Hiển thị các bài đăng có nhãn phình động mạch chủ ngực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phình động mạch chủ ngực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Làm thế nào để sống sót khi lên cơn đau tim một mình

Dấu hiệu đầu tiên nhận biết là cơn đau thắt ở trung tâm hoặc bên trái ngực, cần bình tĩnh uống một viên thuốc aspirin, gây áp lực lên tim, ho liên tục và cố gắng gọi cứu trợ.

Nhận biết nhanh dấu hiệu
Bạn có cơn đau quặn thắt ở trung tâm hoặc bên trái của ngực, đó là dấu hiệu đầu tiên của một cơn đau tim. Cơn đau thường kéo dài ít nhất 20 phút và nó sẽ lan tỏa phía bên trái cánh tay, cổ hoặc hàm.
Đổ mồ hôi quá nhiều
Đổ mồ hôi nhiều là dấu hiệu thứ hai không nên bỏ qua.
Gọi cứu trợ
Khi nhận thấy dấu hiệu của một cơn đau tim, hãy cố gắng gọi người thân và xe cấp cứu ngay lập tức.
Dùng thuốc aspirin
Các nghiên cứu đã cho thấy người lên cơn đau tim hãy uống một viên thuốc aspirin sẽ giúp cải thiện cơ hội sống sót.
Hít thở
Để sống sót khi lên cơn đau tim, bạn nhớ hãy hít thở sâu và cố gắng ho liên tục mạnh mẽ.
Áp lực lên tim
Gây áp lực lên tim bằng cách nhấn vào vùng ngực trái để khôi phục lại nhịp đập bình thường.
Ho
Trong trường hợp hiếm hoi khi nhịp tim rất chậm, ho có thể giúp phục hồi nhịp tim bình thường. Các chuyên gia nói rằng ho liên tục khi lên cơn đau tim có thể giúp bạn sống sót.


Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Nhiễm khuẩn họng miệng, coi chừng nguy cơ thấp tim

Tại Việt Nam, hiện nay, thấp tim vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh van tim. Thấp tim gây ra bởi các vi khuẩn thuộc nhóm liên cầu, đặc biệt sau viêm họng do liên cầu từ vài tuần đến vài tháng, dẫn đến tổn thương các cấu trúc van tim, tiến triển dần gây dày, co kéo, vôi hóa tổ chức van tim. Nhờ sự phát triển nhanh của nhiều loại kháng sinh, tỉ lệ thấp tim ngày nay đang có xu hướng giảm rõ rệt. Tuy nhiên tỉ lệ thấp tim ở Việt Nam còn cao.

Bản chất của bệnh thấp tim rất hay tái phát, đặc biệt trong thời kỳ thiếu nhi và thanh niên, mà mỗi lần tái phát làm cho bệnh tim có thể nặng lên các tổn thương van tim tiến triển nhanh hơn. Tuy nhiên, thấp tim có thể phòng ngừa được bằng cách giáo dục tốt chế độ vệ sinh phòng bệnh, khi có viêm họng do liên cầu cần điều trị sớm, đầy đủ, và đặc biệt, khi phát hiện bị thấp tim cần được quản lý theo dõi chặt chẽ tại các cơ sở y tế và tiêm phòng thấp đầy đủ. Tiêm phòng thấp là biện pháp tốt nhất để phòng ngừa thấp tim tái phát, hạn chế tiến triển của bệnh van tim do thấp.

Thuốc dùng để tiêm phòng thấp là penicillin tác dụng chậm. Cũng giống như các kháng sinh khác, tác dụng không mong muốn của thuốc có thể gặp đầu tiên là phản ứng dị ứng với thuốc biểu hiện ở các mức độ từ nhẹ như mẩn ngứa, nổi mề đay, nặng hơn có thể có biểu hiện shock phản vệ. Trước khi tiêm phòng thấp, tất cả các bệnh nhân đều được thử phản ứng trước, nhằm làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra phản ứng không mong muốn với thuốc. Một số tác dụng phụ khác cũng có thể gặp là đau vị trí tiêm, do tiêm không đúng kĩ thuật, chảy máu, hay tiêm vào thần kinh ngồi (ít gặp).

Thời gian tiêm phòng thấp

Bắt đầu tiêm phòng thấp ngay sau khi điều trị đợt thấp tim cấp.

