trữ nước.
Để bảo vệ tim trong mùa lạnh, bạn hãy lưu ý những điều dưới đây:
- Chú ý giờ giấc tập thể dục và thay đổi nếu cần thiết để tránh lúc nhiệt độ xuống thấp.
- Uống nước và ăn muối vừa phải.
- Thường xuyên theo dõi huyết áp và can thiệp ngay nếu huyết áp lên cao.
- Tiêm vắc xin phòng cảm cúm và viêm phổi nếu có thể. Trong trường hợp bị các bệnh nhiễm trùng, bạn hãy đi khám bác sĩ để được điều trị kịp thời và sử dụng hợp lý thuốc kháng sinh.
- Nếu đang dùng thuốc, không được tự ý bỏ kể cả khi bạn cảm thấy đã khỏe hơn. Thông báo ngay cho bác sĩ nếu xuất hiện tác dụng phụ.
Ngoài ra, bạn có thể kiểm tra sức khỏe tim tại nhà bằng hai cách sau:
- Đo lượng chất lỏng hấp thụ và thải ra: Nước tiểu ít hơn nhiều so với lượng nước uống vào báo hiệu phổi đang tích trữ nước và có thể dẫn đến suy tim.
- Theo dõi cân nặng: Nếu tăng 2 kg trong vòng 3 ngày, bạn cần được bác sĩ thăm khám bởi cơ thể đã dư thừa chất lỏng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Những tình huống khẩn cấp ở người cao huyết áp

Người cao huyết áp trong một số tình huống nếu không cấp cứu kịp sẽ dễ mất mạng. Đó là những trường hợp nào.


Nhung tinh huong khan cap o nguoi cao huyet apẢnh minh họa
Tăng huyết áp (THA) cấp cứu thường trên 200/100mmHg. Các tình huống thường gặp trong THA cấp cứu: Bệnh não do THA. THA và nhồi máu cơ tim. THA và đau ngực không ổn định. THA kèm tách thành động mạch chủ. Suy tim trái cấp do THA. THA kèm xuất huyết dưới nhện và xuất huyết não. Cơn THA trong u tủy thượng thận. THA do dùng các thuốc kích thích (cocain, amphetamin...). THA quanh phẫu thuật; THA trong tình trạng sản giật và tiền sản giật.
Trong các trường hợp THA cấp cứu, cần được điều trị giảm huyết áp nhanh chóng, nhưng không cần trở về bình thường ngay, nhất là ở những người cao huyết áp bị tai biến mạch não kèm theo. Trường hợp bệnh nhân bị tách thành động mạch chủ cần đưa huyết áp xuống mức thấp nhất có thể. 

Sau khi qua cơn THA cấp cứu, bệnh nhân cần tiếp tục theo dõi và điều trị tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ, đánh giá lại tình trạng toàn thân, các tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ kèm theo để được theo dõi, tư vấn và điều trị lâu dài, tránh các biến chứng.
Tổn thương các cơ quan đích có thể gặp trong tăng huyết áp bao gồm: Tim (cấp tính như phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp. Mạn tính như dày thất trái, suy vành mạn, suy tim...). Mạch não (cấp tính như tai biến mạch não, bệnh não do THA... 

Mạn tính gồm tai biến mạch não, tai biến mạch não thoáng qua). Thận: Đái máu, đái ra protein, suy thận. Đáy mắt: Phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ... Bệnh động mạch ngoại vi: Tắc động mạch chi, tắc động mạch cảnh...

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Triệu chứng bệnh mạch vành

Với bệnh nhân có bệnh động mạch vành, triệu chứng đầu tiên thường là cơn đau thắt ngực. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không đau ngực hoặc cơn đau không điển hình, nhất là ở những bệnh nhân đái tháo đường, tăng huyết áp. Nếu nghi ngờ có bệnh mạch vành, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh làm một số thăm dò sau:
Điện tâm đồ là biện pháp đơn giản nhất để tìm các dấu hiệu của bệnh mạch vành. Siêu âm tim: Siêu âm tim thường chỉ phát hiện được bệnh mạch vành ở giai đoạn muộn khi bệnh đã gây ra các rối loạn vận động buồng tim. Các thăm dò chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính đa dãy động mạch vành, chụp cộng hưởng từ tim ngày càng được ứng dụng rộng rãi để chẩn đoán sớm động mạch vành..
Nghiệm pháp gắng sức là biện pháp kinh điển để chẩn đoán bệnh mạch vành vì khi nghỉ ngơi thì động mạch vành dù bị hẹp vẫn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ôxy của cơ thể. Khi phải gắng sức, nhu cầu ôxy cơ thể tăng lên, và khi đó mới lộ ra các dấu hiệu thiếu máu cơ tim.
Để phòng bệnh, cần khám sức khỏe định kỳ để kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, ngoài ra cần có chế độ ăn uống hợp lý, thể dục, thể thao đều đặn, không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu, bia, tránh căng thẳng.




Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác

Có nhiều nguyên nhân gây nên suy tim như:
1. Nhồi máu cơ tim cũ: khi động mạch vành cung cấp máu nuôi dưỡng cơ tim có một chỗ bị tắc gây nhồi máu, một số vùng cơ tim chết đi, thành sẹo làm giảm khả năng co bóp của quả tim.
2. Tăng huyết áp mạn tính làm quả tim phải làm việc quá sức trong một thời gian dài do phải bóp với một lực mạnh hơn để thắng được sức cản lớn trong lng mạch (do tăng huyết áp), lâu dần sẽ làm tim bị suy.
3. Bệnh van tim gây hở hoặc hẹp van tim, khi đó hoặc tim phải bóp nhiều hơn (do hở van tim) hoặc bóp mạnh hơn (do hẹp van tim), lâu ngày cũng sẽ gây suy tim.
4. Bệnh tim bẩm sinh
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
5. Bệnh cơ tim do rượu: uống quá nhiều rượu làm co bóp cơ tim bị yếu đi.
6. Viêm cơ tim nhất là viêm cơ tim do siêu vi trùng
7. Do rối loạn nhịp tim nhanh kéo dài, mạn tính gây suy tim.
8. Suy tim cũng hay gặp ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, dù không phải đái tháo đường là nguyên nhân gây bệnh duy nhất
9. Suy tim còn gặp ở bệnh nhân uống thuốc hoá chất để điều trị ung thư hoặc một số loại thuốc đặc biệt khác
Tuy nhiên cũng có đến 40% không thể tìm được một nguyên nhân cụ thể nào gây suy tim.
Suy tim có thể có nhiều biểu hiện khác nhau; trong đó khó thở khi làm việc nặng có thể là một trong những dấu hiệu gợi ý. Tuy nhiên không phải cứ khó thở khi làm việc nặng là có suy tim, bởi nhiều khi rất khó khăn để phân biệt được chính xác nguyên nhân của các dấu hiệu trên là do suy tim hay do bệnh ở phổi hoặc do tình trạng khác.
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
Phát hiện suy tim cách nào?
Suy tim thường là hậu quả của nhiều bệnh tim gây ra, vì thế thường phải làm nhiều xét nghiệm để chẩn đoán. Các bác sĩ hỏi tiền sử bệnh, tìm các dấu hiệu như phù mắt cá chân, dùng ống nghe để nghe tiếng tim hoặc phát hiện có nước trong phổi. Nhiều xét nghiệm được dùng để khẳng định chẩn đoán, tìm nguyên nhân gây ra suy tim và đánh giá mức độ nặng của bệnh.
Điện tim không dùng để chẩn đoán suy tim, nghĩa là không thể nói chắc chắn có hay không có suy tim nếu chỉ nhìn vào kết quả điện tim đơn thuần, nhưng cũng thấy được một vài bằng chứng của bệnh gây suy tim hoặc các biểu hiện rối loạn nhịp tim.
Chụp phim tim phổi có thể chỉ ra tình trạng tim to, tình trạng ứ nước trong phổi mặc dù cũng khó lòng chẩn đoán được suy tim.
9 nguyên nhân gây suy tim bạn cần cảnh giác
Ngày nay, siêu âm tim là xét nghiệm cơ bản, cho phép đo đạc kích thước buồng tim, phát hiện các bệnh lý van tim, đánh giá sức co bóp cơ tim. Thông thường mỗi lần làm siêu âm tim mất chừng 15 đến 60 phút.
Những kỹ thuật mới như chụp xạ hình cơ tim, chụp cản quang buồng tim… được áp dụng để đánh giá chính xác cũng như điều trị có hiệu quả nguyên nhân gây suy tim.

Phân số tống máu (EF tính bằng %) là chỉ số để đo phần trăm lượng máu được quả tim bóp (tống) ra khỏi buồng tim trong mỗi nhát bóp, thường trong khoảng 55 đến 70%. Bệnh nhân suy tim ứ huyết thường có EF giảm nhiều. Tuy vậy một con số EF đơn thuần không hề nói lên toàn cảnh của bệnh: một số người đã biểu hiện suy tim nặng nề khi EF mới giảm xuống 40%; song một số khác thậm chí lại chẳng biểu hiện gì ngay cả khi EF chỉ còn 20%. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân và diễn biến của suy tim.