Thời gian tiêm dự phòng thấp thay đổi tuỳ theo tình trạng bệnh: Thấp tim lần đầu hay tái phát nhiều lần, bệnh thấp tim có ảnh hưởng đến tim và các van tim hay chưa, mức độ ảnh hưởng đến van tim như thế nào…

Thông thường thời gian phòng thấp tùy theo từng bệnh nhân cụ thể:

+ Thấp tim có viêm cơ tim, để lại di chứng van tim: Dự phòng ít nhất đến 40 tuổi, có thể suốt đời.

+ Thấp tim có viêm tim nhưng chưa để lại di chứng van tim: ít nhất 10 năm cho đến tuổi trưởng thành, một số trường hợp lâu hơn.

+ Thấp tim không có viêm tim: phòng liên tục trong 5 năm, nếu trong 5 năm có 1 lần tái phát thì phòng đến 21 tuổi hoặc lâu hơn tùy trường hợp.




Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Ăn gì để giữ huyết áp ổn định?

Tăng huyết áp là bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau: tim mạch, nội tiết, thần kinh thực vật, thận... Đặc biệt còn có thể đơn thuần do nguyên nhân ăn uống như ở người quá thừa protein, ăn quá nhiều mỡ động vật nhất là thực phẩm có nhiều cholesterol. Hoặc người ăn uống các chất quá dư thừa, cơ thể ít vận động, người béo phì... Hay nói đúng hơn thói quen ăn uống là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới huyết áp, đặc biệt là người tăng huyết áp thì chế độ ăn uống càng ảnh hưởng lớn.
Dưới đây là những điểm cần chú ý trong ăn uống hằng ngày để giữ huyết áp luôn ổn định:
Tránh ăn nhiều đạm (protein): Cần hạn chế không ăn nhiều. Có thể ăn với mức độ bình thường 0,5-1g/kg trọng lượng cơ thể (người 50kg dùng khoảng nửa lạng thịt trong ngày). Nên chọn các loại thịt trắng (gà, vịt...) tốt hơn các loại thịt đỏ (trâu, bò...) không nên ăn các loại thịt tẩm ướp nhiều gia vị như lạp sườn, xúc xích, dăm bông... Không nên dùng thịt gia súc, gia cầm non vì có nhiều nuclêôprotein khi tiêu hóa sinh ra các chất purin, axit uric có hại cho gan thận, tim mạch; phủ tạng gia súc, gia cầm như gan, óc, bồ dục... cũng không nên dùng vì có nhiều nuclêôprotein. Có thể ăn đậu đỗ để bổ sung lượng đạm thực vật cho cơ thể.
Ăn gì để giữ huyết áp ổn định?
Tránh ăn nhiều chất béo với người bệnh tăng huyết áp.
Tránh ăn nhiều chất béo (lipit): Cần ăn giảm nhất là người béo phì. Không ăn quá 30g lipit/ngày, trong đó nên ăn một nửa là dầu thực vật, một nửa là mỡ động vật.
Giảm ăn chất đường bột (gluxit): Chất đường bột nói chung không có hại cho người bệnh tăng huyết áp nhưng nếu ăn nhiều cũng dễ sinh ra béo phì, không tốt cho người tăng huyết áp, vì vậy cũng cần giảm bớt.
Giảm ăn muối: Ăn quá nhiều muối hoặc gia vị chứa muối không tốt cho ngườităng huyết áp. Người khỏe mạnh mỗi ngày ăn 5-6g muối, người tăng huyết áp nên ăn ở mức 3-4g muối mỗi ngày. Nên tránh ăn dưa muối, cá muối, thịt muối. Người tăng huyết áp có biến chứng tim, phù nhiều hoặc tăng huyết áp ác tính do u thượng thận hoặc căng thẳng thần kinh và tăng huyết áp ở người trẻ mà không tìm thấy nguyên nhân thì càng cần hạn chế muối.
Ăn gì để giữ huyết áp ổn định?
Ăn gì để giữ huyết áp ổn định?
Mộc nhĩ và rau cần tây chứa nhiều canxi giúp phòng ngừa tăng huyết áp, tránh bị xơ cứng động mạch.
Ngoài ra, người tăng huyết áp không nên dùng các chất kích thích thần kinh mạnh như: rượu, cà phê, nước trà đặc, thuốc lá...
Ăn nhiều rau quả tươi: Rau củ quả tươi như khoai tây, chuối, đu đủ hàm chứa rất nhiều kali, có tác dụng thải loại natri ra ngoài. Trong rau xanh có nhiều vitamin K, và vitamin C có tác dụng tăng lượng ion canxi trong máu, chống đông tụ máu, giúp chống xơ cứng động mạch. Trong các loại quả như quýt, táo,... có nhiều vitamin P, C... giúp hạ cholesterol trong máu, tăng cường sức bền thành mạch giúp phòng ngừa xuất huyết não. Trong các loại quả còn chứa nhiều vitamin E có tác dụng tăng cường công năng của thành mạch, giảm kết tập tiểu cầu, giảm thiểu nhu cầu cung cấp ôxy của cơ thể nên rất thích hợp với người bệnh tăng huyết áp kèm bệnh về van tim... Vì vậy, nên ăn nhiều rau rất có lợi cho cơ thể, vì nó ổn định huyết áp.
Ăn nhiều thực phẩm chứa canxi và i-ốt: Người Việt Nam nói chung không được hấp thu đủ lượng canxi cần thiết, thiếu canxi cũng ảnh hưởng đến tăng huyết áp nên cần ưu tiên lựa chọn thực phẩm giàu canxi như sữa (mỗi ngày uống khoảng 250ml sữa hoặc sữa đậu nành) sẽ bổ sung lượng canxi thiếu hụt hoặc lựa chọn các loại rau như rau cải, rau cần tây, nấm, mộc nhĩ... cũng có lượng canxi lớn. Người tăng huyết áp cũng nên ăn nhiều đồ biển vì chứa nhiều i-ốt như rau câu, sứa biển, tảo biển, tôm tép để tránh bị xơ cứng động mạch, phòng ngừa tăng huyết áp.

Lưu ý: người tăng huyết áp cần phải kiểm soát huyết áp bằng cách tuân thủ tuyệt đối dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Song, riêng ăn uống kiêng khem cũng là điều quan trọng, chớ ăn quá nhiều chất dinh dưỡng sẽ bị thừa nhưng cũng không ăn quá ít sẽ không đủ lượng, gây ảnh hưởng xấu cho cơ thể. Cần ăn vừa đủ cả chất đạm, chất béo từ động vật và thực vật theo tỷ lệ hợp lý. Ưu tiên ăn cá, hạn chế ăn thịt

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Dấu hiệu trái tim bạn đang có vấn đề nghiêm trọng


dấu hiệu bệnh tim
Đau ngực là một dấu hiệu cho thấy tim đang gặp rắc rối
Sưng tấy
Khi chân và tay bỗng nhiên bị sưng bất thường thì nên đi kiểm tra các bệnh liên quan đến tim mạch. Sưng chân tay có thể do trái tim hoạt động chậm chạp, lưu lượng máu bị hạn chế và tích tụ trong tĩnh mạch làm cho nó sưng lên.
Vấn đề tình dục
Rối loạn cương dương ở nam giới hay gặp khó khăn với kích thích hoặc đạt cực khoái ở phụ nữ, có thể xuất phát từ vấn đề ở tim sắp xảy ra. Điều này là do động mạch bị thu hẹp hoặc xơ cứng dần làm hạn chế lưu lượng máu đến cơ quan sinh dục và cũng là một yếu tố gây đau tim và các hậu quả nghiêm trọng khác.
Sưng lợi
Nếu bạn bị sưng lợi, dễ đau và chảy máu chân răng, điều này cũng có thể là một triệu chứng của các vấn đề tim mạch. Sưng lợi, chảy máu thường xuyên là do tuần hoàn kém ở tim.
Phù
Nếu bạn thấy sưng ở bàn chân hoặc mắt cá chân hoặc ở tay, ngón tay, điều này có thể gây ra bởi phù, giữ nước trong cơ thể. Phù có thể là một dấu hiệu sớm của bệnh tim mạch hoặc suy tim.
Đau tức ngực
Đau ngực là một dấu hiệu cho thấy tim đang gặp rắc rối. Đau ngực xảy ra vào ban đêm hoặc ngay sau khi thức. Tốt nhất nên thực hiện điện tâm đồ để đảm bảo rằng trái tim đang hoạt động tốt.
Khó tiêu
Chứng khó tiêu có liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe khác. Nếu như loại trừ vấn đề khác đó mà chứng khó tiêu vẫn tiếp tục thì nên thực hiện điện tâm đồ. Các chuyên gia nói rằng, khi tim không bơm đủ máu, dạ dày và hệ tiêu hóa không thể hoạt động hiệu quả được.


Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Bà bầu tim cần lưu ý gì?

Ảnh hưởng đến người mẹ và thai nhi

Khi bị bệnh tim, người mẹ luôn thiếu 0xy và chất dinh dưỡng nên phôi thai kém phát triển trong tử cung, có thể làm sẩy thai hoặc thai chết lưu. Nếu thiếu oxy kéo dài dẫn đến suy thai.
Ngoài ra, các thuốc đang dùng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, đứa trẻ cũng có thể bị suy dinh dưỡng, bị tim bẩm sinh do di truyền hoặc giảm lượng máu tới thai do tình trạng suy tim của mẹ. Trẻ sinh ra dễ ốm yếu, chống đỡ kém với môi trường bên ngoài tử cung của người mẹ nên hay bị ngạt, dễ bị viêm phổi, nhiễm khuẩn, suy hô hấp,...
Bà bầu tim cần lưu ý gì?
Đối với người mẹ, việc có thai thường làm cho bệnh nặng lên, nếu không được theo dõi chặt chẽ và điều trị tốt, có thể xuất hiện những biến chứng như: rối loạn nhịp tim, huyết khối, tai biến mạch não, suy tim, phù phổi cấp, mất máu sau sinh,…
Người bệnh cần làm gì?
Bệnh tim mạch có nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau. Với nhiều bệnh nhân bị bệnh tim nhẹ ít ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người mẹ khi có thai và sinh đẻ.
Nhưng đối với bệnh nhân có bệnh tim nặng, chưa được điều trị tốt trước khi mang thai mà vẫn mang thai thì có thể làm tăng nguy cơ tử vong cho cả mẹ và con.
Với kỹ thuật phát hiện và điều trị tiên tiến hiện nay có thể giúp nhiều phụ nữ có thể mang thai và sinh con an toàn. Nhưng người bị bệnh tim muốn có thai hay không, hoặc khi đã có thai thì nên giữ thai để sinh đẻ hay không cần phải được các thầy thuốc sản khoa và tim mạch khám, tư vấn, theo dõi cẩn thận.
Việc khám và tư vấn bác sĩ chuyên khoa tim mạch khi muốn có thai là rất cần thiết nhằm đánh giá tình trạng bệnh, mức độ an toàn khi mang thai, nguy cơ đối với mẹ và thai nhi,...
Trong quá trình mang thai, thai phụ có bệnh tim cần lưu ý tới chế độ làm việc, nghỉ ngơi và dinh dưỡng có lợi cho hệ tim mạch theo lời khuyên của bác sĩ.
Trong suốt thai kỳ phải luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc sản khoa và tim mạch để điều trị, theo dõi phát hiện nguy cơ tai biến để xử trí kịp thời. Tùy theo tình trạng bệnh của sản phụ, sẽ có những chế độ theo dõi đặc biệt khi sản phụ chuyển dạ và sinh con.


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Đau ngực do viêm thần kinh liên sườn

Đau ngực là một triệu chứng của khá nhiều bệnh, vì trong lồng ngực chứa nhiều cơ quan quan trọng cho sự sống của con người như: tim, phổi, trung thất và các mạch máu lớn nhỏ.

Do đó, tùy theo tính chất của triệu chứng đau và các triệu chứng khác đi kèm được phát hiện khi thăm khám bệnh nhân mà người thầy thuốc sẽ có một chẩn đoán gần chính xác. Các chẩn đoán này sẽ được kiểm chứng và khẳng định bằng các xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh như: điện tim, siêu âm, X-quang ngực, CT-scan ngực hay MRI ngực…
Thông thường đau ngực nếu kể từ ngoài vào ta phải kể đến đau cơ vùng ngực thường xảy ra ở những bệnh nhân trẻ tập thể hình hay chơi tạ, bóng chuyền, bóng rổ… nếu không bị chấn thương trực tiếp thì các triệu chứng đau thường lan tỏa theo nhóm cơ và thường hết sau vài ngày nghỉ ngơi.
Một bệnh khác cũng hay đưa đến đau ngực đó là đau dây thần kinh liên sườn. Dây thần kinh liên sườn có thể bị chấn thương, bị viêm, bị chèn ép, do virút như: bệnh zona thần kinh. Bệnh nhân zona đau và nổi mụn nước kèm theo ngứa dọc theo dây thần kinh liên sườn, bệnh có thể có kèm theo sốt và rất đau dân gian thường gọi là bệnh giời leo, nếu không điều trị tốt bệnh sẽ để lại di chứng nặng nề, có nghĩa là đau nhiều rất khó chịu, nhiều người bị rơi vào tình trạng trầm cảm. Bệnh zona thần kinh thường xảy ra trên những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch như: lao phổi, đái tháo đường, ung thư, hóa trị, HIV, già yếu, sử dụng corticoid…).
Đau ngực do viêm thần kinh liên sườn